Đốt vàng mã, sớ văn, … có hay không? (tiếp P2)
e) Đánh giá từ phía tăng đoàn và chính sách của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Tại Trung Quốc, Không lâu sau khi có chiếu của vua Đường chỉ dụ cho nhân dân đốt mã cúng tổ tiên, chư tăng Phật giáo công kích dữ dội vì “đốt vàng mã vào ngày rằm tháng 7 đã làm mất đi ý nghĩa thật sự ngày lễ Vu Lan.”
Tại Việt Nam, từ Phong trào chấn hưng Phật giáo những năm 20, 30 của thế kỷ XX, đã có nhiều tăng sư lên tiếng phản đối tục đốt vàng mã.
Khi bàn về thái độ với vàng mã, trong bài Vàng mã nên bỏ hay nên để? đăng trên Đuốc Tuệ, số 188-189, năm 1942, Phạm Văn Phụng đã khẳng định: “Cái mục đích của Hội ta (Hội Phật giáo Bắc kỳ) là “Chấn hưng Phật giáo”, mà việc chấn hưng thì không gì bằng bài trừ những tập tục mê tín dị đoan nó đã làm đổ nát nền Phật giáo xứ ta. Ví bằng ta không tìm cách cấm giới những tục dị đoan ấy (vàng mã) đi thì ta không thể thực hành được công việc chấn hưng”.
Cố đại lão Hoà Thượng Thích Tố Liên (1903-1977) là một tu sĩ Phật giáo có nhiều công lao trong phong trào chấn hưng Phật giáo, đưa Phật giáo Việt Nam hòa nhập với Phật giáo Thế giới giai đoạn giữa thế kỷ 20. Năm 1951, ông là sáng lập viên kiêm Tổng thư ký của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức thống nhất Phật giáo toàn quốc, tiền thân của Giáo hội Phật giáo thống nhất Việt Nam sau này. Bài tuyên truyền bài trừ vàng mã “Nguyên nhân tục lệ đốt vàng mã” của hòa thượng Tố Liên được đăng trên báo Đuốc Tuệ (cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Bắc Kỳ thời trước Cách mạng tháng 8) số ra năm 1952. Bài viết ra đời trong bối cảnh phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ 20 của các cao tăng và cư sĩ trí thức với mục đích loại bỏ những đám mây mê tín dị đoan, làm cho bầu trời văn hóa Phật giáo Việt Nam trở nên trong sáng hơn.
Giáo hội Phật giáo ngày càng tỏ rõ quan điểm phản đối vàng mã, loại bỏ vàng mã khỏi các cơ sở tự viện và hoạt động lễ nghi. Hội đồng trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ra Công văn 031/CV-HĐTS nhằm “tăng cường nét đẹp văn hóa tại các cơ sở thờ tự Phật giáo”, “loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự”. Trong các văn bản hướng dẫn việc thực hiện cầu an hàng năm vào dịp tết nguyên đán cũng thường xuyên lặp lại nội dung này.
Hòa thượng Thích Gia Quang, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định tục đốt vàng mã không có trong Phật giáo Việt Nam. Việc ra văn bản là góp phần khẳng định một lần nữa quan điểm này, đồng thời mang tính chất nhắc nhở, thầy trụ trì các chùa phổ biến cho người dân hiểu rõ hơn, tường tận hơn để hạn chế và dần dần đi đến từ bỏ tục đốt vàng mã. Không đốt vàng mã trong các cơ sở thờ tự, tín ngưỡng thờ Phật đó cũng là chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. “Hiện, còn một bộ phận người nghèo đói, túng thiếu, cơm gạo không đủ ăn. Trong khi đó, không ít người bỏ ra rất nhiều tiền để đốt vàng mã. Đây là điều bất hợp lý”, Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu Trụ trì chùa Quán Sứ, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh. Trụ trì chùa Quán Sứ cũng khẳng định: Một mình nhà chùa không thể ngăn được người dân mang vàng mã đến chùa cúng và đốt. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, các tỉnh, thành phải cùng vào cuộc, trong đó phải làm từ gốc của vấn đề là việc sản xuất, buôn bán vàng mã...
