Câu chuyện về “đại chiến
Sòng Sơn” không phải là mới lạ, nó đã được biết đến từ lâu và được giới nghiên
cứu đánh giá, mổ xẻ kỹ càng về nội dung, giá trị, … sử dụng câu chuyện này xem
ra chẳng phải điều gì mới lạ. Thủ đoạn chủ đạo ở đây của đồng thầy là cho rằng “đạo
Mẫu” là “quốc giáo” của Việt Nam, là “cứu cánh tâm linh” của dân tộc, vị trí của
Phật giáo và Đạo giáo hiện nay chỉ là dựa hơi “đạo Mẫu”, chứ những tôn giáo ngoại
lai ấy hoàn toàn không đáng để có được vị trí trong lòng dân tộc này. Cái gốc
tư tưởng của quan điểm này chính là tinh thần tự nhục “Ta thấy nhân thế đang hiểu sai và hạ thấp
danh dự bôi nhọ Mẫu của tín ngưỡng đạo nhà.”. Do không hề hiểu ý nghĩa của câu chuyện,
nên lúc nào cũng nơm nớp, sợ người ta nói xấu, hạ bệ mình. Nguyên nhân trực tiếp
tác giả cũng “tự khai”, xem ra đó cũng là sự “ăn miếng trả miếng” với “mấy tay sư bới móc như vụ chùa Ba Vàng”. Chính vì tư tưởng chỉ đạo sai lầm mà con mắt
ông đồng chỉ quẩn quanh quán chiếu sự việc được đến vậy và kết quả chỉ là sự
thù hằn mà thôi.
Vậy, qua câu chuyện “Sòng
Sơn đại chiến” ta cần thấy được điều gì? Để hiểu được nó, điều đầu tiên ta cần
biết ai là người đã viết tác phẩm trên. Tài liệu “Tín ngưỡng Tam Tứ phủ và thờ Thánh
Việt Nam” của TS. Bùi Hùng Thắng có dẫn câu chuyện với cái kết Mẫu được Phật tổ
cứu với chú thích lại “phần truyện trên
là huyền tích về công chúa Liễu Hạnh truyền miệng trong giáo chúng theo phái Nội
Đạo”. Còn một câu chuyện nữa là Mẫu được Phật bà Quan Âm cứu do Phạm Đình Hổ
ghi lại trong “Tang thương ngẫu lục”. về 2 bản này ta hãy thử trả lời câu hỏi:
nếu câu chuyện trên là do Nội đạo tràng sáng tác thì sao họ không tự lấy giáo
chủ của mình làm người đứng ra cứu Mẫu cho thêm phần oai linh? Ví dụ như Thái
Thượng, hay Thượng không Phật bay đến cứu Mẫu, và cái kết chuyển thành, Quan Thánh
đưa cho Mẫu một bộ đồ lam, giày vải, và Mẫu trở thành Đạo cô chứ không phải trở
thành ni cô? Hay đơn giản hơn là kết câu chuyện ở chỗ Mẫu bị Quan Thánh khuất
phục và quy hàng? Còn về tác giả “Tang thương ngẫu lục” ông là một nhà Nho,
nhưng không phải một nhà Nho ngoan đạo và chính thống của giai cấp phong kiến.
bằng chứng là thái độ phê phán kín đáo với nhiều mặt của chế độ phong kiến
đương thời trong nhiều câu chuyện khác ngay trong chính tác phẩm “Tang thương
ngẫu lục”. Ông còn là người nhiều lần xướng hoạ ăn ý với Hồ Xuân Hương, kẻ thù
không đội trời chung với hủ Nho và Phong kiến đương thời. Nếu như vậy thì sao
ông có thể là người “tải đạo”, người tuyên truyền cho quan điểm của “mấy Nho sinh thủ cựu truyền thống và trọng
nam khinh nữ” được? Và nếu câu chuyện
trên do ngoại đạo, có ác ý bày ra thì sao nó lại được lưu trữ trong “Vân Hương Thánh
mẫu tam vị đại từ tôn” tàng bản tại đền Sòng? Vậy tác giả câu chuyện thật sự là
ai? Cách hiểu sao về nó mới thật sự có ý nghĩa?
