THIỀN SƯ CHUYẾT CÔNG
Viên Văn Chuyết Chuyết (1590–1644) Thiền sư Viên Văn - Chuyết Chuyết, thường được gọi là Hòa thượng Chuyết Công, tên tục là Lý Thiên Tộ, sinh năm 1590, tại Tiệm Sơn, quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến, nước Trung Hoa. Thiền sư Viên Văn còn có pháp hiệu là Hải Trừng, thuộc phái thiền Lâm tế đời 31, truyền thừa theo bài kệ truyền pháp của Tổ sư Trí Bảng-Đột Không:
Trí Tuệ Thanh Tịnh,
Đạo Đức Viên Minh
Chân Như Tánh Hải
Tịch Chiếu Phổ Thông[1].
Ngài là một bậc danh tăng, góp phần rất lớn cho sự phát triển tông Lâm Tế tại Đàng Ngoài, được chúa Trịnh sắc phong "Đông đô thủy tổ"[2]
Cơ duyên và hành trạng
Sư quê ở Tiệm Sơn tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc . Mẹ Sư nằm mộng thấy từ rốn mọc lên một hoa sen, rồi có thai Sư. Sư ở trong thai mẹ đến ba năm mới sanh. Thuở bé, Sư thông minh đĩnh ngộ, học thông cả Ngũ kinh Tứ thư. Kế đi xuất gia lão thông Tam tạng giáo điển.
Ban đầu Sư đến tham vấn với Trưởng lão ở Tiệm Sơn. Trưởng lão hỏi:
- Ngươi tạo sự nghiệp gì?
Sư thưa:
- Giúp vua cứu dân.
Trưởng lão khen:
- Lành thay! Đây là chí xung thiên, song chẳng qua còn tham danh lợi. Lão sẽ cố gắng xem.
Sư do luận về công danh được tỉnh ngộ.
Sau Sư đến yết kiến Hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn. Hòa thượng thấy Sư thông minh mẫn tiệp bèn hứa nhận. Ngài bảo chúng rằng: "Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng." Ngài bèn đem yếu chỉ Tâm tông dạy cho Sư.
Sau khi Sư đắc pháp vân du khắp nước, giáo hóa mười phương. Học giả đương thời đều quí kính Sư. Danh tiếng của Sư vang khắp tùng lâm.
Năm 1630, khi nước Trung Hoa xảy ra cuộc nổi loạn của Lý Tự Thành và sau đó nhà Thanh đánh bại nhà Minh, xâm chiếm Trung Quốc, Thiền sư Chuyết Chuyết và một số đệ tử (trong đó có trưởng tử tài đức là Minh Hành-Tại Tại) lên thuyền bỏ nước, qua Chân Lạp. Không biết khi đến Chân Lạp, Thiền sư Viên Văn hoằng hóa ở địa phương nào? Có lẽ là Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử đã đến hoằnghóa ở vùng Đồng Nai vì thời đó, có một số đông dân Trung Hoa cũng đã đến đó khai khẩn đất đai làm ăn chung với người Việt. Người Việt đã đến vùng đất Đồng Nai của Chân Lạp từ lâu, và năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1613-1634) gả Công chúa Ngọc Vạn cho vua Chey Chetta II của Chân Lạp, đã xin với vua này cho người Việt đến sinh sống ở vùng đất Đồng Nai (từ Mô Xoài gần Bà Rịa đến cù lao Phố ở Biên Hòa); và năm 1623, chúa Sãi lại cử sứ giả xin vua Chân Lạp cho lập Sở Thuế ở Sài gòn(thành phố Prey Nokor) và Bến Nghé. Với việc lập cơ quan thu thuế ở Sài Gòn, có nghĩa là triều đình chúa Nguyễn đã có phái một đơn vị quân đội đến Sài Gòn để bảo vệ cho các quan chức Việt này, và vùng ày đã có đông dân chúng làm ăn, buôn bán.
