Đốt vàng mã, sớ văn, … có hay không? (tiếp)
c) Phân loại
Ngoài giấy tiền vàng bạc cùng các loại giấy khác, người Trung Quốc thời đó còn chế ra các loại hình nhân thế mạng cho vợ hầu, con cái, tôi tớ, cửa nhà, xe cộ, đồ đạc, vật dụng, áo quần, lục súc… và hàng trăm vật khác làm bằng giấy. Các loại đồ vàng mã gọi chung là minh khí này liên tục xuất hiện, làm cho nhân dân đua nhau chuộng đồ mã.
Không chỉ Trung Quốc, cả 3 nước đồng văn còn lại cũng sản xuất ra những loại vàng mã riêng để phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của mình.
Cho đến nay, khó có ai có thể thống kê rõ là có khoảng bao nhiêu loại vàng mã đã và đang được sản xuất lưu dùng. Tùy theo từng tiêu chí, mục đích sử dụng mà người ta có nhiều cách phân loại khác nhau.
- Mã thần linh: Mã dâng cho các quan thần linh, thánh, để thi hành công việc, sám hối, nguyện cầu, ... thường gồm một bộ mũ, áo, hài,… Ví dụ: 3 cỗ mũ Bình thiên (Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu); Quần áo, nón Mẫu; mã đương niên, đương cảnh, mã sứ giả, vỉ hài xảo…
- Mã “tượng” (tên tạm gọi): phụ trách nhiệm vụ của tranh đàn, thay cho tượng pháp (thực ra, mã thần linh cũng đảm nhiệm một phần chức năng này): mã Chúa đàn, mã Chúa ôn, Mã Tiêu Diện, Động chúa, Sơn trang, …
- Mã đàn: mã bày theo bố cục đàn pháp như mã ngục ngũ phương, huyết hồ, mã thập điện thăng tiên, mã cửu tỉnh, mã ngũ phương điền hoàn…
- Mã voi, ngựa, thuyền, kiệu, tam đầu cửu vĩ…(phương tiện, vật cưỡi,…): Chủ yếu là bày đàn Tam, Tứ phủ, tiến thần linh, … trong hội đồng gia tiên thì dường như chỉ hay hóa ngựa cho cậu bé, ông Mãnh, …
- Hình nhân: tiến về các phủ để thế mệnh, chuộc hồn vía; tiến cho gia tiên làm người phục vụ, …
- Mã vong: mã tiến cho gia tiên, vong hồn, … Ví dụ: nhà cửa, núi vàng, núi bạc, quần áo, hài, nón, quần áo chúng sinh, …
- Tiền vàng: loại tiền tệ đốt để lưu hành ở cõi âm. Có rất nhiều loại: xu vàng, xu xanh, tiền đinh (trước chỉ để tiến cho quan), tiền Tào quan (dùng để trả nợ tào quan), ngày nay có thêm tiền Đô, tiền Việt, …
- Vàng cây: còn gọi là vàng nan, vàng thoi (“thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”). Có cốt bằng nan vót mỏng, ngoài dán giấy màu, được buộc lại thành từng trăm, hoặc từng nghìn, vạn vàng. Ngoài có thể dán trang kim, … vàng cây có thể dùng tiến các phủ, thần linh, kê bát hương, ít dùng tiến vong. Trước đây, phân chia rõ ràng vàng tứ phủ, vàng Trần triều, vàng đương cảnh, … ngày nay thì chỉ còn một số quy ước chung chung như: mã tứ phủ 4 màu, mã Trần triều màu đỏ, đương niên có thể đỏ hoặc vàng, quan bản cảnh thì màu theo thần tích, …
- Các loại phan, bảng, bài vị, hoa đàn, …
- Tranh cúng: trong điều kiện xã hội không cho phép, tất cả các loại mã trên có thể giản lược thành tranh in, sau khi cúng thì đốt luôn.