Thượng tọa Thích Nhật Từ, Phó Trưởng ban Phật giáo Quốc tế - Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ rõ: Về bản chất, đạo Phật không khích lệ tập tục đốt vàng mã. Việc ngừng các hoạt động mê tín dị đoan, trong đó có việc đốt vàng mã là điều cần thiết. Đã đến lúc không nên để tập tục này tiếp tục diễn ra trong các cơ sở thờ tự. Các tăng ni cần nêu cao ý thức vì việc này trái với Phật pháp…
Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh”.
Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định: Kinh Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế đốt vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.
Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: “Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không? Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng… có được gửi đúng địa chỉ không? Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà… thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu”.
Các đại đức đều cho rằng: Người dương biết làm phúc, thì người âm dễ siêu thoát. Chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi “Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ”. Còn “cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích”.
Tuy nhiên, tư tưởng của một tổ chức không hề đơn giản, và không dễ thuần nhất. trong tăng đoàn cũng có không ít những ý kiến trái chiều khác nhau về vàng mã, cũng như một số vấn đề mà giáo hội coi là “không có trong kinh Phật”. Nhưng, ít nhất thì những chính sách ấy cũng thể hiện sự phản đối đến từ lớp lãnh đạo cao cấp của GHPGVN.
f) Nhìn nhận từ cộng đồng xã hội
Ít có phong tục nào mà chịu nhiều gạch đá dư luận như vàng mã, chẳng ngoa khi ví nó như “Thúy Kiều” của văn hóa Việt Nam nói riêng, cũng như Văn hóa phương Đông nói chung.
Thời kỳ phôi thai, tục chôn người gỗ, người cỏ này vẫn gây nên nhiều ác cảm, căm phẫn trong lòng các nhà Nho nổi tiếng như Khổng Tử, Mạnh Tử. Trong Kinh Lễ, đức Khổng Tử (551 – 479 TCN, người khai sáng Nho giáo, triết gia lỗi lạc bậc nhất Trung Quốc và châu Á thời cổ) quở rằng: “Ai bày ra hình nhân thế mạng để chôn theo người chết đó là kẻ bất nhân”. Thầy Mạnh Tử (372–289 TCN, nhà Nho và triết gia vĩ đại thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Khổng Tử), cũng nói: “Ai làm ra Bồ nhìn con gỗ bởi cái lệ chôn sống người, là kẻ tuyệt tự”.
Trong tiểu mục Đốt mã, mục Tang ma, sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính xuất bản năm 1915 đã phản ánh tình trạng phổ biến và tốn kém của tục đốt mã ở những năm cuối của thế kỷ XIX và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Theo đó, “nhà thì đốt mã tại gia, nhà thì đốt mã tại chùa... Có nhà sắm đồ mã tốn đến năm bảy chục một vài trăm bạc”
Trong các thập niên 20 và 30 của thế kỷ XX, tình hình đốt vàng mã ở nước ta còn phát triển mạnh mẽ hơn. Phản ánh về hiện tượng này, năm 1932, trên tờ Khoa Học, Nguyễn Công Tiễu (1892-1976) đã có bài viết Đồ mã. Tác giả bài viết phản ánh: “Mấy năm gần đây, ở xứ ta có một nghề rất phát đạt, ấy chính là nghề đồ mã. Sở dĩ nghề ấy được phát đạt vì nghề ấy dễ học, vì vật liệu dễ mua, nhất là vì nhiều người tiêu thụ. Tuy đồ mã đã có từ lâu, nhưng nay mỗi ngày tiêu thụ tăng lên là tại trước kia chỉ những người có lòng tin mới dùng mà thôi, bây giờ lắm người vì sĩ diện mà cúng đồ mã vì trong tâm thực chẳng có lòng tin”
Đánh giá về sự phát triển tràn lan và tác động tiêu cực của vàng mã đối với xã hội Việt Nam đương thời, thực xác đáng khi Nguyễn Công Tiễu cho rằng: “Nghề đồ mã càng phát đạt bao nhiêu, đồ mã làm càng tinh xảo bao nhiêu, ta càng buồn bấy nhiêu, vì có hại cho ta về nhiều phương diện”.