Trong khoảng thời gian đó, nhiều người Trung Hoa cũng rời bỏnước vì cuộc xâm lăng của nhà Thanh qua đất Đồng Nai làm ăn sinh sống với sự can thiệp của vương phi Ngọc Vạn với triều đình Chân Lạp và với sự mặc nhiên cho phép của chúa Nguyễn. Chẳng những thế, Công chúa Ngọc Vạn với vai trò vương phi của vua Chey Chetta II đã can thiệp để một số người Việt và người Trung Hoa làm quan chức trong triều đình Chân Lạp hoặc để buôn bán, làm ăn ở kinh đô Oudong của Chân Lạp. Có thể Thiền sư Chuyết Chuyết và các đệ tử đã đếnĐồng Nai hoằng hóa trong thời vương phi Ngọc Vạn nhưng hiện chúngta chưa biết Thiền sư Chuyết chuyết hoằng hóa ở chùa nào ở Đồng Nai và hoằng hóa ở trong đó thời gian bao lâu? Có thể nói Thiền sư Chuyết Chuyết là một vị sư hoằng hóa sớm nhất ở Đồng Nai (Chân Lạp).
Sau một thời gian ở Chân Lạp, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử lại qua hoằng dương Phật pháp ở Chiêm Thành; chúng ta cũng chưa biết rõ Thiền sư Chuyết Chuyết hoằng hóa ở chùa nào, ở nơi nào và trong thời gian bao lâu? Có lẽ là hoằng hóa ở vùng Diên Khánh và Ninh Hòa (Khánh Hòa) ngày nay (?).
Tiếp theo đó, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử lại rời Chiêm Thành qua hoằng hóa ở Đàng Trong. Thiền sư Chuyết Chuyết ghé Qui Nhơn (Bình Định) và Thuận Hóa, nhưng hiện chưa biết ngụ ở chùa nào, ở đâu? Có thể trong thời gian hoằng hóa ở Chân Lạp vàĐàng Trong, Thiền sư Chuyết Chuyết chịu ảnh hưởng của phái thiền Trúc Lâm. (Có nhân duyên tham khảo kinh sách của phái thiền Trúc Lâm ở Đàng Trong, Khánh Hòa, Đồng Nai…).
Sau đó, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử lại lần ra Đàng Ngoài.Khi hoằng hóa ở Đàng Ngoài được biết rõ ràng hơn:
Trước tiên, Thiền sư Chuyết Chuyết dừng chân ở chùa Thiên Tượng thuộc trấn Nghệ An và chùa Trạch Lâm thuộc trấn Thanh Hóa hoằng hóa một thời gian (hiện ở chùa Trạch Lâm còn tượng chân dung Thiền sư Minh Hành - Tại Tại bằng đồng rất mỹ thuật).
Năm 1633, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử ra đến Đông Đô (kinh thành Thăng Long), có mang theo nhiều kinh sách, pháp tượng và pháp khí. Thiền sư Chuyết Chuyết ngụ tại chùa Khán Sơn để hoằng hóa Phật pháp, Phật tử đến tham học và quy y thọ giới rất đông, gồm cả người Việt và người Trung Hoa. Hoàng tộc vua Lê, chúa Trịnh, các quan tướng triều đình… cũng theo thọ giáo rất đông.
Sau một thời gian hoằng hóa ở chùa Khán Sơn, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử rời Đông Đô, đến hoằng hóa ở chùa Phật Tích hay chùa Thầy (chùa Vạn Phúc) trên núi Phật Tích, thuộc trấn Kinh Bắc (cách Đông Đô 30 km) về hướng Đông bắc. Trong thời gian Hòa thượng Chuyết Công hoằng hóa ở Chùa Phật Tích (chùa Thầy?), chúa Trịnh Tráng, vua Lê Thần Tông, Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) và một số vương phi, cung tần của vua Lê và chúaTrịnh xin thọ giáo quy y. Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623-1657) kính trọng Hòa thượng Chuyết Công như bậc thầy. Chúa Trịnh Tráng nhờ Hòa thượng cho người về Trung Hoa thỉnh kinh sách, pháp tượng và pháp khí qua Đàng Ngoài. Hòa thượng Chuyết Công phái đệ tử là Thiền sư Minh Hành-Tại Tại qua Trung Hoa thỉnh kinh. Kinh sách được thỉnh về được tàng trữ ở chùa Phật Tích, một số kinh sách được khắc bản gỗ và in lại để phổ biến ở Đàng Ngoài. Việc khắc bản in và bản gỗ được thực hiện và tàng trữ ở chùa Phật Tích.
