Advertisement

 BÀN VỀ MỘT KHÍA CẠNH VỀ NGUỒN GỐC CỦA ĐẠI THỪA

Sau khi đăng bài “NHIỀU NGƯỜI NÓI PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA LÀ “DO TỔ TÀU NGHĨ RA”, PHẬT GIÁO VIỆT NAM LÀ DO “TÀU CHẾ” …”, có một bạn chia sẻ một tài liệu như thế này:



“Tầng lớp tăng lữ được ưu ái của giai cấp thống trị, đã có cuộc sống vô cùng giàu sang, chuyên theo đuổi việc biên soạn kinh điển và suy nghĩ những điều huyền học của đạo Phật. Thế nhưng, lý luận và thực tiễn của họ, ở một trình độ nhất định, đã tách khỏi đời sống xã hội và hoạt động thế tục, do đó đã tạo nên một bộ phận tăng lữ có tư tưởng cải cách và sự bất mãn của các môn đồ đạo Phật tại gia. Họ mong tìm thấy những tư tưỏng tín ngưỡng mới ở trong đạo Phật, do vậy dễ xuất hiện các Bồ Tát (Tập đoàn Bồ Tát) tu theo “đạo Bồ Tát” Đại thừa. Hơn thế,  còn phát triển thành những phong trào Đại thừa gồm những người tham gia tập đoàn Bồ Tát. Ngoài một số tăng lữ có tư tưỏng cải cách, đại bộ phận là tín đồ đạo Phật tại gia. Họ lễ bái tượng Phật, kính lễ tháp Phật, tìm xem Phật tích, tụng kinh thuyết pháp, hành vịnh Phạn bối, dùng các hình thức tỷ dụ, bản sinh, Phật truyện, kịch khúc để tuyên truyền tư tưởng thành đạo Bồ tát. Hơn thế nữa, trên cơ sở tư tưởng này đã biên soạn, sáng tác hàng loạt kinh điển, trước tiên có kinh Bát Nhã, về sau lại có kinh Tịnh thổ, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp hoa…” (trích Sách 10 Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới của tác giả Hoàng Tâm Xuyên)

Nguồn gốc của Phật giáo Đại thừa là một vấn đề rộng lớn. Nhiều nhà nghiên cứu đã dụng tâm tra tìm, khảo cứu, tranh luận xung quanh vấn đề này. Bản thân Nguồn gốc của Phật giáo Đại thừa cũng gồm nhiều yếu tố hợp thành, song trong nội dung ngữ liệu bàn luận trên ta có thể thấy tác giả nhấn mạnh vào nội dung: nguồn gốc Phật giáo Đại thừa bản chất là sự chống lại khuynh hướng “quý tộc hóa” về sinh hoạt và “siêu hình hóa” về lý luận.

Thực ra mà nói, cả 2 phái đều phải có sự bảo trợ của vương quyền mà mới có thể phát triển rực rỡ. Tuy nhiên, suy luận kiểu “Tầng lớp tăng lữ được ưu ái của giai cấp thống trị, đã có cuộc sống vô cùng giàu sang” là suy diễn kiểu văn mẫu theo mô thức được nhiều giáo trình kiểu cũ nêu lên. Thực chất thì trong tầng lớp tăng lữ, có xuất hiện những tăng lữ quý tộc giàu sang, nhưng những đại biểu tư tưởng tiêu biểu của cả 2 phái đại và tiểu thừa đều thuộc tầng lớp trung sản trung lưu xuất thân và sau đó là sống cuộc đời khổ hạnh, nếu không muốn nói là nghèo khổ. Văn liệu ghi lại, trước đại hội 4, “Lúc bấy giờ, các vị A la hán thấy tôn giả Thế Hữu (Vasumitra – đại biểu phái Đại thừa) mặc y phục luộm thuộm, đang đứng trước hành lang”. Phái Tiểu thừa thì ại càng chặt chẽ trong việc duy trì việc tỉ khâu không được nhận tiền bạc. Như vậy, ý niệm về Phật giáo Đại thừa ra đời gắn với việc phản ứng lại quá trình “quý tộc hóa tăng đoàn” là chưa thuyết phục.

Thứ hai là về vấn đề “siêu hình hóa” Phật giáo. Phong trào Đại thừa thường thấy như là sự phát triển những tinh túy sâu thâm của Phật giáo, ngược lại Tiểu thừa cốt lấy sự dễ hiểu, và lui tới quanh bộ Nikaya 5 quyển nặng về thuyết giảng ví dụ hơn là biện luận siêu hình. Mặt khác, nhìn trong một khía cạnh nào đó, lí luận phát triển lên trình độ nhất định sẽ được tầng lớp “tinh hoa” lí luận hóa, trở thành hệ tư tưởng – thậm chí là vũ khí lí luận. Các tác phẩm của cả 2 phái như A tỳ đạt ma câu xá luận (tiểu thừa); Đại thừa khởi tín luận (Đại thừa) đều cho thấy trình độ lí luận cao, suy luận sâu xa, sắc bén. Như vậy, không thể nói là vì tầng lớp tăng sĩ quý tộc trừu tượng, siêu hình hóa giáo pháp mà Đại thừa ra đời như một sự phản kháng bất đắc dĩ

“Đại chúng” của đại chúng bộ cũng rất đa dạng, chứ không chỉ là tầng lớp bình dân. Vì vậy, nhiều bộ phận đủ khả năng nhận thức để đọc và hiểu các vấn đề cao siêu, chứ không chỉ theo đạo Phật như một tín ngưỡng cầu xin – lễ lạy kiểu “đại bộ phận là tín đồ đạo Phật tại gia. Họ lễ bái tượng Phật, kính lễ tháp Phật, tìm xem Phật tích, tụng kinh thuyết pháp, hành vịnh Phạn bối, dùng các hình thức tỷ dụ, bản sinh, Phật truyện, kịch khúc để tuyên truyền tư tưởng thành đạo Bồ tát”

Ngoài ra, Tác giả cũng có vẻ nhầm lẫn vì: Jàtaka (Bản sinh) và Avadàna (thí dụ) là các đặc thù của thượng tọa bộ (tiểu thừa) chứ không phải của đại chúng bộ (đại thừa)

Như vậy, chúng ta thấy, lập luận của tác giả chưa chặt chẽ. Lỗi lập luận này là kết quả của việc áp dụng máy móc học thuyết xã hội duy vật vào lĩnh vực còn có ít thông tin, dẫn đến “biện chứng nhầm”. Có thể trong diễn biến nào đó của lịch sử, tác giả đã đúng, song vội vã kết luận như vậy là không thể được.

Qua đó, chúng ta cũng nên nhìn nhận lại suy nghĩ bấy lâu này rằng Phật giáo Đại thừa ra đời sau “Phật giáo nguyên thủy” (thực chất là Tiểu thừa - Phật giáo nguyên thủy đúng nhất là khi Phật tại thế đến sau Phật tịch khoảng 100 năm). Các yếu tố của Đại thừa cũng như Tiểu thừa đã ra đời ngay từ khi Phật còn tại thế, các kinh Đại thừa thai nghén ngay ngoài hang thất diệp cùng với lúc thượng tọa bộ kết tập trong hang thất diệp, mà sau này các học giả Đại thừa có công biên chép, củng cố lại thành các kinh điển (chứ không phải là “sáng tác hàng loạt kinh điển” như tác giả nói)

Đăng nhận xét

0 Nhận xét