Câu trả lời xác đáng cho
câu hỏi này chính là: đây là sáng tác của quần chúng nhân dân. Tại sao khẳng định
vậy? Nếu nhìn lại 1 cách có hệ thống, ta thấy cả một hệ thống những văn bản
cùng loại, cùng hoặc gần thời kỳ với “Tang thương ngẫu lục”: Lĩnh Nam Chích
Quái, Việt Điện U Linh, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả, … mà đặc điểm của
chúng là hầu hết là những truyện dân gian nhưng thời điểm xuất hiện khá muộn,
được nhiều tác giả bác học đương thời sưu tầm, thuật soạn và đều được xếp chung
vào hàng Văn học trung đại (Sổ tay Ngữ văn 6 – Nguyễn Xuân Lạc – Nxb. Giáo dục).
Đây là một khoảng trống của ngành Văn học dân gian với quan điểm “chỉ nghiên cứu
thần thoại chứ không nghiên cứu tiên thoại, Phật thoại” – tức là chỉ nghiên cứu
những tác phẩm ra đời vào thì kì khuyết sử, thượng cổ, … mà thực sự tác giả là
quần chúng nhân dân, thể hiện cái nhìn, quan điểm của mình về vũ trụ, về sự
sáng thế, … chưa có sự ảnh hưởng của tư tưởng tôn giáo (Giáo trình Lịch sử Văn
học Việt Nam – tập I – Văn học dân gian. Nhiều tác giả (GS. Bùi Văn Nguyên,
GS.Hoàng Tiến Tựu, …) – Nxb. Giáo dục. 1978). Còn lại, những tác phẩm có thể do
nhân dân sáng tác song không thoả những yêu cầu trên vẫn còn đang bỏ ngỏ, chưa
có một phân ngành rõ ràng lấy chúng làm đối tượng nghiên cứu. Tuy vậy, phải khẳng
định rằng, ngay cả bản thân tư tưởng tôn giáo cũng là một bộ phận của ý thức
dân tộc, phản ánh những tư tưởng, suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng và khát khao của
quần chúng nhân dân, phản ánh thực tại khách quan và bối cảnh lịch sử. Vai trò
của của quần chúng nhân dân với tiến trình lịch sử là vô cùng vĩ đại. Một người,
hai người dân, … thì có thể bị dẫn dắt, định hướng, bị che mắt, song toàn thể
quần chúng nhân dân với thời gian lịch sử lâu dài thì những gì còn lại chính là
“bia miệng”, chính là thái độ đánh giá, phán xét của nhân dân, của lịch sử. sự
phán xét ấy là công minh nhất, chỉ có thể tiếp thu chứ không thể đi ngược. Với
câu chuyện “Sòng Sơn đại chiến” cũng vậy, cho dù có người cố tạo ra nó đi chăng
nữa (chứ chưa nói đến chuyện không thể chứng minh được cái “thuyết âm mưu” ấy),
Do điều kiện lịch sử, mà không phải chuyện gì cũng có thể “hai năm rõ mười”, mà
nhiều khi phải “chân sự ẩn”, “giả ngữ tồn”, “giả ngữ thôn ngôn”, “mượn gió bẻ
măng”, “chỉ trăng nói quế”, … thì nội dung câu chuyện cũng cần phải được hiểu
là thái độ của nhân dân với các tôn giáo, tín ngưỡng và bối cảnh lịch sử đương
thời. Chính vì không hiểu lí do đó mà tác giả thấy nhưng không hiểu nhiều chi
tiết trong câu chuyện như “… đoạn
cuối, rằng Mẫu đã được Phật Tổ cứu, hay Mẫu được Nam hải Quan Thế Âm cứu.....
trong khi tôn
chỉ của đạo Phật là tự giác tự tại tự cứu chứ Phật thì không trực tiếp cứu ai,
ngay cả dòng họ Thích của Phật, Phật cũng chỉ truyền đạo chứ không cứu.”. tác giả không hiểu vấn đề là, do nhân dân
là người sáng tác nên câu chuyện, nên Đức Phật trong câu chuyện cũng là Đức Phật
với quan niệm của nhân dân – thần thông, từ bi, luôn giúp đỡ, cứu người hoạn nạn.
