Đốt vàng mã, sớ văn, … có hay không?
a) Vàng mã là gì?
Vàng mã là sản phẩm văn hóa Á Đông, đi liền với tục tùy táng, đời sống tâm linh “trần sao âm vậy”.
Vàng mã sử dụng giấy, các vật liệu nhẹ, dễ kiếm, rẻ, tạo hình thanh những vật có kích thước và trang trí giống (hoặc gần giống) như tiền, quần áo, nhà cửa, đồ đạc thật, được dùng để cúng bái trong các dịp ma chay, đám giỗ, cúng tế, đàn chay v.v...
Vàng mã đã được phát triển bởi người Trung Quốc hiện đại và trên khắp Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á (như: Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam, Mông Cổ...) từ cuối thế kỷ 19. Từ đầu thế kỷ 20 có sự tương đồng với loại tiền thương mại nhỏ thuộc loại được phát hành bởi các doanh nghiệp trên khắp Trung Quốc cho đến khi giành độc lập giữa những năm 1940.
Trong xã hội hiện đại, vị trí của vàng mã đang ở đâu? Có còn cần thiết hay không? … những câu hỏi đơn giản ấy thôi cũng đủ làm thượng từ quan chức, học giả, hạ chí sĩ nông công thương đều thất điên bát đảo
b) Nguồn gốc
Nhiều quan điểm cho rằng, Tục đốt vàng mã có nguồn gốc từ Trung Quốc, xuất hiện trong đám tang của người xưa.
Tuy nhiên nếu đứng trên quan điểm, văn hóa Trung Hoa cổ được hình thành từ 2 bộ phận, một là nền văn hóa Hoàng Hà – nông nghiệp khô và du mục, hai là nền văn hóa Dương Tử - nông nghiệp lúa nước phương Nam, mà trong nền văn hóa này, có sự góp mặt không nhỏ của các cư dân Bách Việt, thì chưa chắc, vàng mã đã là sản phẩm “thuần Hán”, mà có thể là sản phẩm chung của những cư dân chung sống trong cùng một cái nôi cổ đại.
Từ thời nhà Hạ khoảng năm 2205 TCN, người Trung Quốc đã có tục làm đồ đất, đồ gỗ, đàn sáo, chuông khánh, trống, phách, … (Minh khí, quỷ khí) chôn theo người chết. Nhưng đến đời nhà Ân (năm 1765 trước Công nguyên), nhà Chu (1.122 TCN), họ lại có tục tuẫn táng, chôn sống vợ con, bộ hạ, đồ vật yêu thích của vua, các quan lớn khi những người này chết (tế khí). Vào thời nhà Tần (thế kỉ 2), nhiều quý tộc Trung Hoa có thói quen tùy táng theo người chết bằng bạch ngọc cùng nhiều đồ vật quý giá khác. Đến thời nhà Hán (206 TCN-220 SCN), lệ tuẫn táng được bãi bỏ nhưng vì theo tinh thần của Nho giáo (Khổng Tử và Mạnh Tử) - phản đối việc làm Mộc ngẫu, người ta quay trở về với tục chôn các món đồ ăn mặc, hành dùng của người chết, ngoài ra còn có thêm một phong tục khác là làm nhà mồ để người thân người chết ra ấp mộ, làm phỗng đá quanh nhà mồ. Tục tùy táng người và của cải phát triển cực thịnh dưới thời nhà Đường (618-907).
Về sau, thấy lệ tuẫn táng là vô nhân đạo nên người Trung Quốc lại chế ra người gỗ, người cỏ để chôn thay người thật. Nhà Chu (năm 1122 trước Công nguyên) chia xã hội ra làm 2 bậc: Quý và Tiện. Bậc Quý là từ quan đại phu đến Thiên Tử, được dùng cả Quỷ khí lẫn Tế khí. Bậc Tiện là từ sĩ phu đến thứ dân, chỉ được dùng Quỷ khí: họ chôn theo Xô linh, loại người làm bằng cỏ, được chế ra để thay thế người thật. Dưới thời Chu Mục Vương (năm 1001 trước Công nguyên), do quan niệm Xô linh không có mỹ thuật nên Yển sư đã làm người giả từ gỗ, gọi là Mộc ngẫu, cũng còn được gọi là Dũng.
Khi Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) lên ngôi hoàng đế (221-210 TCN), nhận thấy việc này quá lãng phí nên đã ra sắc lệnh cấm tùy táng bằng hiện vật thật. Thay vào đó là nghi thức tượng trưng, tùy táng bằng tiền giả, vàng giả... (làm bằng giấy). tiền đề để chế tạo vàng mã bắt đầu từ việc chế ra giấy. Đời Hán, vua Hòa Đế hiệu Nguyên Hưng năm đầu (105 SCN), ông Thái Lĩnh lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đời Đường (bắt đầu từ năm 618), ông Vương Dũ dùng giấy chế ra vàng bạc,quần áo... bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Như vậy, có thể nói Vương Dũ chính là thủy tổ nghề vàng mã.
