Advertisement

MẠN ĐÀM VỀ VIỆC “NÓI LỖI” NGƯỜI XUẤT GIA

 

MẠN ĐÀM VỀ VIỆC “NÓI LỖI” NGƯỜI XUẤT GIA

HỎI: thưa thầy! Im lặng trước những cái sai trái thì có tội không ạ! Mà khi lên án cái sai trái thì lại cho là đụng đến chư tăng (vùng cấm ạ!) Ngay cả các chức sắc trong giáo hội biết, nhưng xử lý cho qua loa! Quan điểm ai tu người đó được! Ai nói gì kệ họ! Ngại đụng chạm! Các vị có chức sắc trong giáo hội xử lý những vụ việc làm ảnh hưởng đến phật giáo vừa qua làm dân chúng và dư luận người ta không thấy thấu tình đạt lý! Quan điểm của cá nhân thầy về vấn đề này thế nào ạ?



ĐÁP:

Có lẽ đây cũng là tâm lí của nhiều Phật tử (đúng pháp lẫn tự nhận) trong thực trạng hiện nay – đạo hạnh của một bộ phận tăng ni suy thoái.

Giữ cái đầu lạnh lại một chút hôm nay chúng ta sẽ MẠN ĐÀM VỀ VIỆC “NÓI LỖI” NGƯỜI XUẤT GIA, trên cương vị một công dân, một Phật tử, phải làm gì để “bảo vệ chánh pháp” cho thỏa cái lòng mong mỏi của mỗi người

Xưa nay lúc bàn về giới luật, các vị tổ sư thường chỉ chú trọng đến luật Phật chế, và bàn về 2 mặt: tính tội – giá tội. Có lẽ như thế chưa đủ. Với mục đích, giải tỏa tâm lí đám đông, chúng ta nên nhìn nhận trên 2 mặt Trên góc độ thế tục - luật pháp quốc gia và góc độ giới luật Phật pháp

1. Trên góc độ thế tục - luật pháp quốc gia

Đứng trên góc nhìn này, nhà sư cũng là một công dân bình thường, và mọi người bình đẳng trước pháp luật - KHÔNG CÓ GÌ GỌI LÀ "VÙNG CẤM" CẢ. Nếu ai có bằng chứng có thể tố cáo với cơ quan công an theo đúng quy trình (có đơn thư, có bằng chứng). Đơn ghi: tố cáo công dân: Nguyễn Văn A (Tên khác: Thích …)

Thế nhưng đã đứng trên góc nhìn này thì chỉ xem xét theo các quy định của pháp luật nhà nước mà thôi. Vì phạm luật nhà nước thì đương nhiên phạm luật Phật chế, nhưng ngược lại thì chưa chắc, tức là phạm luật Phật chế, nhưng họ vẫn là công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Vì thế nên nếu không có hành vi vi phạm pháp luật, thì dù nhà sư phạm đủ Ba la di tội (tội nặng nhất) thì người khác cũng không có quyền được gọi, được đánh giá họ là "ma tăng", "giả tu", ... Hay những loại miệt thị đại loại vậy. Và nếu không cớ chứng cứ, đối với pháp luật thế tục, có thể người phỉ báng phải đối mặt với tội "Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác"

2. Về góc độ giới luật Phật pháp

a. Khi người xuất gia phạm luật Phật chế

Khi người xuất gia phạm luật Phật chế nếu người khác biết, thì khuyên can người đó 3 lần

Sau khi khuyên ba lần mà vẫn phạm, thì CHƯ TĂNG CỬ HÀNH PHÁP YẾT MA thích hợp theo luật Phật chế. Yết ma tức là hội nghị - trong trường hợp này hội nghị để cử tội - kết tội - trị tội

Việc cử tội - kết tội - trị tội này KHÔNG THAY THẾ CHO SỰ XỬ LÝ TỘI THẾ TỤC CỦA CƠ QUAN PHÁP LUẬT. (tức là: nếu phạm cả tục luật và thánh luật thì bị xử 2 lần)

Tùy trường hợp mà phải làm yết ma theo quy mô khác nhau: phải đủ 20 vị tăng thanh tịnh, 10 vị, 5 vị, ...

Hình thức xử lý do Phật chế thì nặng nhất là đuổi ra khỏi tăng đoàn, không có đòn roi đánh đập hay bắt giam bỏ tù, ... (Nên một số người cho rằng giáo hội xử lý ... nhẹ, chưa đủ đã cái nư của họ. Tội gì họ cũng muốn tẩn xuất, ...)