Mối quan hệ giữa Mẫu Liễu và Nội Ðạo tràng phán ánh sự xung
đột trong các
nhóm phái của Đạo giáo phù thuỷ ở Việt Nam, là quá trình chuyển hóa để hình
thành
một dòng Ðạo mới. Những lần
“sinh – hóa – sinh” tại đất Nam Định của Mẫu Liễu Hạnh trong hơn một thê kỷ đã
cho thấy sự “đấu tranh “ trong chính nhóm phái Ðạo giáo phù thuỷ này, với
khuynh hướng dung nạp thêm các yêu tố thần tiên (như huyền tích về thân thế Mẫu
Liễu Hạnh,...) và phản ánh nhu câu “kiểm nghiệm” ở ngoài vùng đất phát sinh của
nó. Thưc chẩt, những gi ẩn chứa bên trong sự hành đạo của Thánh Liễu mới là xu
hướng chính của nó, được thể hiện trong những truyền thuyết về những chuyến du
hành, những chuyến “tiêu diêu” của Thánh Liễu khắp đất Việt, từ Lạng Sơn, Cao Bằng
vê Hà Nội, vào Thanh Hóa (mà sau này các nơi Bà đến đều có đên thờ ở mười huyện).
Theo truyền thuyết, những nơi này đêu là những danh thắng, những nơi sơn thuỷ hữu
tình và Bà thường thích gặp gỡ với những “tao nhân mặc khách” thích xướng họ
thơ phú, tất cả những biểu hiện này đều chỉ ra phong cách của những đạo sĩ thần
tiên. Thế giới quyền năng của Mẫu Liễu
đã cho thấy ưu thế của yếu tố thần tiên trong xu huớng phát triển Đạo giáo việt
Nam từ thể kỷ XVI – XVII trở đi. Nó đã được dung hợp trong một nhóm phái
Ðạo giáo phù thuỷ. Sự thích ứng này đã làm cho tín ngưỡng thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh định hình rõ, phát triển
và trở thành một dòng Đạo. Đó còn là một “tiêu chuẩn” để sau này Thánh Mẫu
được chọn là một trong tứ bât tử của tín ngưỡng Việt. Như chúng ta đã biết, “Lên
đồng” hay Shaman giáo là một hình thức tín ngưỡng sơ khai, xuất hiện vào thời kỳ
tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, trước ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp;
còn tín ngưỡng Tam tứ phủ lại là nấc thang phát triển cao hơn của nó trong xã hội
có giai cấp. Và dấu mốc đầu tiên cho chặng đuờng thứ hai của quá trình hình
thành Tín ngưỡng Tam Tứ phủ, băt đâu từ thế kỷ XVII chính là thời kỳ Mẫu Liễu Hạnh
ra đời. bộ mặt lúc này của Tín ngưỡng Tam tứ phủ lúc này mới chính thức đầy đủ
như ta thấy ngày hôm nay. (lại nói thêm, tức là không có chuyện “lịch sử đạo Mẫu
trải 5000 năm với tín ngưỡng nữ thần” – hai tín ngưỡng hoàn toàn phân biệt,
không thể đánh tráo khái niệm)
Cuộc
chiến Sòng Sơn đã phán ánh một khía cạnh khác của dòng phái Đạo giáo phù thuỷ
Việt Nam từ thể kỷ XVII trở đi là, dù được bắt đầu phát triển trở lại nhưng nếu
muốn tồn tại, phái này phái “núp bóng” Phật
giáo. Theo truyền thuyết, “cuộc chiến” này diễn ra là vì Liễu Hạnh đã
gây tai họa cho những người dân Thanh Hóa, chuyện được tâu lên nhà vua và Tam Thánh
của Nội Ðạo Tràng đã được cử đến để diệt trừ. Cuộc Thánh chiến này là một sự “cân
tài, cân sức” giữa những giữa những đạo
sĩ phù thuỷ. Phép “lục trí thần thông” của Liễu Hạnh đã bị phép thuật “thượng
không” của Tam Thánh hóa giá, Liễu Hạnh thua và bị bắt giải về triều đình. Cũng
theo Vân Hương Thánh Mẫu tam vị đại từ tôn thì, nguyên nhân Mẫu Liễu thua các
pháp sư Nội Đạo Tràng là bới lúc đó bà chưa được thụ pháp của nhà Phật. Điều
này khẳng định lại một lần nữa vị trí của Phật giáo trong tâm tưởng nhân gian. “Tam
thiên thế giới Phật tại ngoại”, Phật là người đứng ra ngoài luân hồi là tối thượng,
đường lối từ bi, giải thoát của đạo Phật là đường lối duy nhất đúng cho mọi tôn
giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.