Vào thời đó, các vua chúa ở Đàng Trong và cả Đàng Ngoài rất thường lập các trai đàn để cúng chiến sĩ trận vong và cúng vong hồn nghĩa sĩ chết trên bộ hay dưới nước. Trong các trai đàn này áp dụng nghi thức hành lễ trong sách "Thủy lục chư khoa".
Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) là con của chúa Trịnh Tráng, cùng con là Công nữ Lê Thị Ngọc Duyên (cháu ngoại của chúa Trịnh Tráng) đều xuất gia tại chùa Phật Tích. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc được ban pháp danh là Pháp Tánh, Công nữ pháp danh là Diệu Tuệ. Năm 1643, Ni sư Pháp Tánh xin với cha cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc (sau gọi là chùa Bút Tháp hay Nhạn Tháp).
Sau khi chùa Ninh Phúc trùng tu xong, Hòa thượng Chuyết Công được thỉnh qua trụ trì chùa này, Thiền sư Minh Hành-Tại Tại trụ trì chùa Phật Tích.
Hòa thượng Chuyết Công trụ trì chùa Ninh Phúc cho đến ngày viên tịch.
Ở Việt Nam, Sư giáo hóa được những đệ tử cốt cán như Thiền sư Minh Lương (người Việt), Minh Hành (người Hoa) v.v... xứng đáng hàng tiếp nối ngọn đèn chánh pháp.
Ngày 11, Khi sắp Tịch, sư dùng nước thơm tắm rửa, thân viết thụ ký di chúc cho đệ tử trưởng là Minh Hành nắm giữ đại giáo truyền đăng nối tiếp. Sư gọi chúng lại nói kệ dạy:
Tre gầy thông vót nước rơi thơm
Gió thoảng trăng non mát rờn rờn
Nguyên Tây ai ở người nào biết?
Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.
(Sấu trúc trường tùng trích thúy hương
Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương
Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự
Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương)
Đọc xong lời kệ, các đệ tử thút thít khóc, Thiền sư liền bảo: “Nếu ai động tâm khóc lóc thì không phải đệ tử của ta”.
Nghe lời, các đệ tử nín thinh, ngồi gõ mõ tụng kinh. Tiếng kinh kệ vang lên đều đều. Thiền sư Chuyết Chuyết lặng lẽ bước vào tháp Báo Nghiêm, đệ tử bịt cửa tháp lại. Không gian yên lặng đến kỳ lạ, con chim không hót, con khỉ chẳng thấy kêu. Nửa đêm ngày 15 tháng 3 năm 1645 (có nơi nói rằm tháng 7 năm Giáp Thân (1644)[3]), Sư ngồi yên thị tịch, thọ 55 tuổi, mùi hương lạ đầy chùa cả tháng mới tan. Vua Lê Chân Tông phong hiệu là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức thiền sư."
Thiền sư Minh Hành-Tại Tại và đồ chúng lập tháp Báo Nghiêm ở chùa Vạn Phúc (hay chùa Phật Tích) để an trí kim thân Hòa thượng Chuyết Công và tháp Vọng ở chùa Bút Tháp.
Tháp Báo Nghiêm ở chùa Bút Tháp hình bát giác cao 5 tầng, cao 13m, xây bằng 15 tảng đá xanh lớn nhỏ khác nhau, chồng lên nhau mà không hề có mạch vôi vữa (hay hóa chất giống xi-măng). Các tảng đá được mài bóng và chạm trổ giống ngọn bút, nên dân địa phương gọi là "Tháp Bút" hay "Bút Tháp". Vì vậy, chùa Ninh Phúc cũng được dân gọi là "chùa Bút Tháp". Tương truyền rằng: sau khi tháp Báo Nghiêm xây xong, có một đàn chim nhạn không biết từ đâu bay đến, đậu ở tháp nên chùa Bút Tháp còn được gọi là "chùa Nhạn Tháp". Chân tháp rộng 3m68 (phía trong tháp trống rỗng từ dưới lên đỉnh). Tầng dưới có cánh cửa bằng đá, đóng mở dễ dàng.