Trung Quốc còn tạo ra loại mã đốt cho … Phật song có vẻ không được phổ biến ở các nước khác
Với hệ thống tư tưởng phức tạp, quan niệm nhiều tầng bậc, tín ngưỡng đa tôn giáo đan xen, là nơi gặp gỡ nhiều đầu mối văn hóa, chỉ nguyên tiền vàng Trung Quốc thôi cũng đã có rất nhiều loại khác nhau
- Ân quang kim: trên in 4 chữ “khấu đáp ân quang”, loại tiền được coi là tối cao, chỉ dùng trong tế bái Ngọc Hoàng
- Thiên xích kim: in 2 chữ “thiên kim”, dùng trong đản thần các vị thần minh như Tam thanh đạo tổ, Thần Nông, Tử Vi, …
- Bồn kim: in dòng chữ “nhất tâm thành kính, kỳ cầu bình an”, nay đã ít dùng, chủ yếu để tiến Tam thanh, Thích Ca, Tam bảo, … (chí cao thần minh), dùng để “hoàn nguyên” (như trả nợ Tào quan, “khất tác công đức”)
- Đại bách thọ kim: in 4 chữ “kỳ cầu bình an”, cúng Trời đất, tổ sư, chân nhân, …
- “Thín Cúng cắm”, tức là “Thiên Công kim” hay “vàng Ông Trời”. Trên tờ giấy này ghi 4 chữ “Thiên Công bảo hựu”, hàm ý cầu mong mình làm việc gì cũng đều có Ông Trời nhìn thấy và phù hộ mọi việc được như ý, thuận lợi. Loại giấy này cùng với các loại giấy cúng dành cho Thần Minh, thường xếp vào phần cúng mang ý nghĩa cầu phúc. “Thín cúng cắm” này thông thường có thể dùng cúng tất cả các vị Thần Minh từ Đại thần, Thiên Thần cho đến Tiểu Thần và Địa Thần. Nhưng có nơi cho rằng, loại này chỉ dùng để cúng các vị Đại Thần và Thiên Thần, vì trên giấy có chữ “Thiên - 天”, nên chỉ được dùng để cúng các vị Thần Thánh trên Trời.
- Thọ kim (in 4 chữ “kỳ cầu bình an”, hay chữ thọ đại tự): Loại giấy này gọi là “sầu cắm” (theo tiếng Quảng Đông), dịch ra là “thọ kim”. Đây là loại giấy tiền đặc biệt dùng để cúng Thần Minh, nhất là các vị Đại Thần như: Quan Âm Nương Nương (cách người Hoa gọi Phật Bà Quan Âm), Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Nương Nương, Táo Quân, Mẹ Sinh Mẹ Độ, Bà Chúa Xứ, Bà Linh Sơn, Mẹ Địa Mẫu, Tề Thiên Đại Thánh, Quảng Trạch Tôn Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế,… lễ các vị Đại Thần này chỉ dùng duy nhất loại giấy “sầu cắm” này, còn các vị Tiểu Thần còn lại cũng có thể dùng loại giấy này để cúng, nhưng sẽ có kèm theo vài loại giấy khác. Loại “thọ kim” này, không nặng về ý nghĩa là vàng cho Thần Thánh xài mà thiên về tính chúc thọ Thần Thánh, qua đó thể hiện ước mong sống lâu trường thọ kể cả ở cõi phàm hay trên Thiên giới. Thường người ta sẽ xếp 12 tờ “sầu cắm” cho 1 phần cúng, ngụ ý tượng trưng cho 12 tháng trong 1 năm. Vào các ngày vía hoặc cúng lớn, có thể xếp nhiều hơn 12 tờ, thông thường là 1 xấp, hoặc có thể xếp thỏi vàng bẻ cong 2 đầu (khác với xếp thỏi vàng cúng vong không bẻ 2 đầu). Có thể xếp 12 thỏi hoặc nhiều hơn, thông thường là đầy mâm đựng giấy cúng