Mối quan hệ giữa Mẫu Liễu và Nội Ðạo Tràng còn là sự phản
chiếu đời sống
xã hội, đời sống tư tướng và tình cảm của người Việt thê kỷ XVII. Đó là những
xung đột về xã hội – chính trị được phản ánh qua truyền thuyết về cuộc chiến
Sòng Sơn giữa các nam Thánh Nội Ðao Tràng với nữ Thánh Liễu Hạnh, là sự phản
kháng của xã hội đối với triều đình bất tài, không thể đem lại cuộc sông yên
lành, hạnh phúc cho người dân. Đây cũng là sự phản kháng, sự đả kích tập đoàn
thống trị của chúa Trịnh, được thể hiện qua sự thất bại của viên quan Trịnh
Hoàng Thúc do chúa Trịnh cử đi đánh Mẫu Liễu Hạnh trên đèo Ba Dội (Bỉm Sơn), đã
được kê trong bản phả Vân Hương Thánh Mâu tam vị đại từ tôn của phủ Sòng. Và
nêu theo cách nói ngày nay thì cuộc chiên Sòng Sơn hay sự đối kháng giữa các
nam pháp sư – tiên nữ Liễu Hạnh và chiến thắng cuối cùng của Bà (được Phật Quan
Âm cứu và truyền tiếp đạo pháp, được đựng đên thờ, làm một nữ thần ở vị trí tột
đinh – Thánh Mẫu) cũng là một hình thức đâu tranh cho sự bình đẳng giới trong “lãnh
địa “ thần quyền. Dường như, dòng đạo này dần trở thành Đạo của những người phụ
nữ. Theo họ, nó có thể đem lại quyền lực cho phụ nữ (dù chỉ ở thế giới tinh thần)
và số lượng các nữ “tín đồ” của Tín ngưỡng Tam Tử Phủ ngày một tăng đã nói lên
điều đó. Đây là lúc tôn giáo tín ngưỡng thực hiện chức năng “thuốc phiện” như Marx
đã khẳng định. Câu chuyện đại chiến Sòng Sơn, ở khía cạnh này có ý nghĩa như
tác phẩm “Tây du ký” hay những câu chuyện về “Tế Điên hoạt Phật”. Tề Thiên là đại
biểu của thủ lĩnh nông dân, không thể chiến thắng được pháp luật – cương thường
Phong kiến (mà đại biểu là Phật tổ, chiếc vòng kim cô của Quan Âm). Tuy nhiên
Ngộ Không vẫn là “Đại Thánh” không sợ ai, thần thông tự tại.