Thiền sư Minh Hành-Tại Tại nhờ cư sĩ Thanh Nguyên (tên Âu Dương Vựng Đăng, người Trung Hoa) viết bài văn khắc vào bia, gọi là "Hiển Thoại am Báo Nghiêm tháp bi minh" để kể về hành trạng của Hòa thượng Chuyết Công, bia được dựng vào năm 1645.
Bài văn bia này cho biết: Hòa thượng Chuyết Công có khí tượng lạ lùng và có tài cảm hóa người, được vua Lê tôn làm thầy, các bậc đại thần trong triều đình vua Lê chúa Trịnh đều kính phục. Trong bia có đoạn viết: "Tôi học Phật, lánh sang nước Nam, có dịp được hội đàm với Hòa thượng Chuyết Công ở chùa Khán Sơn ở kinh đô Thăng Long, lúc mới gặp, ta có thể nghĩ rằng Hòa thượng là người khùng, nhưng lâu ngày, tôi mới thấy Ngài là một người thông minh và phóng khoáng, trong tâm không còn vướng mắc điều gì cả. Ngài lại có tài biện luận, bỡn cợt cả với các bậc công khanh, đức độ trung hậu, kính già yêu trẻ, coi các bậc thiền giả như bạn thân, khinh tiền như cỏ rác…".
Hành trình của Nhục thân Thiền sư
Đệ tử chân truyền là Thiền sư Minh Hành đã dùng kỹ thuật tượng táng phổ biến thời bấy giờ để bó cốt thầy, rồi đặt ngài vào tháp Báo Nghiêm. Một thời gian sau, Thiền sư Minh Hành đưa nhục thân Thiền sư Chuyết Công vào một ngôi chùa tận trong Thanh Hóa để tránh chiến tranh, binh đao. Rồi không rõ nguyên nhân gì, các đệ tử lại đưa về nhà thờ tổ của chùa Phật Tích, sau đó đưa vào tháp Báo Nghiêm.[4] Lịch sử của Phật giáo ghi rõ thông tin về cuộc đời tu hành và nhục thân của Thiền sư Chuyết Chuyết như vậy.
Khoảng những năm 1980, kẻ trộm vào tháp Báo Nghiêm ở chùa Phật Tích, thấy tượng người, tưởng là tượng bằng đồng, nhưng lấy ra, chân bị gãy mới biết là xác người đã bị chết khô lại, nên bỏ chạy. [5] Có thể xác này là kim thân của Hòa Thượng Chuyết Công (Giống như kim thân của hai Thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm ở Chùa Đậu).
Tháng 8 năm 1989 tượng nhục thân Thiền sư Chuyết Chuyết được tìm thấy trên rừng mộ tháp, nhưng xương cốt còn tới 133 mảnh. Đống chất bồi làm tượng táng cũng cơ bản giống với chất bồi làm những pho tượng táng khác. Tuy nhiên, theo ý kiến của PGS, TS. Nguyễn Lân Cường, cách thức làm tượng táng Thiền sư Chuyết Chuyết thì hoàn toàn khác. Qua việc tìm thấy 7 đoạn dây đồng, PGS, TS. Nguyễn Lân Cường kết luận rằng, người ta đã không quét lớp bồi trực tiếp lên thân thể Thiền sư Chuyết Chuyết, mà dùng dây đồng dựng khung xương rồi mới quét lớp bồi.
Ngày 10.10.1992, bà Nguyễn Thị Lan - Phó ban di tích, chính thức đề nghị PGS, TS. Nguyễn Lân Cường đứng ra chịu trách nhiệm phục nguyên nhục thân Thiền sư Chuyết Chuyết. Tổ công tác được thành lập ngay gồm: họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, nhà điêu khắc Bùi Đình Quang, họa sĩ Nguyễn Đình Hiển, và PGS, TS. Nguyễn Lân Cường, chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp. Toàn bộ chi phí cho việc phục dựng được nhiều phật tử đóng góp vẻn vẹn chỉ có 5 triệu đồng- chỉ đủ tiền mua sơn ta, vàng lá để dát và một số nguyên vật liệu khác. Được sự giúp đỡ của Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh, Phòng Văn hóa huyện Tiên Sơn, ngày 12.1.1993, Tổ công tác đã chuyển 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi về Hà Nội để nghiên cứu. Sau quá trình tranh luận giữa các phương án khác nhau như: dùng dây đồng nối các xương lại, kết hợp với khung tre làm cốt để dựng tượng, ... Cuối cùng, Tổ công tác nhất trí theo phương án từng bước như sau:
1. Tái tạo pho tượng bằng đất sét theo tư thế ngồi Thiền.
2. Đổ khuôn pho tượng, bằng cách tạo các mảng khuôn.