- Giấy “kim ngân”: âm Hoa là “cắm ngãnh”, dịch nghĩa là “vàng bạc”. Loại này 1 xấp thường phân làm 2 phần, 1 phần vàng và 1 phần bạc. Loại này cùng với “sầu cắm” dùng để cúng cái vị Tiểu Thần và Địa Thần như: Ông Địa, Thổ Địa ( gười Hoa quan niệm 2 vị này là khác nhau, Thổ Địa tên hiệu là Phúc Đức Chánh Thẩn, có vợ là Phúc Đức Phu Nhân, tục gọi Thổ Địa Công và Thổ Địa Bà hay Ông Bà Thổ Địa, cai quản toàn bộ đất đai nói chung; còn Ông Địa tục gọi là Địa Chủ Gia, chỉ cai quản 1 vùng đất nhỏ, cụ thể như 1 căn nhà,…), Bạch Hổ, Thành Hoàng, Diêm Vương, Thần Tài Âm Phủ (khác với Thần Tài thờ ở nhà, theo quan niệm của người Hoa có rất nhiều vị Thần Tài),… Ngoài ra “cắm ngãnh” còn dùng để cúng Tổ Tiên, người đã khuất và cô hồn,… Cũng giống như “sầu cắm”, “cắm ngãnh” cũng thường được xếp 12 tờ, chia ra 6 vàng 6 bạc, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Ở ngoài tiệm bán để tiết kiệm thường ngta chỉ xếp 4 tờ, tượng trưng cho 4 mùa xuân hạ thu dông, cũng tượng trưng cho 1 năm
- Tiền quý nhân: gồm nhiều loại, tựu chung là in các vị “quý nhân” trên tiền. Loại giấy “Đại quý nhân” in trên 1 mặt lớn, sau đó gấp đôi lại tạo thành 2 mặt, trên mỗi mặt in hình của 50 vị “quý nhân”, tổng 2 mặt là 100 vị, tượng trưng cho ở 2 cõi âm dương đều có “quý nhân” giúp đỡ mình. Sở dĩ chọn số 100 vị quý nhân vì theo quan niệm những con số như 1, 10, 100, 1 ngàn, 1 vạn,… tượng trưng cho việc “thiên biến vạn hóa”, ngụ ý 100 sẽ biến ra hàng ngàn, hạng vạn vị quý nhân giúp đỡ mình. Loại giấy này thường có thể cúng được cho tất cả, nhưng một số nơi chỉ dùng để cúng các vị Đại Thần và Thiên Thần. Loại giấy quý nhân thứ hai này, gọi là “xi phón kwuây dành” – “tứ phương quý nhân”, ngụ ý bốn phương tám hướng đều có các vị quý nhân ủng hộ. Loại này thông thường cũng dùng để cúng tất cả (Thần Thánh, Tổ Tiên, Cô hồn). Nhưng 1 số nơi cho rằng chỉ dùng để cúng các vị Tiểu Thần, Địa Thần, Tổ Tiên và vong hồn. Theo tục lệ, sau khi cúng bái xong, hình vị quý nhân này sẽ được giữ lại, cùng với “lục mã quý nhân”, hoặc có thể thêm “tứ phương quý nhân” và “đại quý nhân”, dán lên vách chùa để cầu mong các vị quý nhân sẽ giữ kẻ tiểu nhân lại chùa, không cho thêm về nhà
- Tiền tán: 5 loại giấy sau đây, có người gọi là tiền tán, nhưng mình thấy cách gọi này không thông dụng. Thường phổ biến cách gọi là 5 loại tiền là mọi người sẽ biết là để chỉ 5 loại giấy này. Hàng trên theo thứ tự từ trái sang phải là: tiền vàng, tiền đen (tiền trắng), Thiên khố (kho tiền Trời), hàng dưới từ trái sang phải: thanh y (đồ dùng cho người mất) và tiền vãng sinh. 5 thứ này có thể dùng cúng cho các vị Tiểu Thẩn trở xuống (bao gồm cả vong linh, Tổ Tiên và cô hồn). Thường xếp 5 thứ tiền này theo những con số đẹp và ý nghĩa như: 3 tờ tượng trưng cho tam tài Thiên Địa Nhân, 4 tờ tượng trưng cho 4 bốn mùa đại diện cho 1 năm, 5 tờ thường dùng cúng cho Thổ Địa nhất là Địa chủ (cúng ông Địa chuộng số 5), 6 tờ tượng trưng cho lộc, 7 tờ dùng cúng Bạch Hổ và Thần Tài để cúng giải hạn, 8 tờ là phát, 9 tờ là trường cửu và 12 tờ tượng trưng cho 12 tháng.