Câu chuyện “Sòng Sơn đại chiến” còn phản ánh sự hạn chế của phái Nội Đạo
tràng. Mẫu Liễu Hạnh tuy thua và bị bắt giải về triều đình, nhưng điều kỳ lạ ở
đây là sau đó, ở Thanh Hóa đã có
tới 48 đền, phủ thờ Bà (được “thống kê” vào thời Lê Cảnh Trị, 1663 – 1671), có
lẽ cũng không kém so với Nam Định – nơi sinh thành của Thánh Mẫu. Còn phái Nội
Đạo Tràng đã từng có hàng ngàn môn sinh Ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hưng Yên và Hải Dương, có hẳn trường dạy
hành đạo ở các nơi này, vậy tại sao sau cuộc chiên Sòng Sơn, nhóm phái này chiến thắng mà lại không tiếp tục phát triển được
để rồi sau đó dần thu hẹp lãnh địa. Không gian các tỉnh miền Bắc Việt Nam đã dần
trở thành không gian của các đền, phủ thờ Mâu Liễu Từ các nguồn sử liệu, chúng ta đều
biết, khi xảy ra loạn phân tranh của hai tập đoàn phong kiểu Lê – Trịnh trên đất
Bắc Việt Nam từ thể kỷ XVI rồi sau đó là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, sự
mất ổn định cả về chính trị lẫn kinh tế đã đưa lại vô vàn khó khăn và tạo nên sự
mất ổn định cho cuộc sống của người dân, cho từng thân phận. Sự phán hóa và rối
loạn trong xã hội với những oan trái, bất công, những gánh nặng của cuộc sống
đã vượt ra ngoài sức gánh vác của con người. Trong hoàn cảnh đó giúp họ có thể
vượt qua được chính là niềm tin vê quyền năng độ thế của các thần Thánh hay một
lực lượng siêu nhiên nào đó. Lúc này, dù tiếng tăm, pháp thuật “cao tay” của
các pháp sư Nội Ðạo Tràng cũng chỉ giải quyết được về mặt tâm linh các vấn đê bệnh
tật, thiên tai, dịch nạn (như Tang
thương ngẫu lục đã chép), còn giải
quyêt các vấn đề lớn của xã hội
thì “nội lực” của họ lại không đạt tới được. Cùng lúc này, trong đời sống tâm
linh của người dân, niêm tin về quyên
năng của Mẫu Liễu bắt đầu tăng thêm do có thêm sự ủng hộ của Phật giáo
(được phản ánh trong truyền thuyết vê sự thụ pháp Phật của Mẫu Liễu Hạnh sau cuộc
chiến Sòng Sơn). Theo tinh thần Phật giáo, Mẫu Liễu có thể thấu hiểu nỗi khổ của
người dân với tâm lòng Bao dung, độ lượng và nhân từ. Quyền năng của Bà dường
như ngang cùng Phật Bà Quan Âm, có thể cứu khổ cứu nạn cho dân. Rõ ràng, để cầu
ước cho cuộc sống mới tốt hơn thì một thần tượng văn hoá mới cần được ra đời để
đáp ứng điều đó, sự ngưỡng mộ Liễu Hạnh đã phát xuất từ chính mong mỏi này của
họ. Đồng thời hình tượng về vị Thánh mới này lại rất phù hợp với ước vọng vốn ẩn
sâu trong tiềm thức của người Việt về quyền năng vô hạn của các nữ thần. Tín
ngưỡng thờ nữ thần, thờ mẹ vốn có từ trước, đã là một sức mạnh ẩn tàng cho các
sáng tạo thần tượng, lúc này có dịp bộc lộ và thực hành trong đời sống tâm
linh. Chinh vì thế mà ngay từ cuối cuộc chiến Sòng Sơn, dù cho có sự nghiêm khắc
của các pháp sư, nhưng Mẫu Liễu Hạnh vẫn không bị diệt trừ mà lại được Phật
Quan Âm cứu giúp, truyền thêm đạo pháp để cứu dân giúp đời và rồi sau đó đền thờ
bà mọc lên khắp nơi. Từ sự thất bại của nữ Thánh Liễu Hạnh trước các nam Thánh
Nội Đạo Tràng lại đem đến một chiến thắng mới cho Bà. Chính vì những điều trên.
Liễu Hạnh đã trở thành Thánh Mẫu và điều này còn cho thấy sức mạnh tính nữ
trong văn hóa tâm linh Việt.
Qua cuộc Thánh chiến Sòng Sơn ta còn thấy sự bao dung, độ lượng,
sự dung hòa trong văn hóa Việt được thể hiện trong đời sống văn hóa tâm lỉnh.
Đó là sự phối thờ Mẫu Liễu với Tam Thánh của Nội
Ðạo Tràng ở nhiều điện thờ Mẫu Liễu cũng như trong hậu cung thờ tam Thánh của
ngôi chùa tổ Nội Ðạo Tràng Ở Thanh Hóa. Người dân ở đây đã đặt ban thờ Mẫu Liễu
bên trái ban thờ tổ Nội Đạo Tràng trong hậu cung chùa Mậu Xương (Quảng Xương).