Một điều nữa, Luật Phật chế có điểm đặc biệt. Yết ma là phép cứ hành “kín”. Ví dụ, Cử tội tỉ khiêu tăng thì 6 chúng còn lại không được đến nghe, xem. Không phải là tỉ khiêu tăng thì cấm không được nghe cử tội, luận tội, kết tội tỉ khiêu tăng (kể cả đã đi tu, thụ Sa di, sa di ni, thức xoa). Nếu người thế tục nghe trộm yết ma thì trọn đời mất căn lành, không được xuất gia nữa. Vì thế, giáo hội có xử gì, xử như thế nào, kết tội ra sao, người tại gia không có phận sự miễn bàn – đây là quan điểm có căn cứ trong luật Phật chế. HT. Thánh Nghiêm viết: “Tỳ kheo có thể cử tội của bảy chúng. Tỳ kheo ni thì trừ Tỳ kheo ra có thể cử tội sáu chúng. Chúng xuất gia có thể cử tội chúng tại gia. CHÚNG TẠI GIA KHÔNG ĐƯỢC CỬ TỘI CHÚNG XUẤT GIA. Tuyệt đối chẳng được tuỳ tiện cử tội của người khác. Đây không phải Phật bày ra để che chở Tỳ kheo, nhưng do vì Tỳ kheo có thể nghiên cứu tất cả giới luật, có thể dạy răn tất cả mọi người, còn các chúng khác đều không có khả năng ấy. Tỳ kheo ni chẳng được nghiên cứu giới Tỳ kheo thì làm sao biết Tỳ kheo phạm giới gì? Hai chúng tại gia chẳng cho nghe tụng đại giới, đâu biết rõ nội dung của Đại luật mà chỉ trích người xuất gia phạm giới? Người xuất gia có quy chế Tăng đoàn của người xuất gia, người xuất gia phạm giới tự có sự chế tài của Tăng đoàn, người tại gia đâu được vượt bực phạm thượng cử tội? Đồng thời, một người tại gia chưa thông Đại luật, chưa có nhận thức thông suốt về khai giá trì phạm của Đại luật mà cử tội người xuất gia thì cử tội không đúng. Vì thế nếu người xuất gia phạm giới, chúng tại gia chẳng những không được cử tội, mà ngay cả can gián cũng không đủ tư cách nữa”

b. Thế nào là "nói lỗi" người xuất gia

"Nói lỗi" là gì? Ở đây hiểu theo nghĩa: chỉ trỏ, bêu rếu, rèm pha, buôn dưa lê, bán dưa chuột, khinh bỉ, miệt thị, ... Về tội lỗi người xuất gia. Tức là "nói lỗi" ở đây không có bất cứ nét đồng nghĩa nào với "phê bình", "góp ý", "đóng góp xây dựng", ... cho người phạm lỗi

c. Có nên "nói lỗi" người xuất gia - tác hại của việc nói lỗi người xuất gia

- Căn cứ trong luật tạng:

Về phía luật Thanh văn: Luật Tát Bà Đa nói: “Thà làm tội ác phá tháp hủy tượng, quyết không đi rao nói tội lỗi của người xuất gia. Nếu rao nói tội lỗi của người xuất gia tức là phá hoại Pháp Thân của Phật”

Về phía Bồ tát giới: Kinh Phạm võng có nêu tội "Nếu Phật tử miệng tự rao nói tội lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, tỳ kheo, tỳ kheo ni, hoặc bảo người rao nói những tội lỗi ấy; nhân rao nói tội lỗi, duyên rao nói tội lỗi, cách thứ rao nói tội lỗi, nghiệp rao nói tội lỗi. Là Phật tử khi nghe những kẻ ác ngoại đạo, cùng người Nhị Thừa nói những điều phi pháp, trái luật trong Phật pháp, thời phải luôn có lòng từ bi giáo hóa những kẻ ác ấy, khiến họ sanh tín tâm lành đối với Đại Thừa. Nếu trái lại, Phật tử lại tự mình rao nói tội lỗi trong Phật pháp, Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội." (1 trong 10 trọng tội)

- Phân tích thêm các tác hại và dẫn chứng sự thực từ kinh văn

Tại sao nói: “Thà làm tội ác phá tháp hủy tượng, quyết không đi rao nói tội lỗi của người xuất gia”. Vì: phá tháp hủy tượng, chỉ phá hoại cơ sở vật chất của Phật giáo - hậu quả rất ít

Rao rảng, rộng nói, bêu xấu, miệt thị, ... Tội lỗi của người xuất gia là trực tiếp phá hoại:

- Phá hoại sự đoàn kết của tăng bảo (Trong kinh có câu chuyện: chỉ vì 2 vị tăng chỉ trích nói xấu nhau mà sinh ra chia rẽ tăng đoàn, Phật không can nổi, bỏ lên rừng ở một mình. Cụ thể: Trong chùa có 2 vị Thượng tọa, một vị Pháp sư và 1 vị Luật sư. Thượng tọa Pháp sư vào nhà tắm, xong việc quên đổ nước thừa trong chậu; vị Luật sư thấy vậy mới hỏi vị Pháp sư kia: tại sao tắm xong thầy để nước thừa trong chậu, như vậy là phạm tội Đột-kiết-la. Vị Pháp sư nói: thưa Tôn giả, tôi vô ý quá, tôi rất ân hận và xin sám hối. Câu chuyện tưởng vậy là yên, ai ngờ Thượng tọa Luật sư kia đem chuyện ấy nói lại với đệ tử của mình. Đệ tử lại nói với đám đệ tử khác, cứ thế mà đồn ầm lên thành lớn, làm náo động cả tinh xá. Đệ tử của Thượng tọa Pháp sư nghe tiếng đồn như vậy, chột tai quá, liền đi mách lại cho thầy mình hay. Vị Pháp sư nói với đệ tử là, thầy đã sám hối trước vị Thượng tọa ấy rồi, tại sao lại xảy ra chuyện ồn ào như thế này (trong trường hợp này, theo luật, đối trước tỉ khiêu thanh tịnh khác mà sám hối thì đã hết tội - nhẽ ra câu chuyện đã chấm dứt). Tự ái nổi lên, hai bên khẩu chiến bằng binh khí miệng lưỡi qua lại rất dữ. Bổn đạo cũng chia hai nhóm cứ thế làm náo động cả tinh xá. Phật từ nơi xa về, thấy chuyện xảy ra: liền hỏi nguyên do, hai bên cứ bảo thủ. Phật dạy không nghe. Họ thưa với Ngài, xin Thế Tôn, Ngài biết việc của Ngài, chúng con biết việc của chúng con. Can ngăn mãi không được nên Phật đành ôm bình bát một mình vào núi ở ẩn để an tĩnh.)

- Phá hoại công đức của mình (vì người thụ cụ túc giới như pháp có công đức lớn từ nhiều kiếp trước. Vả lại dù họ có nhiễm ô, nhưng chỉ cần có 1 ngày giữ trọn vẹn tịnh giới cũng công đức vô lượng. Kinh nói: "Nếu có các bậc A-la-hán trong 4 cõi nhiều như lúa cỏ, rừng rậm, rồi có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này những thứ như: y phục, thức ăn, nước uống, thuốc thang… cho đến sau khi các vị ấy niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, dùng đủ loại chân bảo, hoa hương, châu ngọc… cúng dường, và dùng kệ tụng tán thán, thì công đức này không bằng người xuất gia thọ giới dù chỉ một ngày một đêm tu trì. Công đức xuất gia được 16 phần, công đức trước chỉ một phần.")

- Phá hoại công đức của mình, vì người tại gia không rõ giới luật, không rõ thánh phàm, luận tội cả các bậc thánh ẩn mình trong tăng đoàn, các vị bồ tát nghịch hành tái lai (Thực tế kinh Phật ghi lại: các vị đệ tử Phật được gọi là Đại-A-La-Hán của Phật cũng có lúc mắc lỗi. Chẳng hạn, ai cũng biết, Xá-Lợi-Phất là đệ tử hàng đầu của Phật, là một bậc á thánh, ấy thế mà đã có lần thống suất năm trăm vị tỷ khưu, quát tháo làm náo loạn đến nỗi Phật phải đuổi lui ra (Tăng-Nhất 41). Rồi đến Mục-kiền-liên, một đệ tử lớn ngang hàng với Xá-lợi-phất, cũng thường ngủ gật trong khi tham thiền, đã bị Phật quở trách rất nặng. Lại như La-hầu-la đã nói ở trên, sau nầy tuy được coi là người tu học hạnh bí mật (Sikkbakama) vào bậc nhất, nhưng khi còn là Sa-Di rất thích đùa cợt nghịch ngợm, thường là cái gai trước mắt của các bậc trưởng lão và bị Phật quở trách luôn luôn, việc này cả trong kinh luật đều có ghi chép. Lại như Ưu-đà-di (Udayi), về sau tuy được gọi là Trưởng-Lão, nhưng khi còn trẻ tựa hồ như bị tình dục bức bách đến nỗi phạm nhiều lỗi lầm, do đó Phật mới đặt ra nhiều quy định hết sức phiền tỏa về giới dâm. Điều này được chép trong các luật văn. Đến các bậc đại đệ tử như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, La-hầu-la và Ưu-đà-di mà còn phạm những lỗi lầm như thế, thì thử hỏi những người đệ tử xuất gia vì động cơ không chính đáng còn phạm lỗi lầm đến đâu nữa: điều đó tưởng cứ suy ra người ta cũng đủ biết rồi.)