- Phúc kim (không có chữ, hình, giữa dán trang kim), phong kim (hay ngải kim, tứ phương kim, dán trang kim lệch và to hơn phúc kim), tứ sắc kim: dùng cho hầu hết chư thần, u linh, …Quái kim chủ yếu đốt cho quan tướng, ngưu đầu ngục tốt âm phủ
- Chỉ tiền: “tsấy sìn”, ngụ ý là “tiền lẻ”. Loại giấy này cùng có thể cúng cho các Tiểu Thần (tùy nơi), theo quan niệm của người Hoa, Thổ Địa rất thích loại “tiền lẻ” này, vì Ông sẽ dùng nó để rải tiền xuống cho mình. Ngoài ra còn dùng để cúng vong, cúng Tổ Tiên và cô hồn, tháng 7 thường dùng tiền này rải ra cho các vị khuất mặt tụ lại lượm, ngoài ra còn dùng để rải khi qua cầu trong đám ma của người Tiều, ngụ ý thí cho các vong hồn vất vưởng lo nhặt tiền sẽ không cản trở và níu chân ngưởi thân mình đi đầu thai.
- Cửu kim, cửu ngân: in 2 chữ “đại bạc”, dùng tế tổ, tiên nhân,…
- Trung kim (in 2 chữ “trung kim”): giải trừ sát khí, dùng cúng Sơn lâm thủy bạn, long thần, thổ địa thần
- Liên hoa kim, liên hoa ngân: in hình hoa sen, dùng trong tạo mộ, nhập tháp, kiểm cốt, …
- Ngũ sắc kim: kính phụng Tam bảo, Dược sư, Thích Ca, Di Đà, Tam giáo thánh nhân, Tam thanh đạo tổ, Ngọc Hoàng, Tam quan đại đế, …
- Thọ sinh tiền, Trường tu thọ sinh tiền, …: Cúng Phật, bồ tát, la hán, đốt theo kinh Thọ sinh (âm tiếu Trung Quốc có tục hóa kinh văn)
- Tiền vãng sinh: trên in bài chú vãng sinh, dùng cầu siêu. Trên giấy có in cấc kinh chú nhà Phật với hình bàn tay đưa ra, tượng trưng cho tay Phật Di Đà duỗi xuống tiếp dẫn vong hồn. Loại giấy này dùng để cúng người đã khuất và các cô hồn như lời cầu nguyện cho họ sớm siêu thoát về cõi Phật.
- Cải vận tiền, giải ách tiền, quỷ cốc kinh, …: đốt cúng nhương tai độ ách
- Ngũ sắc chỉ hay “ùm síc chỉ”, nghĩa là “giấy ngũ sắc”, tượng trưng cho vải vóc cúng thí cho các vị “cô hồn các đảng”
- “Áo binh”, ngụ ý là quần áo đốt cho người khuất mặt (khác với Tổ Tiên hay người thân của mình sẽ có loại áo riêng). Loại áo binh truyền thống ở trên chỉ có áo, nên sau này người ta làm ra thêm loại áo binh mới sau này, có kèm tay chân quần áo, nên gọi là “binh quần”. Loại này thường có 5 lớp 5 màu, tượng trưng cho ngũ hành: kim mộc thủy hỏa thổ. Người Việt cũng cắt quần áo chúng sinh gần giống như thế này, thường kèm theo các loại giấy vụn làm vải để cô hồn may vá.