Cũng với tinh thần trên, trong hệ thống di tích ở Phủ Các (xã Thành Vân, huyện
Thạch Thành) có ngôi đền Quan Giám sát đứng đối diện qua suối Cá thần và vuông
góc với đên Mẫu chính là nơi thờ Tam Thánh của Nội Ðạo Tràng, trên ban thờ là
ba chiếc ngai và ba pho tượng Thánh. Thầy cúng và nhiều người cao tuổi ở Mậu
Xương, An Ðông (Quảng Xương) kể rằng, ở điện thờ của Phủ Sòng (Bỉm Sơn) một trong ngũ vị tôn ông cũng là Thánh
của Nội Đạo Tràng, ngài làm quan Giám sát. điện thờ của phủ Sòng cũ bị
phá tan từ sau năm 1945, đến 1998 mới bắt đầu được xây lại và điện thờ đã được
bố trí giống với ớ Phủ Dày. Dù vậy, lời các cụ ở Quảng Xương vẫn có độ tin cậy
bởi qua so sánh với điện thờ ở Phố Cát, điện thờ ở Phủ Sòng chắc cũng vậy. Tuy
là hai nơi nhưng là một, Phủ Ngoài (Phủ Các thuôc hệ thống thờ tự. Cá hai Phủ
đêu tô chức cùng ngày hội Mẫu, theo lệ xưa là từ 15 đến 28 tháng Hai (âm lịch)
nhưng nay chỉ còn trong các ngày 26 – 28 tháng 2. Hai phủ cách nhau 35 km, đều
năm trên trục đường “thiên lý” quan trọng là xứ Thanh, nó nối mạch giao thông
và giao thương với đất Bắc cũng như với đất Nam. Đồng thời đây cũng là con
đường của hành trình Mẫu Liễu Hạnh vào Thanh Hóa (như Ngọc phả đã thuật vê những lần hiển linh của Bà trên đèo Ba Dội,
Phố Cát...). Ngoài ra, chúng ta còn có thể đi sâu nghiên cứu thần điện (mở
rộng) của hai phủ Sòng Sơn và phố Cát để thấy những khác biệt, nó đã tạo thêm
sự hấp dẫn của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu. Chẳng hạn, Phủ Sòng mang nhiều yểu tố “thuỷ”
hơn khi được biết thần chủ bản đền là Cô Chín giếng, cùng sự phối thờ với thần
biển Ðại Càn quốc gia Nam Hải và Bát Hải đại vương (xưa có miếu thờ ớ thôn Cẩm
La, thành phố Bỉm Sơn). Phủ Cát lại nghiêng vê yêu tô “thượng ngàn” hơn vì thần chủ bản đên là bà Chúa Mường
(thần Rừng, cũng có miếu thờ
riêng ớ xã Thành Vân, huyện Thạch Thành). Các tín đồ cứ truyền tin cho nhau
rằng, phải đi cả hai nơi mới là hoàn thiện cuộc lễ mặc dù họ vẫn nói với nhau
hai nơi này là một. Chính những
khác biệt này đã tao ra sự thu hút để các tín đồ đến với Mẫu Sòng– Phô Cát.
Tóm lại, cũng như “Tây Du Ký”, hay nhiều tác phẩm mang đề
tài tôn giáo khác, câu chuyện trên không phải là kinh điển tôn giáo, mà là tác
phẩm của tác giả dân gian phản ánh tư tưởng của họ. Đó là ý nghĩa toát ra từ
câu chuyện mà nhẽ ra một người hiểu đạo lý phải biết. nội dung ấy không ngờ lại
trở thành trò chơi chính trị, thành học thuyết âm mưu.
Trên nhiều mặt khác, tác giả cũng không làm người ta thuyết
phục.
Về mặt thuật ngữ, vô số thuật ngữ không chuẩn như: “Nội đạo giáo”, “Đạo giáo thần tiên Trung Quốc tu theo dòng Phù thuỷ” (thế là phái
thần tiên hay phù thuỷ?!), “đằng trong –
đằng ngoài”, “hoành dương”, … Tôn chỉ đạo Phật thì cho là “tự giác tự tại tự cứu chứ Phật thì không trực
tiếp cứu ai” (tôn chỉ ấy phải là
“tự giác, giác tha, tự độ, độ tha”, tự cứu mình, song cũng cứu giúp những người
khác. Khi dòng họ Thích Ca gặp nạn, Đức Phật 2 lần ra cứu, song đến lần thứ 3
thì ngài không hiện lên nữa, vì đó là nhân quả. nhân quả không hoá giải vì cả 2
lần dù Phật đã thị hiện ngăn cản mà vua nước láng giềng không tỉnh ngộ, chưa
buông hận thù). Lập luận thì phi logic, mâu thuẫn: trang trước khẳng định “đạo Giáo … chỉ dành cho người biết chữ có học
hay còn gọi là tầng lớp trên “,
đến đoạn sau lại khẳng định “phát
triển đối với hạng ít học”.