Khi bàn về thái độ với vàng mã, trong bài Vàng mã nên bỏ hay nên để? đăng trên Đuốc Tuệ, số 188-189, năm 1942, Phạm Văn Phụng đã khẳng định: “Cái mục đích của Hội ta (Hội Phật giáo Bắc kỳ) là “Chấn hưng Phật giáo”, mà việc chấn hưng thì không gì bằng bài trừ những tập tục mê tín dị đoan nó đã làm đổ nát nền Phật giáo xứ ta. Ví bằng ta không tìm cách cấm giới những tục dị đoan ấy (vàng mã) đi thì ta không thể thực hành được công việc chấn hưng”
Sáng kiến bãi bỏ vàng mã của Trung ương Hội Phật giáo Bắc kỳ ngay lập tức đã nhận được sự đồng tình và sự cộng tác nhiệt thành của nhiều thành phần, từ các nhà tu hành, tiêu biểu là sư Trí Hải, đến các cư sĩ tại gia như Tuệ Quang, Nguyễn Trọng Thuật, Mẫn Trai, Trần Duy Vôn, Phạm Văn Phụng, Vũ Tự Tiệp, v.v... cùng đông đảo Phật tử, quần chúng tín đồ hội viên, và nhất là sự hợp tác đầy hiệu quả của các quan lại triều đình đương chức hay trí sĩ như Tổng đốc Vi Văn Định, Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc, Tuần phủ Trần Văn Đại, v.v.
Về mức độ, hoạt động này bắt đầu từ những bài phân tích và khuyên nhủ giới xuất gia tu hành, Phật tử và nhân dân nên bỏ vàng mã. Thậm chí, quyết liệt hơn, để tỏ rõ tinh thần quyết tâm bỏ vàng mã, trong cuộc họp hội đồng Trung ương Hội Phật giáo Bắc kỳ diễn ra vào mùng 4 tháng 8 (âm lịch) năm 1942 tại chùa Quán Sứ, một ý kiến đã đề nghị “xin Hội đồng (Trung ương) ban phát ra một mệnh lệnh cấm giới những điều mê tín dị đoan, nhất là việc đốt vàng mã để cho các địa phương được tiện cách thi hành”
Các nhà Phật học ở miền Bắc sau khi khảo cứu đã khẳng định, “đồ mã có xuất xứ từ Trung Quốc rồi du nhập vào Việt Nam. Đây vốn không phải là một tập tục của Phật giáo” (? – xem lại phần nguồn gốc vàng mã – TGTT). Thậm chí, theo Thích Trí Hải, trong Kinh Dược Sư của đạo Phật còn nói: “Thiêu tiền hóa mã, sát lục chúng sinh, tế tự quỷ thần, đãn tăng tội nghiệp, phản tổn thọ hĩ”, nghĩa là đốt tiền và các đồ mã, cùng việc giết chóc chúng sinh để tế bái quỷ thần chỉ thêm tội nghiệp và chóng chết mà thôi, chứ không có ích lợi gì cả (TGTT- chỉ là nghĩa của một bản dịch, không phải của phạn bản, vì: Ấn độ, Tây vực không có mã vàng. ở bản dịch khác đó là: “bốc vấn mịch họa, sát chủng chủng chúng sinh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phúc hựu, dục kí diên niên, chung bất năng đắc.”)
Sau khi truy tìm nguồn gốc, các nhà cải cách Phật giáo ở miền Bắc đã đưa ra nhiều lí do để khuyên Phật tử và nhân dân bỏ vàng mã, chẳng hạn:
Theo lệ, đồ mã chỉ đốt trong vòng 3 năm. Những năm sau đó không đốt vàng mã nữa thì vong hồn lấy gì mà dùng?
Trên thế giới, chỉ có hai nước là Trung Quốc và Việt Nam có tục đốt đồ mã gửi xuống cho vong hồn. Thử hỏi, nếu tin rằng dưới Âm Phủ có dùng đồ mã thì vong hồn của các nước khác dùng bằng gì?