Dó là còn chưa kể đến các loại tiền “chuyên dùng”, “tiền “địa phương” in tên của các thần minh tại bản đền, miếu trên khắp Trung Quốc như Mục liên – Địa tạng tiền, Chú sinh nương nương, tài thần, Sơn thần tiền, hay tên đối tượng vong tiến cúng: “tiền thế phu thê”, “tiền thế phụ mẫu”, … Thông thường, 1 phần giấy cúng sau khi xếp các loại giấy tiền và quần áo dùng để cúng tế Thần Minh và Tổ Tiên, Cô bác thì sẽ xếp đến các loại giấy mang ý nghĩa cầu phúc và tốt đẹp lên trên cùng như tiền quý nhân, hay tiền “Thần ân bảo hựu, hợp gia bình an”, …Và để đựng tất cả các loại giấy cúng đó vào 1 phần cúng, thông thường người ta sẽ dùng 1 loại giấy có hình như chiếc thuyền hay mâm sen. Theo truyền thông của người Quảng, thì họ sẽ dùng 1 xấp giấy gọi là “dìn bủ”, xoay thành 1 cái mâm sen nhỏ và xếp giấy cúng vào đó
Ngoài các loại tiền mang ý nghĩa dâng cúng, người Hoa còn có các loại giấy tiền mang ý nghĩa thế mệnh, giải hạn.
d) Nguyên tắc tạo tác, sử dụng vàng mã trong lễ nghi Việt Nam
Tục lệ đốt vàng mã này ảnh hưởng sâu đậm vào nước ta, từ vua chúa đến thứ dân. Tuy không có sách vở nào ghi lại, quy định thiết chế văn hóa này, song việc sử dụng vàng mã không phải là không có phép tắc
- Trần sao âm vậy:
Trong Việt Nam truyền thống của người Việt tin rằng trần sao âm vậy nên người sống thường mua các đồ mô phỏng (hàng mã) để cúng tiến cho người đã khuất. Ngày xưa thì cung tiến xe ngựa, tiền giấy, người thế thân… bây giờ thì có nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động…
Và vì trần sao âm vậy, nên dù là ngựa giấy, nhưng đem dâng lên cửa Thánh thì đó là “ông ngựa”,” ông voi”, trước khi hóa mã còn được ăn cỏ, ăn chuối, mía, … đàng hoàng.
- Ước lệ, quy ước, nghệ thuật:
Các đồ hàng mã có thể làm với kích thước 1:1 nhưng cũng có thể làm thu nhỏ lại, tượng trưng, mang tính nghệ thuật, thẩm mỹ cao. Thậm chí, mã vật có thể đơn giản làm thành tranh. Tính nghệ thuật là yêu cầu gần như bắt buộc với các loại hàng mã, vì nó là vật phẩm dâng lên các đấng thần linh, tổ tiên, …
Khi bày lên mâm, lên sập thờ cũng phải bày sao cho nghệ thuật, cho đẹp. tiền không chỉ để một xấp mà xòe tròn xoe như bông hoa trên bát. Mâm quần áo chúng sinh giản dị, cũng trở thành một công trình nghệ thuật với bao màu sắc, tầng lớp.
- Giàu một bó, khó một nén:
Nhiều người thường vin vào lí do đốt mã là lãng phí để làm cơ sở xã hội cho việc bài trừ vàng mã. Thực ra việc số lượng vàng mã được dùng có khi được quy định rất chặt chẽ và rất … ít. Ví dụ như: trong sách “Diệu thuật bí pháp”, nghi thức hành đạo phù trị: “Ngày mồng một âm. Lên cơn đau đầu, làm không có sức, ăn không ngon, tổ cho là thần sứ khách quỷ hành” thì chỉ “đốt 5 tờ tiền vàng mã (thọ kim)[…], bịnh lui.” . Còn lại, thường là theo điều kiện của gia chủ mà thiết lễ.