Luôn khẳng định, Nho giáo lo sợ, kì thị và cấm đoán Tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng lại
cho rằng “Thời đó nhà Lê (Một
triều đại độc tôn Nho giáo) rất trọng Đạo
Mẫu và tín Mẫu, tín chư Thánh”.
Đáng buồn cười hơn là chi tiết “Tiền Phật hậu Thánh”. Với cấu trúc ấy mà dám
nói là “xây nhà Mẫu kèm với xây dựng
chùa để lách luật”. Thật
ngông cuồng! “Tiền Mẫu hậu Phật” thì may ra nghe còn có lí.
Tác giả cũng không hề có
cái nhìn khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể. Con mắt nhìn mang tính phi lịch
sử, như một người từ đâu đâu nhìn về quá khứ, chứ không hề đặt bản thân mình
vào bối cảnh lịch sử. tác giả luôn miệng gọi “tầng
lớp thống trị phong kiến thối nát …”, song không nhận ra được vấn đề,
trong tiến trình lịch sử, lúc này giai cấp phong kiến vẫn còn sứ mệnh lịch sử của
nó, không phân biệt rạch ròi được tính chất tiến bộ hay lạc hậu của các tập đoàn
phong kiến Lê sơ với Lê mạt, Lê – Trịnh, … mà gom hết lại theo kiểu cá mè một lứa.
Đó là chưa kể đến những luận chứng theo kiểu … giời ơi, không hiểu lấy từ đâu
ra. Căn cứ vào tài liệu nào mà tác giả khẳng định Nội đạo tràng “biến chất không còn tính tôn giáo, mà chỉ
còn tính chính trị và danh vọng tiền tài, tranh đấu, không giúp gì cho dân cho
nước mà đặc biệt lại dùng biện pháp cực đoan.”? Rồi cả chuyện nhà Minh trọng
Đạo giáo? Nhà Tống nhu nhược vì theo Phật giáo? (Trong khi luôn lập luận là do
nước ta lấy Tống Nho làm nền tảng nên Phật giáo bị thất sủng, thế chỗ đẻ ra Tống
Nho lại sùng Phật ư?). Rồi là “đạo Phật
không có tinh thần dân tộc, dẫn đến dân chúng yếu mềm”? (2 Triều Lý, Trần
đánh tan quân Tống, quân Mông – Nguyên quốc giáo là gì? Kito? Hồi giáo?). Còn
trong sách vở nào có nói “lúc trước quân
nhà Minh khi chiếm Việt Nam đã tịch thu hết kinh điển Phật giáo, đốt phá sách
kinh, bài xích tăng ni … nên dù có những bậc mộ đạo Phật đến đâu cũng không lấy
tài liệu mà nghiên cứu. Bởi thế, thời nhà Lê các tăng đồ lúc ấy kể cả khi nước
được độc lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo Phật thì chẳng qua cũng là một sự
tín ngưỡng theo hình thức dân giã.”. Giặc Minh tiêu huỷ chung cả nền văn
hoá dân tộc chứ không có tâm trí để ngồi lựa riêng “kinh điển Phật giáo, đốt phá sách kinh, bài xích tăng ni “. Thậm
chí họ còn mang các sách Đạo giạo, Phật giáo của Trung Quốc sang. Vì mục đích của
họ là làm lu mờ văn hoá Việt Nam, chứ không nhằm vào Phật giáo. Vì thế trước
tác Phật giáo Việt Nam như Thiền Tông Chỉ Nam,
Bình Ðẳng Sám Hối Khoa Văn của Trần Thái
Tông, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại Hương Hải Ấn
Thi Tập, Trúc Lâm Hậu Lục và Tăng Già Toái Sự của Trúc Lâm Ðiều Ngự và tám tác phẩm của Pháp Loa… thì thất
truyền, song Kinh sách Phật giáo thì không hề tuyệt diệt. Vì vậy làm gì có chuyện
“trong thời buổi đó không có thêm được một
vị cao tăng. Gần như thời gian đó tinh thần đạo Phật đã tuyệt diệt.”. Nếu
không có cao tăng xuất hiện thì sao có bức tượng vua Lê Hy Tông cõng Phật ở
chùa Hoè Nhai.