3. Bồi Sơn ta, lót vải màn, rắc mạt cưa, trộn sơn ta tất cả là 10 lớp ở mặt trong của khuôn.
4. Gắn xương vào đúng vị trí giải phẫu bằng chất liệu sơn ta trộn với mùn cưa.
5. Khi sơn ta với lớp vải màn, mạt cưa đã khô cứng lại, tiến hành phá khuôn thạch cao ở bên ngoài, gỡ các mảnh bó cốt và gắn thành hình tượng thô.
6. Tiếp theo là các công đoạn làm sơn thông thường: “bó” hai nước, “hom” ba nước, “lót” hai nước và “thí” hai nước.
7. Thếp Bạc.
8. Quang dầu hai lần.
PGS, TS. Nguyễn Lân Cường đã cùng họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, nhà điêu khắc Bùi Đình Quang, họa sĩ Nguyễn Đình Hiển bỏ nhiều tháng trời nghiên cứu, phục dựng thành công pho tượng táng Thiền sư Chuyết Chuyết. Là nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam được theo học phương pháp phục chế lại mặt theo xương sọ của giáo sư M.M. Gheraximov, nên PGS, TS. Nguyễn Lân Cường dễ dàng phục dựng lại khuôn mặt của Thiền sư Chuyết Chuyết giống hơn cả pho tượng táng mà các nghệ nhân đã dựng cách nay mấy trăm năm.
Điều đặc biệt, PGS, TS. Nguyễn Lân Cường đã không cần dùng những sợi đồng để dựng khung xương như cách làm của người xưa với di hài của Thiền sư Chuyết Chuyết. Ông cùng nhóm phục dựng đã gắn xương vào đúng vị trí giải phẫu trên chất liệu bồi, rồi quét tiếp lớp bồi nữa như táng tượng bình thường. Ngày hoàn thành pho tượng táng là ngày đặc biệt đáng nhớ với PGS, TS. Nguyễn Lân Cường và nhóm phục dựng. Hàng ngàn người đã đổ về chùa Phật Tích chen nhau chiêm ngưỡng nhục thân vị Thiền sư đầy huyền thoại này.
Phong cách của tông Lâm tế dòng Chuyết công
Qua thời gian hoằng hóa ở nhiều nơi, tiếp thu những tinh hoa của Thiền phái Trúc Lâm ở Đại Việt, cũng như tư tưởng Tam giáo đồng nguyên và phong tục tín ngưỡng cổ truyền Đại Việt, phối hợp với tông phong của phái thiền Lâm Tế của Trung Quốc, Hòa thượng Chuyết Công và cao đệ là Thiền sư Minh Hành-Tại Tại, đã phổ truyền tông phong của phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài khác với tông phong thuần túy của phái thiền Lâm Tế xưa, thích hợp với hoàn cảnh Đại Việt, nhờ đó phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài (Lâm Tế pha Trúc Lâm và tín ngưỡng Đại Việt) phát triển rộng khắp Đàng Ngoài.