- Phá hoại uy tín tăng bảo

- Phá hoại tín tâm, thui chột hạt giống bồ đề của mình và người khác 

- Tổn hại lòng cung kính với Phật pháp (vì tăng là trưởng tử của Phật, đại diện cho 2 bảo còn lại)

(Nói rõ thêm về các ý trên, HT. Thánh Nghiêm viết: “Phật chế giới là muốn cho Phật tử tuân theo thực hành, chẳng phải để cho Phật tử tăng trưởng sự hiểu biết giúp cho việc đàm luận để đi phê bình Hoà thượng này phạm giới, ni cô kia chẳng giữ quy củ. Đây cũng chính là việc rất đau lòng trong cửa Phật ngày nay. VIỆC XẤU TRONG CỬA PHẬT HƠN PHÂN NỬA LÀ DO PHẬT TỬ TRUYỀN BÁ RA, LẠI CÒN THÊM DẦU THÊM TƯƠNG, CÀNG TRUYỀN CÀNG XA SỰ THẬT. ÔNG NÓI VIỆC XẤU CỦA TÔI, TÔI VẠCH THẸO CỦA ÔNG, CHỈ SỢ NÓI CHẲNG ĐỘC, CHỈ SỢ VẠCH CHẲNG SÂU, ĐẾN CUỐI CÙNG KHIẾN CHO NGƯỜI NGHE CÓ CẢM TƯỞNG RẰNG THẬT KHÔNG CÓ MỘT ĐỆ TỬ PHẬT NÀO KỂ RA THANH TỊNH CẢ! ĐÂY CHẲNG NHỮNG HUỶ DIỆT DANH DỰ CỦA CHÍNH PHẬT TỬ, LÀ CŨNG LÀ PHÁ NÁT TÍN TÂM CỦA THIỆN TÍN, ẤY LÀ LÀM TỔN HOẠI SỰ TRANG NGHIÊM CỦA TAM BẢO. Nếu như đệ tử Phật, người nào cũng đều học giới, trì giới, thì người phạm giới chắc chắn giảm bớt, không còn có sự phê bình công kích người phạm giới. Bởi vì một người chân chính trì giới, không bao giờ muốn mình phạm giới. Nếu người ấy thấy người khác phạm giới, người ấy chỉ đến trước mặt người phá giới khuyến cáo cho đến ân cần khuyên can ba lần. Qua ba lần khuyên can, người phá giới kia nghe thì tốt, bằng không nghe thì làm phép yết ma (Chế độ Tăng đoàn hội nghị). Nếu không có cách làm cho người phạm giới tuân hành, thì trong lòng mỗi người chúng ta rất đau buồn cho người phạm giới. Bằng muốn nói, có thể trong thời tụng giới Bố tát vì người phạm giới cử tội để đại chúng xử đoán, tuyệt đối chẳng nên thấy đâu nói đó, thấy người liền nói chẳng phân trường hợp, chẳng kể thời gian, chẳng cần biết người nghe là ai. Nếu chẳng được như thế, thì người nói lỗi người khác cũng là người phạm giới. Nếu như nói đúng, thì chính người cũng phạm giới “nói lỗi tứ chúng”; nếu nói chẳng đúng sự thật thì còn phạm thêm giới “vọng ngữ”, nếu như người bị nói là người xuất gia thì người nói lại phạm thêm giới “huỷ báng Tam bảo”. Ba điều giới này đều là giới trọng của Bồ tát, không luận là tại gia hay xuất gia đều phạm tội Ba la di.Tội Ba la di là tội lớn, hiện tại mất đi giới thể, sau khi chết bị đoạ vào địa ngục một thời gian dài bằng 16 ngàn năm tuổi thọ của trời Tha Hoá Tự Tại, tương đương với 92 vạn 1600 vạn năm của nhân gian. Vì thế, một người trì giới nghiêm cẩn tuyệt nhiên chẳng khinh suất nói người khác phạm giới. Nếu như người thường ưa thích nói người khác phạm giới, thì chính người đó trước tiên là người thường hay phạm giới)