Nhà nghèo, khi người thân mất, đưa vong lên chùa, mã chỉ vỏn vẹn một bộ áo mã, bộ tranh thập vật. Khá giả hơn, với quan niệm “trần sao âm vậy”, người ta đã đốt, đã hoá, đã gửi đủ loại đồ mã xuống cõi âm Phủ cho người thân, cho tổ tiên, trong đó chủ yếu là những vật dụng trong gia đình mà người thân khi còn sống thường dùng, chẳng hạn như: “... xe cao su, giường Hồng Kông, màn lan tiêu, đồ chè chén mẫu, chỗ ăn, chỗ ngồi đủ hết, không sót một thứ gì. Mà làm giống như hệt, làm hàng tháng mới xong, tốn kể bạc nghìn” (trích “Bàn thêm về sự đốt mã - Vũ Tự Tiệp. Báo Đuốc Tuệ, số 82, năm 1938”). Vụ đốt vàng mã lớn nhất Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là trong đám tang của Vua Khải Định, băng hà vào ngày 25 tháng 11, năm 1925, triều đình Huế đã làm nguyên cả ngôi điện Kiến Trung bằng giấy thật lớn và nhiều loại đồ dùng của vua như ngự liễn, long xa, tàn kiệu, v.v... để đốt theo vua.
- Phù hợp với mục đích pháp sự, phù hợp với người được cung tiến:
Không phải lễ nghi nào cũng dùng đến vàng mã, và không phải vàng mã nào cũng có thể bày lên đàn tràng. Việc dùng mã ra sao phải căn cứ vào mục đích của pháp sự và Phật thánh được thỉnh mời.
Trong nghi cúng Phật, cúng tổ nghinh sư duyệt định thì không sử dụng mã vàng, tiền, ngựa, mũ mã. Phật vị chỉ được đại diện bằng tranh, tượng, bài vị. tuyệt đối không dùng “mã Phật” như với các trường hợp: chúa ôn, chúa đàn, sơn trang,…
Thậm chí một số đạo nhân có quan điểm: “Đạo gia không hóa mã cho các tổ. khí các tổ là Thuần Dương Tiên Thiên Nhất Khí. Chỉ có ma quỉ là khí thuần âm chỉ có bóng mà không hình thì mới hóa mã để hóa hình khí độ cho phần phách. Làm như vậy (TGTT – chỉ việc hóa mã) là phản tổ, phản di huấn trong đạo kinh và đan kinh.”
Không phải các lễ đảo bệnh, thế mạng, cắt tiền duyên, … thì không dùng hình nhân. Nhưng lễ Quan Âm cứu bệnh, Dược sư thất khu thì lại không có mã hình nhân.
Tiền đinh dùng tiến cho các quan, tiền vàng, tiền xanh dùng để tiến gia tiên. Tiền vãng sinh dùng để cúng chúng sinh.
Vàng thoi mang màu sắc tùy thuộc vào vị thánh mình cung tiến: mã tứ phủ 4 màu, mã Trần triều màu đỏ, đương niên có thể đỏ hoặc vàng, quan bản cảnh thì màu theo thần tích, …
- Bố cục chặt chẽ, cân đối:
Vàng mã nằm trong bố cụ đàn pháp, chịu sự dàn bố của bố cục đàn tràng.