Chính vì phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài của Hòa thượng Chuyết Công và hai đệ tử này khác biệt với phái thiền Lâm Tế cũ nên Thiền sư Minh Hành-Tại Tại đã lập một bài kệ truyền phái mới cho phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài thay thế cho bài kệ truyền pháp cũ
Phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài phát triển mạnh với nhiều thiền sư tài đức nổi danh và truyền thừa cho đến sau này như: Chân Nguyên, Chân Trú, Chân An, Chân Hiền, Như Trừng (Lân Giác), Như Hiện (Nguyệt Quang), Như Trí, Như Sơn, Như Nhàn, Như Thông,Tánh Tuyền, Tánh Tuyên, Tánh Quản, Hải Thanh, Tịch Truyền, Chiếu Khoan,…
Thiền sư Chân Nguyên-Chánh Giác đã kết hợp tông phong của phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài và phát huy mạnh truyền thống của phái thiền Trúc Lâm, phục hưng và phát triển mạnh phái thiền Trúc Lâm Yên Tử ở Đàng Ngoài.Tổ sư Chân Nguyên chẳng những nhiệt tâm trong việc khắc in lại các kinh sách cũ của phái thiền Trúc Lâm mà còn biên soạn và sáng tác nhiều tác phẩm Thiền học chữ Nho và chữ Nôm còn truyền đến ngày nay. (trong đó phải kể đến Thủy lục chư khoa)
Kệ truyền thừa
Vào năm 1630, Thiền Sư Viên Văn – Chuyết Chuyết (1590–1644) từ Trung Hoa sang Việt Nam hoằng hóa. Ngài đến Đàng Ngoài được các chúa Trịnh đón tiếp và trợ duyên trong việc hành đạo. Thiền Sư Viên Văn – Chuyết Chuyết nối pháp đời 33 tông Lâm Tế nên khi sang Đàng Ngoài Ngài truyền xuống đời 34. Đệ tử của Ngài có hai vị nổi danh là Minh Hành – Tại Tại và Minh Lương. Ngài Minh Hành – Tại Tại (1596–1659) trú trì chùa Phật Tích biệt xuất kệ truyền pháp như sau:
明 眞 如 性 海 Minh Chân Như Tính Hải
金 祥 普 照 通 Kim Tường Phổ Chiếu Thông
至 道 成 正 果 Chí Đạo Thành Chính Quả
覺 悟 証 眞 空 Giác Ngộ Chứng Chân Không.[6]
Kế thừa Thiền Sư Minh Hành – Tại Tại, các vị đời thứ 2 của phái này như Chân Trú, trú trì chùa Hoa Yên Núi Yên Tử; Diệu Tuệ, trú trì chùa Phật Tích; Chân Nguyên – Tuệ Tĩnh (ban đầu xuất gia với Ngài Chân Trú, sau cầu pháp với Ngài Minh Lương). Thế hệ thứ 3 có các Ngài Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn, Như Trí v.v… đều là những bậc danh tăng
Tác phẩm "CHUYẾT CÔNG NGỮ LỤC"
Chuyết Công ngữ lục là loại ngữ lục do Minh Hành Tại Tại, một vị đại đệ tử của Chuyết Công biên soạn vào thế kỷ XVII. Văn bản được thể hiện ở dạng bản in gỗ với nét chữ còn sắc nét, dễ đọc. Cuốn cách có kích thước 29 x 16 cm với chất liệu giấy dó, gồm 3 quyển. Phần mở đầu gồm 10 tờ, mỗi tờ có 14 hàng, mỗi hàng có 13 chữ có tiêu đề Tổ sư xuất thế thực lục. Quyển 1 và quyển 2 có 26 tờ (trong đó, quyển 1 có 6 tờ), mỗi tờ có 22 hàng. Mỗi hàng có 20 chữ, tiêu đề là Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục. Quyển 3 có 22 tờ, trừ tờ 2a có 5 hàng, tờ 8a và tờ 11a có 4 hàng và tờ 22a có 8 hàng, các tờ còn lại đều có 22 hàng, mỗi hàng có 20 chữ, tiêu đề là Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục hoặc vấn (tất cả các tờ giấy in, khi đóng thành sách đều được gấp đôi). Ba quyển trên được đóng thành một tập, với tổng số khoảng 21.600 chữ.