Vàng mã chủ yếu được đốt trong lễ truy điệu. Mà ý nghĩa của lễ truy điệu là muốn báo đáp cho vong linh, tụng kinh Phật để vong hồn tổ tiên được về cõi Tịnh Độ. Theo kinh Phật, Tịnh Độ là nơi thanh tịnh và mọi thứ đều đầy đủ, cần gì phải gửi vàng mã. Nếu gia đình “cố tình” gửi vàng mã thì vong hồn tổ tiên lại phải từ cõi Tịnh Độ xuống cõi Âm Phủ để nhận v.v…
Giới trẻ ngày nay cũng không nhiều người mặn mà với phong tục hóa vàng, dù có thể chính họ đang ăn theo các “dịch vụ tâm linh” do họ bày ra. Một chuyên gia phong thủy cho rằng: “Cá nhân tôi từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ hứng thú với hủ tục này, bởi thấy nó lãng phí và khá vô dụng. Khi tìm hiểu các bộ môn học thuật Phương Đông, lại càng tin vào niềm tin cá nhân rằng việc đốt vàng mã này là không cần thiết.
Đức Phật Thích Ca không hề dạy chúng ta đốt vàng mã để cúng gia tiên, Đức Khổng Tử hay thầy Mạnh Tử cũng đều than thở về những hủ tục chôn cất bù nhìn kèm theo người chết.
Thế thì vì sao người ta lại đốt vàng mã, nhất là vào những ngày lễ tết, rằm, mùng 1???
Quay ngược lại lịch sử, vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762), nhằm lúc Phật giáo cực thình ở Trung Quốc, vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng Trung Quốc vì ngày Rằm tháng Bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân Trung Quốc vào tâu với vua Đại Tôn rằng: Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm , nhà vua nên thông sức cho thiên hạ; trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.
Vua Đạt Tôn đang muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đại Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ, thế là nhân dân Trung Quốc lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để cúng gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo lại bị Tăng Sĩ Phật Giáo công kích bài trừ, cho nên cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn có chính nghĩa nữa.
Phần lớn dân chúng Trung Quốc hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, người đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã. Vương Luân mới bàn cùng với các đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã của bọn họ.
Thủ đoạn của họ như sau: Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi mọi người họ mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tức tưởi đem trăm nghìn thứ đồ mà đến có cả hình nhân thế mạng nữa.
Đem đến để làm gì? Bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. (TGTT – sai! Thiên, địa, thủy phủ - thiếu hiểu biết nhưng lại thích thể hiện ý kiến khổ thế đấy) Chả! Chả! Phép quỷ thần mầu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đang suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài.
Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ ngơ, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra với điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với công chúng rằng: “Các thần thánh trong Tam, Tứ Phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn, bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Hiển nhiên trăm nghìn mắt thấy, tai nghe công chúng lúc đó ai chả nhận thấy rằng, thế này ra hình nhân có thể thế mệnh được thực và thánh thần trong Tam, Tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm thọ và miễn cho sống thêm thực.
Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì rằng không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong Tam, Tứ phủ cũng phải tiêu dùng đến đồ vàng mã nữa, cố nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo.
Chúng ta nên thẳng thắn nhìn nhận rằng: “Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ Tam, Tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ người Vương Luân, người Trung Quốc bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã gần 2000 năm.
Đến sự mê tín của dân tộc Việt Nam, chúng ta cũng chẳng kém thế, vì chưng trước đây, người Trung Quốc đã nắm quyền đô hộ mình hơn 1.000 năm. Cho nên phong tục của người Trung Quốc thế nào người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. (TGTT – một nhận xét mê muội, không có hiểu biết về bản lĩnh văn hóa dân tộc) Đó là nguyên tính cẩu thả, phụ họa của người mình.”
Bên cạnh đó, có một số người tuy tuổi còn ít, nhưng lại có cái nhìn sâu xa với vàng mã và phong tục hóa vàng.
“MỘT PHONG TỤC ĐẸP.
