Advertisement

CHỦ ĐỀ VỀ QUAN ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN

 1. Lạm bàn về vấn đề vị trí của “Đương niên hành khiển” trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam



Đương niên hành khiển (當年行譴) được hiểu là một vị thần cai quản của một năm, thay mặt thượng đế trách phạt những hành vi sai trái trong thiên hạ. (chữ khiển - 譴có nghĩa là khiển trách)

Ta lại có một khái niệm khác, đó là khái niệm “thái tuế” (太歲). Thái Tuế là một khái niệm đa nghĩa. Đây vừa là tên gọi của một vị thần theo tín ngưỡng dân gian (Thái Tuế Tinh Quân) vừa là tên gọi của một sao trong phong thủy (Mộc tinh). Thái tuế còn gọi là Tuế âm, là một hư tinh có liên quan đến sự vận hành của tuế tinh (tức mộc tinh). Sau này diễn biến thành một hình thức tín ngưỡng. Tuy vẫn có những tài liệu coi đây không phải là một sao xấu, thần ác, ví dụ như nhà mệnh toán thời Thanh – Viên Thụ San có nói: 夫太歲,至尊,非煞也 - “Phù thái tuế, chí tôn, phi sát dã” (sao thái tuế này, là chí tôn, không phải là sao sát); thế nhưng đa phần dân gian coi như đây là một ác thần, gặp ắt có tai nạn. “Thái tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa”, “thái tuế xuất hiện lai, vô bệnh khủng phá tài”. 

Có lẽ chính vì vậy mà tại Việt Nam đã đồng nhất 2 hệ thống thần “đương niên hành khiển” và “Thái tuế” làm một, trở thành một vị thần vừa mang tính chất “niên thần” vừa mang tính “khiển thần” – tức là thành “Đương niên thiên quan … vương hành khiển thái tuế chí đức tôn thần” 當年天官某王行譴太歲至德尊神. Vì vậy Việt Nam không xuất hiện hệ thống 60 Thái tuế thần như của Trung Quốc mà chỉ có hệ thống 12 hành khiển trong tín ngưỡng dân gian. Vị trí vai trò của 2 bên đều tương đương nhau. Dân gian Việt Nam luôn mua một bộ mũ mã cung phụng Đương niên hành khiển trong một năm, tương ứng với việc lập bài vị phụng Thái tuế trong năm ở Trung Quốc. Trung Quốc có tục chạp nguyệt hoàn Thái Tuế, sơ bát lại bái thỉnh thái tuế. Ngày 23 tháp chạp dân gian Việt Nam tiễn chư thần triều thiên, đến minh niên lại nghinh thỉnh hạ giới, …

2. Nguồn gốc Danh hiệu của thần Đương niên

Nhiều người cho rằng: “Quan niệm truyền thống được ghi chép trong sử sách của Việt Nam từ xưa tới nay đều dựa vào các sự tích của Trung Quốc!”, “Trung Quốc họ đã rất khéo léo nhân thần hoá và suy tôn các vị vua của họ làm các vị hành khiển của 12 địa chi … Chính vì vậy danh sách tên các vị thần này hầu hết là vua các triều đại Trung Hoa”, “muôn đời con cháu Nước Việt sẽ chỉ biết thờ cúng các vị vua Trung Quốc và rước vua Trung Quốc hành khiển, hành binh, và phán quan tại Việt Nam. Chúng ta bị đô hộ hàng ngàn năm và đến nay chúng ta vẫn tiếp tục thờ cúng họ để bị đô hộ cả về tâm linh thì không thể chấp nhận được!”

Thử hỏi nếu 12 hành khiển này là sản phẩm của người Hán thì tại sao nó đã biến mất không dấu vết trong văn hóa Trung Quốc ngày nay? Việt Nam thì không có 60 Thái tuế thần, Trung Quốc lại không có thập nhị niên vương hành khiển là lí làm sao?

Tra kỹ các từ điển thông dụng, các trang web Trung Quốc, hầu hết đều cho ra kết quả “Hành khiển” là một chức quan, không có liên hệ gì đến các tín ngưỡng dân gian. Thậm chí thường viết là “行遣” chứ không tồn tại dạng thức “行譴”

Điều này chẳng đáng nghi lắm sao?

Như vậy, có lẽ rằng, hệ thống thập nhị hành khiển này dùng 12 họ thông dụng trong văn hóa Hán để làm một loại số thứ tự mà thôi. Giống như cách đánh số bằng giáp ất bính đinh … (thiên can), hay càn nguyên hanh lợi trinh, càn khảm cấn chấn … Cách đánh số ấy là xuất phát từ văn hóa Hán, nhưng tác giả thì đâu nhất thiết là người Hán???Hpn nữa, Nó không liên quan gì đến việc “suy tôn”, “phong thần” cho các đời vua cả. Vì sao? Vì vua là “thiên tử” đứng trên thần, sắc phong cho các thần, nay sao lại hạ cấp, trở thành thần để người ta thờ cúng? Như vậy suy luận kiểu này trái với cơ sở văn hóa Hán cũng như văn hóa Việt. Và nếu như hệ thống này không phải là của người Trung Quốc thì cần gì phải rỗi hơi như một số “đại sư”, tìm cách gắn các nhân thần Việt Nam vào hệ thống thập nhị hành khiển theo kiểu “Năm Hợi chủ tịch Hồ Chí Minh hành khiển, Võ Nguyên Giáp hành binh chi thần, Lê Duẩn phán quan”??? Gán ghép kiểu đó vô cùng nhố nhăng, chẳng thể lấy cái vỏ bọc “Dân ta phải suy tôn các anh hùng hào kiệt của dân tộc ta”, “uống nước nhớ nguồn”, … để che đậy được.