Nội dung thuyết giảng của Chuyết Công
Quyển 1 và quyển 2 có tiêu đề Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục. Với độ dài khoảng 11.440 chữ, quyển 1 và quyển 2 được tác giả ghi chép lại các bài thuyết pháp của Chuyết Công, mà trong đó ngài đã thể hiện tư tưởng Phật học của mình trên nhiều phương diện: Bồ đề, pháp giới, về các nguyên tố hóa học cấu tạo nên cơ thể con người, về các hình thức sản sinh ra muôn loài, về phương pháp học đạo và lợi ích của việc học đạo, về bản tâm, về tam không, về mối quan hệ giữa giác và tình, về tứ niệm sứ, về mối quan hệ và lợi ích của niệm Phật niệm pháp niệm tăng, về hữu vô tam muội, về mối quan hệ giữa Phật và pháp, về hiệu quả khác nhau đối với mỗi đối tượng khác nhau khi nghe thuyết pháp, về quán tự tại…
Những vấn đề trên mặc dù đều nằm trong nội dung giáo lý của Phật giáo, nhưng với trình độ quảng bác cả về Nho, Phật, Lão và đặc biệt là cách nhìn biện chứng, Chuyết Công đã khiến người đọc không những ngày xưa mà cả ngày nay, nhận thấy ở đây có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo và Phật giáo ở một nhà tu hành. Khi nói về qui y, Chuyết Công nói: "Cửa Khổng lấy tam cương, ngũ thường; họ Thích lấy tam qui ngũ giới, tên tuy có khác nhau nhưng lý thì là một. Qui y Phật là sợ thiên mệnh, qui y pháp là sợ lời nói của thánh nhân, qui y tăng là sợ đại nhân[1]. Một đoạn khác, khi đề cập đến ngũ giới của đạo Phật, Chuyết Công đối chiếu với ngũ thường của đạo Nho. Ngài nói: "Cũng như ngũ thường của thế gian, không sát sinh là nhân, không trộm cắp không tà dâm là lễ, không vọng ngôn ký ngữ là tín, không uống rượu là trí"[2]. Hay bàn về giặc bên trong (nội tặc), Chuyết Công nói: "Nội tặc này là rất khó phòng bị. Duy có bậc trí giả là có thể xét tìm giặc trong thân tâm mình, để chế khắc, dốc lòng tu thân. Vì vậy nói: tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nhưng trong đó chưa có ai tu thân lại không xuất phát từ minh tâm, chưa có ai trong minh tâm lại không xuất phát từ hiểu biết thế giới. Vì vậy nói: chí tri tại cách vật". Khi thuyết giảng về vấn đề học đạo, minh tâm, kiến tính, thành Phật,… Chuyết Công dẫn câu trong Kinh Thư: "Bản lập nhi đạo sinh", nhằm giải thích cho rõ thêm ý nghĩa của việc học đạo…
Trong 14 vấn đề mà Chuyết Công trình bày trong bài giảng của mình, vấn đề nào cũng được Chuyết Công so sánh học thuyết của Phật với học thuyết của Nho gia để củng cố quan điểm của mình. Ngài cũng nhiều lần dẫn Luận ngữ và các kinh điểm khác của Nho gia.
Với cách thể hiện như trên, chúng ta thấy vị tăng sĩ này có nền tảng học vấn Nho học rất chắc chắn, biết sử dụng nền học vấn ấy vào việc giảng đạo, thuyết pháp của mình thật đắc địa.
Trong quyển 3 có tiêu đề Chuyết Chuyết tổ sư ngữ lục hoặc vấn, người biên soạn ghi lại 64 vấn đề mà Chuyết Công đối thoại với ba vị quan chức tước công của nhà Trịnh. Đó là Dũng Lễ công, Chưởng giám Tư lễ Thái bảo Tuấn Quận công và Cổn Quận công.
Trước hết là 16 vấn đề do Dũng Lễ công nêu ra và nội dung trả lời của Chuyết Công.
Câu đầu tiên, Dũng Lễ công hỏi: "Trong Tam giáo Nho, Đạo, Thích, giáo nào là tôn quí?". Trả lời: "Nho giáo có ngũ thường, úy thiên, trung thứ,… Đạo giáo có tam nguyên ngũ khí, tu tâm luyện tính, vận khí thông thần, Thích giáo có tam qui ngũ giới, minh tâm kiến tính. Với Nho gia, quả dục là chính nhân quân tử; Đạo gia, vận khí là trường sinh bất lão; Thích gia, vô tâm là bất sinh bất diệt (…). Nho như tinh tú, Đạo như mặt trăng, Thích như mặt trời (…). Nho lấy kinh bang tế thế để tề gia trị quốc, bình thiên hạ; Đạo giáo lấy luyện thân để chính khảm ly, trường sinh bất lão; Thích giáo lấy minh tâm để viên quang phổ chiếu, tịch diệt làm vui. Tam giáo đều được sinh ra từ một tâm mà có sai biệt chút ít. Người trí tự nghĩ đều là tốt cả".