Thực sự, thời Lê tuy không ngăn cấm hoàn toàn đạo Phật,
nhưng với bộ luật Hồng Đức đạo Phật đã bị hạn chế với nhiều quy định như: Chưa
đủ 50 tuổi chưa được xuất gia, người trẻ tuổi chưa được ra chùa, … Vì thế chư vị
tổ sư đã khéo léo phương tiện, để duy trì lớp tín đồ trẻ bằng cách, còn nhỏ thì
bán khoán cho Đức ông, lớn làm con nhang của Mẫu, già thì làm vãi. Tuy nhiên,
đó là sự nương tựa lẫn nhau của cả 2 thực thể tín ngưỡng, là sự cộng sinh, chứ
không phải sự “kí sinh” một chiều. Bằng chứng là Phật giáo thật sự có chỗ đứng
vững chắc trong xã hội Việt Nam: Chuyết Công Hòa Thượng được ban tặng Đông Đô
Thủy Tổ; đám tang vua Lê được các học giả nước ngoài ghi lại thì chất Phật giáo
rất đậm nét như việc cúng trai chư tăng, việc linh cữu vua từ Hoàng cung ra bến
đò sông Hồng về Lăng cả đoạn đường dùng lụa tím để che, lụa này sau khi có tân
quân phải đem hết cho sư may áo; ở mức độ hoàng gia là các bà chúa phát tâm tu
hành thực sự chứ không phải là dạng tín chủ xây chùa hay bỏ tiền mua hậu … Hay
ngay phái An Đông Nội đạo tràng cũng thờ Dược Sư làm tổ, … Hoàn cảnh lịch sử đã
đưa Đạo Phật và tín ngưỡng tam tứ phủ và thờ Mẫu Việt Nam đến với nhau. Tuy
nhiên đấy không phải là nguyên nhân quan trọng nhất. Dù không có trang lịch sử ấy,
thì chắc chắn với cái tâm viên dung của dân tộc ta, chắc chắn hình dung tín ngưỡng
cũng sẽ hòa kết lại như vậy
Tôn giáo là phần quan trọng của kiến trúc thượng tầng trong
xã hội có giai cấp. Nó không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan của giai cấp cầm
quyền muốn nó tồn tại hay không tồn tại. Dù giai cấp cầm quyền có muốn xoá bỏ,
thì một khi các tiền đề xuất hiện tôn giáo vẫn còn, thì tôn giáo vẫn tồn tại.
Trong các triều Lê, Nguyễn, thời thuộc Pháp, thời kỳ Mỹ chiếm miềm Nam, dầu cố
sức đến đâu, cuối cùng giai cấp cầm quyền, vẫn phải thoả hiệp với các tôn giáo,
nhất là Phật giáo – tôn giáo có sức sống lâu bền trong lòng dân tộc.
Nếu như đã biết rằng: “nhân quả không chỉ riêng với người mà còn cả đạo nữa” vậy thì đã tu
thì tu cho trọn kiếp, chớ tạo ra nhiệp chướng mà mang tội. Thực sự, các tôn
giáo tín ngưỡng Việt Nam đều hoà quyện, gắn bó mật thiết với nhau, cùng nhau vượt
qua những thử thách, sóng gió của lịch sử, góp phần hình thành nên bộ mặt văn
hoá dân tộc ngày hôm nay. Đạo nào cũng cao quý, nhưng cao quý nhất là đạo đức.
Làm sao để thế nhân thấy những người có đạo là những người có đức, có công giữ
gìn nền văn hoá dân tộc thống nhất mà đa dạng. Đó mới là việc đồng quan, lính Thánh
cần làm.
0 Nhận xét