 


3. Danh hiệu thiên quan, phán quan đâu mới là đúng???

Xuân 2021 nhiều người tranh cãi là danh hiệu năm nay là Mộc hay Lý hay Quý tào phán quan. Đây cũng là việc cần khảo cứu.

Theo dõi trong bảng đi kèm, ta thấy, Phần danh hiệu Thiên quan hay phán quan có nhiều chỗ chưa thống nhất. Những chỗ có dấu “/” là đang có sự khác biệt của các tài liệu. trước dấu “/” là theo các tài liệu thông dụng ngoài bắc (chủ yếu là Ngọc Hạp thông thư). còn sau dấu “/” là đối chiếu theo bản “Công văn tập yếu cát hung thông dụng”, do Thư viện Huệ Quang ấn khắc. Bản này gồm 118 trang đôi, được các nơi sao lưu lại, không rõ năm khắc, nơi tàng bản. Căn cứ vào mục “Bình định tỉnh thập tháp tự”, có lẽ bản này là tập công văn của một chùa miền Trung. Cả phong cách hành văn, dùng từ, dung duy, các thánh hiệu cũng cho thấy điều đó. 

Theo thiển nghĩ của ngu mỗ, cách viết của cuốn “Công văn tập yếu cát hung thông dụng” có lẽ là chưa chính xác. Lí do:

- Theo lịch sử, các sách khoa giáo truyền từ Bắc vào Nam, trong quá trình truyền có thể bị tam sao thất bản. Vì thế bản “Công văn tập yếu cát hung thông dụng”, có độ chính xác ít hơn các tàng bản ngoài bắc

- Ta thấy một số dấu vết của hiện tượng trại âm, do tam sao thất bản như: “Thành/ Hành tào phán quan”, “Đẹp Lung (Lòng?) Ngũ Kim Ấn Vương Phù”; hay nhầm những từ viết gần giống nhau như “Lý /Quý /Mộc Tào Phán Quan”, “Tiêu /Tước Tào Phán Quan”, …

- Các họ trong tàng bản miền bắc là các họ thông dụng của Trung Quốc cũng như Việt Nam, riêng các họ trong “Công văn tập yếu cát hung thông dụng” là những họ rất hiếm thấy, càng khẳng định thêm điều đó. Ví dụ như họ Mộc, họ Ký, họ Y, …

Một số quan điểm cho rằng, một bên là cách ghi danh hiệu hành khiển đương cai (dùng thường xuyên), một bên là danh hiệu hành trình đạo lộ (chỉ khi nào lễ đạo lộ hà bá), và cả 2 đều đúng. Điều này chưa có căn cứ tại tài liệu nào, cũng như ngay chính trong bản “Công văn tập yếu cát hung thông dụng”


4. Y áo, vũ khí của quan hành khiển 

Nhân đây cũng bàn về y áo, vũ khí mà các quan hành khiển mặc, được ghi lại trong các văn bản trên. Thư liệu do cổ nhân truyền lại không rõ căn cứ vào đâu để xác định màu này quan phục cũng như vũ khí.

Trong quá trình hành trì, nhiều người không khỏi băn khoăn là: “Năm nay cúng quan hành khiển thì dùng mã màu gì, pháp khí gì?”.

Có ý kiến cho rằng: Nên căn cứ theo Ngọc hạp thông thư và các thư liệu như trên.

Có ý kiến lại cho rằng: “Năm Sửu hay tý, tuất, ... hợp với màu nào thì cúng ngựa màu đó trong giao thừa.”(căn cứ vào địa chi) hay “năm hành Kim (Canh, Tân) - mầu vàng” (căn cứ theo thiên can)

Có ý kiến có lẽ mang tính cảm tính cho rằng: “Tạ mộ thanh minh ngựa trắng hay xanh lá cây, động thổ cất nóc ... ngựa đỏ ngựa vàng, cuối năm nghĩa là bước sang năm mới tết cổ truyền 30 tháng 12 nếu cúng ngựa thì là ngựa tím. Ngựa hồng ... chỉ có người theo mẫu thánh thờ thần hoàn hay lễ giải ách ... thì họ sử dụng ngựa hồng”. Luận màu sắc như vậy vừa không có căn cứ mà vừa vô nguyên tắc. Việc này gần giống với việc suy luận theo kiểu “giá nào màu nấy” của một số cô đồng khi “lấn sân” sang vấn đề cúng bái.

Trong Nam lại có lối sử dụng 1 bộ xanh (hay vàng) cúng cụ cựu niên, 1 bộ đỏ cúng cụ tân niên

Vấn đề là bây giờ giải quyết sao?

Thực tế, đây là lễ vật nhân gian tiến cúng thiên quan, không có lễ vật, thì các ngài vẫn có ngựa, y, khí vật sử dụng.

Vì vậy, dâng gì là tùy tâm, và nhờ “hỏa quang quang tam muội biến tùy nghi” vậy.

Có lẽ màu thông dụng nhất, dễ được chấp nhận và sử dụng nhất là màu đỏ: màu dùng chung cho các quan thần linh, màu của vượng khí, màu của năm mới ấm áp và xum vầy.




Đăng nhận xét

0 Nhận xét