Những vấn đề khác, Dũng Lễ công đều hỏi xoay quanh vấn đề Phật pháp và đã được Chuyết Công giải đáp rất rõ ràng, cụ thể, có sức thuyết phục.
Ngài Chưởng giám Tư lễ Thái bảo Tuấn Quận công hỏi Chuyết Công 7 vấn đề. Các vấn đề được đặt ra đều xoay quanh nhân cách con người của nhà sư. Chẳng hạn những câu: "Thiên triều nước lớn không ở, vì cớ gì lại đến nước nhỏ?", "Cầm thú còn biết ơn bố mẹ, vì cớ gì lại xả bỏ thân ân xuất gia, như vậy chẳng phải là bất hiếu lắm sao?", "Tu hành sao không ở núi sâu mà lại vào thành thị để giáo hóa đàn bà con gái là như thế nào?". Ngài Quận công này còn hỏi: "Thích-ca là như thế nào?"… Toàn là những câu dễ gây tự ái cho người bị hỏi hoặc như là sự xúc phạm đối với nhà tu hành Phật giáo. Nhưng bằng sự hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực và sự từng trải, Chuyết Công đã bình tĩnh trả lời rành rõ và có sức thuyết phục trên từng vấn đề mà ngài Quận công này nêu ra.
Vị quan chức thứ ba tham vấn Chuyết Công là ngài Chưởng giám Cổn Quận công. Cổn Quận công hỏi 41 vấn đề, hầu hết có nội dung về lai lịch đức Phật và các vị Bồ tát, về các vị cao tăng Việt Nam như: Tuệ Trung thượng sĩ, Giác Hoàng Điều Ngự, Huyền Quang, Không Lộ, Giác Hải, Đạo Hạnh… Cũng như đối với hai vị quan chức trên, các vấn đề do Cổn Quận công nêu ra đều được Chuyết Công giải thích rõ ràng khiến vị Quận công này phải "tâm phục khẩu phục".
Chuyết Công ngữ lục không cho chúng ta biết những cuộc trao đổi trên giữa ngài với ba vị quan chức trên diễn ra vào năm nào. Nhưng chắc chắn là khi ngài mới đặt chân lên đất Thăng Long và trước khi Dũng Quận công tôn ngài làm tổ sư và các vị hoàng phi cung tần, quận chúa thành kính, ngưỡng mộ nghe ngài thuyết giảng và qui y đạo Phật. Điều đó chứng tỏ rằng Chuyết Công có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần thời Lê Trịnh ở Việt Nam.
Ngoài Chuyết Công ngữ lục, sách Thiền uyển kế đăng lục cũng cho chúng ta biết, Chuyết Công là vị tăng sĩ Trung Hoa đầu tiên truyền thiền phái Lâm Tế vào Việt Nam, đã từng trụ trì và thuyết giảng đạo Phật ở nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta. Và có thể ngài là vị thiền sư đầu tiên đưa ra cách bài trí tượng trong chùa ở miền Bắc Việt Nam, mô phỏng theo cách bài trí của chùa Trung Hoa Hán truyền mà trước đó chưa có.
Tham khảo
[1] Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài
[2] Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài - Chương 2: Hòa thượng Chuyết Công với phái thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài - 1. Thiền sư Viên Văn - Chuyết Chuyết (1590 1644)
[3] Hòa thượng Chuyết Công (1590 - 1644) (Đời pháp thứ 34, tông Lâm Tế)
Chú thích
- ^ “Truyền Thừa Pháp Phái Dòng Thiền Lâm Tế”.
- ^ “Hành trình truyền bá tông Lâm Tế của Chuyết Chuyết ra Đàng Ngoài”.
- ^ “Ẩn số nhục thân Thiền sư người Trung Quốc tại chùa Phật Tích”.
- ^ “Nhục thân Thiền sư Trung Quốc tại chùa Phật Tích”.
- ^ “THIỀN SƯ VIÊN VĂN - CHUYẾT CHUYẾT (1590 -1644) VỚI PHÁI THIỀN LÂM TẾ Ở ĐÀNG NGOÀI”. line feed character trong
|tựa đề=tại ký tự số 47 (trợ giúp) - ^ “Các bài kệ truyền thừa của tông Lâm Tế tại Việt Nam”.

0 Nhận xét