Lòng buồn sắm mã kính dâng
Lặng nhìn kỷ vật lòng buồn xót xa
Trời buồn giọt thảm mưa xa
Cảm thông chua xót viết ra nỗi này
Mong manh khói quyện thang mây
Ngẩn ngơ kí ức dâng đầy lòng con
Cúi xin trời đất vuông tròn
Chứng minh cho tấm lòng son hướng về
Sắm sinh lễ vật lạy thề
Gửi nơi chín suối hồn về hân hoan
Thương cha nhớ mẹ vô vàn
Hai hàng lệ chảy chứa chan héo mòn
Mẹ ơi đây chiếc gương tròn
Đây manh áo mới vẫn còn thơm hương
Mẹ ơi chiếc nón yêu thương
Che mưa che nắng mẹ thường mang theo
Gửi cha chiếc kính cha yêu
Đồng hồ cha thích để theo dõi giờ
Áo lương khăn xếp cha ưa
Chiếc ô che nắng che mưa khi cần
Còn đây giày dép vừa chân
Biếu cha biếu mẹ về gần đi xa
Mẹ ơi chiếc lược chạm hoa
Và đây chuỗi hạt thường ra lễ chùa
Lặng nhìn kỷ vật sắm mua
Lòng con nặng trĩu giọt thưa giọt dài
Thương tình cha mẹ thấu tai
Vui lòng nhận lấy tuyền đài con thưa
Một năm gọi có mấy mùa
Công ơn cha mẹ nắng mưa tảo tần
Còn đâu hối hả bước chân
Còn đâu lo lắng chuyện gần chuyện xa
Ngẩng nhìn trời rộng bao la
Ngó xuống đất thấp xót xa nghẹn ngào
Thương cha nhớ mẹ biết bao.”
Họ cho rằng:
“- Trước tiên xét về mặt tôn giáo và tín ngưỡng: Phật giáo cũng chỉ là một trong 16 tôn giáo và là một trong 43 tổ chức tôn giáo được công nhận tại Việt Nam và là một trong số rất nhiều các tôn giáo đang tồn tại trên thế giới. Lịch sử Phật giáo là 2563 năm, lịch sử của tín ngưỡng có cùng với lịch sử của loài người
- Thứ hai: tục đốt vàng mã dù xuất xứ hay du nhập ở đâu vào Việt Nam thì đến giai đoạn ngày nay cũng gắn bó với văn hóa Việt Nam hàng ngàn năm (Không thua kém thời gian của Phật giáo) nó đã trở thành một nét văn hóa làm phong phú thêm cho đời sống tâm linh, làm đẹp thêm không gian tâm linh, làm đặc sắc thêm cho các hoạt động thực hành tín ngưỡng của nước ta... Bên cạnh đó những làng nghề làm vàng mã đã góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế làng xã, tạo công ăn việc làm cho người dân...
- Thứ ba: Là điều quan trọng nhất cũng là điều thắc mắc nhất của bản thân về quyết định này của Phật giáo:
[…] chúng ta thấy rất rõ tại sao Phật giáo ở Việt Nam lại có sự phát triển vượt bậc và có tầng ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân như thế, tách ra khỏi phần huyền bí, phần nhiệm mầu hay giáo lý giáo luật của Phật giáo chúng ta thấy ở đây sự gắn bó của Phật giáo với đời sống văn hóa và tâm linh của người Việt đã gần hai ngàn năm. Khác với Đạo giáo và Nho giáo được đưa đến từ thể chế chính trị xâm lược, đô hộ và kén người tu học thì Phật giáo đến từ một nước khác, hiền hòa hơn, phù hợp với bản tính người Việt hơn vì thế văn hóa Việt, tín ngưỡng Việt đã tiếp nhận và nâng đỡ Phật giáo để Phật giáo có chỗ đứng ở một đất nước mới và phát triển lớn mạnh như ngày nay....
Các Tăng Ni những nhà tu hành, những người nghiên cứu sâu rộng của Phật giáo hãy công tâm trả lời: nếu rút tất cả các nghi lễ phát sinh trong quá trình xử lí những nhu cầu thực tiễn qua lịch sử truyền giáo lâu dài và giao thoa với các tôn giáo khác và của tín ngưỡng dân gian thì Phật giáo còn lại nghi lễ gì?
Để hài hòa cả truyền thống và hiện đại, giới trẻ đã phát minh ra loại vàng mã mini, kích thức rất nhỏ, tiết kiệm, có thể là đề xuất hay cho tương lai.

0 Nhận xét