Màu sắc của mã vật ứng theo phương đàn: màu xanh – phương đông, màu trắng – phương tây, màu đỏ - phương nam, màu tím, đen – phương bắc, màu vàng – trung ương. Tiêu biểu cho loại này là: mã khai phương – phá ngục, mã điền hoàn long mạch, mã tạ mộ, mã an trấn hỏa đàn, …
Mã tứ phủ, nhìn chung phân ra có mã nội đàn và mã ngoại đàn. Dòng đồng khâm sai dùng mã nội đàn, dòng đồng thoải, địa, nhạc sử dụng cả mã ngoại đàn … có sự cân chỉnh tùy theo căn số và cơ cánh của đồng nhân hay tùy nơi. Thời kỳ còn khó khăn, do điều kiện hoàn cảnh thì mã không đẹp như bây giờ, có khi phải in tranh, nhưng cũng đầy đủ nội ngoại đàn. Cũng có tòa sơn trang, có thuyền thoi voi ngựa hình lốt
Phức tạp nhất vẫn là mã bày đàn cúng trận: di sao, đảo vũ, chuyển mệnh, di cung hoán số,… sắp xếp chặt chẽ theo phương hướng, màu sắc, tinh tú vận chuyển, theo cung phi, cung sinh,…
- “Gia trì cẩn mật đa linh nghiệm”:
Trong quan niệm của cư dân phương Đông, vàng mã vẫn là vật cõi dương, phải qua quá trình hóa luyện mới có thể xuống tới âm tuyền. Đầu tiên là nhờ ngọn lửa: “Luyện hoá thành khôi, khôi thành tượng”, “Luyện chỉ thành khôi, ôi thành sắc”. Một chút rượu – đại biểu của “thần” (tinh – khí – thần) – được rưới xuống đống tro tàn. Lửa bốc lên cộng với rượu đổ xuống tạo nên thế âm dương giao hòa, tức là mã vật đã hiện đến cõi hư không khác.
Khi Phật giáo, Đạo giáo du nhập vào, đã đưa thêm hình thức gia trì của Mật tông, những chú ngữ, phù thuật vào quá trình gia trì: “Hoả quang tam muội, biến tuỳ nghi, Cấp phó vong linh lai thụ dụng”. Trong “Bảo đỉnh hành trì” của Tam tổ Huyền Quang cũng có đường luyện kim ngân, thần tiền, mã vật, có đường phát hỏa, thư phù lên mâm sớ tấu, ...
Trong nghi lễ Tứ phủ, các sớ, trạng, mã vật, đều được khai quang trước khi đem đi hóa. Long chu còn phải có thày pháp đi theo, thư phù đọc trát, … thả trôi, thầy leo lên cưỡi vài vòng rồi mới châm lửa. Ngựa tiến các quan còn được cho ăn, vỗ mông dặn dò. Hình nhân thế mệnh có dán phách hình nhân, cũng vái lạy tam phủ.
Nhưng dù theo hình thức nào thì nó cũng là sự gia trì của tâm tín nhiệm. vì vậy, nó dẫn đến một nguyên tắc tối cao trong việc sử dụng mã vàng: tín thì mới dùng. năm 1932, trên tờ Khoa Học, Nguyễn Công Tiễu (1892-1976) đã có bài viết “Đồ mã”. Tác giả bài viết phản ánh: “Mấy năm gần đây, ở xứ ta có một nghề rất phát đạt, ấy chính là nghề đồ mã. Sở dĩ nghề ấy được phát đạt vì nghề ấy dễ học, vì vật liệu dễ mua, nhất là vì nhiều người tiêu thụ. Tuy đồ mã đã có từ lâu, nhưng nay mỗi ngày tiêu thụ tăng lên là tại trước kia chỉ những người có lòng tin mới dùng mà thôi, bây giờ lắm người vì sĩ diện mà cúng đồ mã vì trong tâm thực chẳng có lòng tin”. Đã gọi là tín ngưỡng, mà không tín thì không có giá trị. Đã gọi là phương tiện mà không có lợi lạc thì không phải phương tiện. Hình thức ấy đã đi sang một thiết chế văn hóa khác của xã hội mang tính chất ít nhiều méo mó.






0 Nhận xét