Tục hóa vàng phát triển cực thịnh vào thời Đường (thế kỉ 7) và bắt đầu lưu truyền vào Việt Nam. Năm Khai Nguyên thứ 26 (năm 738), vua Đường Huyền Tông (685-762) ra sắc dụ cho phép dùng tiền giấy thay cho tiền thật trong việc cúng tế, cầu siêu... Đến đời vua Đường Đại Tông (726-779) (năm 762), khi Phật giáo đang cực thịnh ở Trung Quốc, nhân dịp lễ Vu Lan, một nhà sư Phật giáo tên là Đạo Tăng muốn khuyến khích người dân theo Phật nên tâu với vua ra chỉ dụ cho người dân đốt vàng mã để kính biếu gia tiên trong ngày này. Quyết định này được dân gian vô cùng hưởng ứng nhưng lại chịu sự chỉ trích từ tăng đoàn.
Thịnh quá hóa suy, trước sự phản đối của tăng lữ, Dưới thời vua Ẩn Đế (năm 948), đồ mã đã dần trở nên kém phổ biến. Do vậy, Vương Luân (dòng dõi nhà Vương Dư) đã lập mưu với một người bạn giả chết để cứu nghề sản xuất vàng mã . Hậu duệ của Vương Dũ là Vương Luân bị thất nghiệp đã nghĩ kế làm người chết sống lại để người đời tin tưởng là nhờ hối lộ vàng mã mà thần thánh cho mình được phục sinh.
Câu chuyện ấy được Sách Trực Ngôn Cảnh Giác của Trung Hoa ghi lại rằng Vương Luân là dòng dõi của Vương Dũ, vì không muốn nghề nghiệp gia truyền làm vàng mã bị mai một, nên cố gắng hết sức để chấn hưng nghề làm đồ mã, bèn lập mưu với người bạn thân, lên kế hoạch bí mật chết giả, bằng cách để người bạn thân đó giả vờ đau ốm cho mọi người biết, khoảng vài ngày sau Vương Luân loan tin người bạn thân đã qua đời, sau đó khâm liệm bỏ vào quan tài chờ ngày an táng. Nhưng sự thật thì người bạn của Vương Luân vẫn còn sống, tuy ở trong quan tài nhưng vẫn có lỗ trống ở dưới đáy để thở và đưa thức ăn vào. Đến ngày đưa đám tang, trong khi lễ nhạc linh đình, phúng điếu rộn rịp, Vương Luân đem giấy tiền vàng mã và những đồ dùng bằng giấy như nhà cửa, áo quần và hình nhân thế mạng, đích thân làm lễ cúng tế để cầu nguyện cho người bạn thân. Sau đó ông ta đốt hết giấy tiền vàng mã và hình nhân thế mạng. Khi đốt xong thì quan tài tự nhiên rung động, ai nấy đều mục kích rõ ràng, vội cùng nhau mở nắp quan tài ra. Người bạn thân của Vương Luân quả nhiên sống lại, đến trước mặt Vương Luân phủ phục xuống đất cảm tạ và thuật lại cho mọi người nghe rằng chư vị thần dưới âm đã nhận được vàng mã và hình nhân thế mạng nên thả hồn ông ta trở về cõi trần, nên ông ta mới được sống lại. Mọi người đều tin là thật và tin tức được loan truyền rộng rãi trong dân gian, nên đồ mã của Vương Luân sau đó lại được hưng thịnh như xưa. Nhờ thế các nhà buôn đồ mã lại làm giàu một cách nhanh chóng và phổ biến sang các nước chư hầu để tiêu thụ, trong đó có Việt Nam. Sau này do sự cạnh tranh nghề nghiệp, nên người bạn thân đã tiết lộ mưu kế gian xảo của Vương Luân.
Phe phản đối vàng mã thường dẫn câu chuyện trên trong Sách Trực Ngôn Cảnh Giác của Trung Quốc khi nói về “sự tích” của vàng mã. Sau đó thì họ cho rằng ngay từ sự hình thành vàng mã đã là gian dối, trái đạo lí rồi. Nhưng thực ra, đây không phải sự tích, vì sự tích là giải thích sự hình thành. Còn khi câu chuyện này xuất hiện, thì đã có vàng mã rồi (“không muốn nghề nghiệp gia truyền làm vàng mã bị mai một”). (Cũng như người ta hay nhầm là “sự tích cây khế” vậy. Có cây khế từ đầu câu chuyện rồi cơ mà! Phải gọi cho đúng là “cổ tích cây khế”.) Sự tích vàng mã có lẽ bắt nguồn từ câu chuyện Đường Nhân Mục và Hành Cảnh Lí Công là đôi bạn thân, khi một người mất, người kia quá tiếc thương nên đã cắt áo giấy hoá cho bạn, ai ngờ chiếc áo hoá thành thật.
“Tôi lại mời tướng Đường Nhân Mục
Kết bạn cùng Hành Cảnh Lí Công
Hai ông xưa vốn nghĩa tương đồng
Đốt áo giấy hoá ra áo thật
Kim ngân mã vật biến hoá ban ban
Trượng thần công biến hoá muôn vàn
Ấy là nghĩa kim đan thuở trước
Nay đốt mã theo đòi bắt chước
Lập đàn tràng đốt mã cho vong”
Như vậy có thể thấy, ý nghĩa ban đầu của tục đốt vàng mã rất nhân văn, nhằm tránh sự lãng phí của cải và thể hiện lòng hiếu thảo với tổ tiên, lòng thương tiếc đối với người đã khuất.

0 Nhận xét