Vì vậy, đối với Phật giáo Bắc truyền vô cùng chán ghét với việc "nói lỗi" người xuất gia. Nghiêm cấm cả người tại gia và xuất gia "nói lỗi" người xuất gia. Đối với, Phật giáo Nam truyền, tuy không cấm, nhưng chưa ở đâu, chưa kinh sách, luận, luật nào, nói là người tại gia nên nói lỗi người xuất gia, người tại gia được phê phán, phê bình, kết tội người tại gia cả! Nam truyền chỉ đại khái cho người tại gia được học Đại luật của người xuất gia để khi phụng sự chư tăng được như pháp mà thôi. (Về vấn đề học Đại luật với Người tại gia, HT. Thánh Nghiêm giải thích: “Thường thường Tỳ kheo mỗi nửa tháng nghe tụng giới một lần, cũng phải trải qua thời gian 5 năm mới có thể học tốt về giới luật, hà huống là Sa di. Vì thế tôi nghĩ, nguyên nhân người chưa thọ Cụ túc giới không được nghe giới, chủ yếu là phòng ngừa, nhân vì có Tỳ kheo phạm giới trong lúc thuyết giới yết ma phát lồ sám hối xuất tội, bị tiểu chúng hoặc người tục nghe rồi sinh ra tội khinh khi phỉ báng. Đến như điều văn giới tướng của Đại giới ít nhất đối với Sa di là có thể đọc, NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI TỤC KHÔNG CÓ CHÁNH TÍN KHÔNG NÊN CHO HỌ ĐỌC. Người thế tục ở các quốc gia Nam truyền có thể nghiên cứu Đại Luật, nguyên nhân khai lệ có lẽ cũng là căn cứ vào một quan niệm này.” – tức là học để đi bắt bẻ thì không cho, học với lòng tin kính tam bảo thì tạm cho). 

c. Phật tử tại gia nên làm gì khi thấy người xuất gia phạm luật Phật

Sau khi nghiên cứu chán chê về các trường hợp, xin đề xuất một số biện pháp khi Phật tử tại gia thấy người xuất gia phạm luật Phật

Cách 1: Kệ (ai tu nấy đắc, ai làm nấy chịu. Cách này an toàn nhưng hơi “Tiểu thừa”, vị kỉ)

Cách 2: nếu thân thiết, hoặc có phương pháp nói năng ái ngữ thì có thể góp ý, hoặc nhờ người xuất gia khác khuyên bảo họ.

Cách 3: thu thập chứng cứ, nói với trụ trì quản lý tăng nhân đó. Để an toàn thì nên nói dưới dạng nghi vấn (tức là: “bạch cụ xem xét trường hợp này … có phải phạm luật Phật không ạ, mong cụ quan tâm để ý giúp vị ấy…”), không dùng dạng khẳng định (“bạch cụ con thấy sư A, B này phạm luật này luật này …” – vì như trên đã nói, người tại gia không hiểu biết về Đại luật, khẳng định như vậy là vô căn cứ). 

Cách 4: trụ trì không có biện pháp, có thể làm đơn thư đến Ban trị sự GHPGVN của địa phương hoặc Trung ương 

Ở đây cũng không nói đến trường hợp tố cáo với công an, vì mục số 1 đã nói rồi.

Tất nhiên những cách trên đây không thể thỏa mãn được tâm lý bức xúc của một số người. Nhưng cũng cần phải hiểu là nếu làm đúng theo giới luật, thì cũng chỉ có thể phát huy được phần nào tác dụng "phòng phi chỉ ác" mà thôi. Ngay từ thời Phật, tuy đã có giới luật, nhưng vẫn không thể ngăn được hành vi xấu xa của một bộ phận tăng đồ. Trong xã hội cũng vậy, nhà nước có pháp luật, các tổ chức chính trị xã hội có kỷ luật, nhưng cũng không thể hoàn toàn ngăn chặn những hành vi tiêu cực. Vì vậy, vẫn còn có tình trạng đơn thư khiếu nại vượt cấp, thư tố cáo nặc danh, biểu tình kêu oan, ... Đó là những hiện tượng khó tránh được. Những hành vi ấy giúp họ giải tỏa tâm lý, nhưng hiệu quả giải quyết sự việc thì ... Chưa thể lượng hóa được

3. Tóm lại: 

Luật Phật chế cũng giống như Kỷ luật của một tổ chức chính trị trong một đất nước. Nó tương đồng nhưng không thay thế cho luật pháp quốc gia. Để đảm bảo ổn định, đoàn kết và danh dự của tổ chức mình, không tổ chức, đoàn thể nào muốn người ngoài tố cáo, bóc phốt, tuyên truyền tội lỗi của thành viên tổ chức mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ dung túng, bao che cho nhau. Mà việc tố cáo, cử tội, luận tội, phê bình, xử tội, … phải đúng người, đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách thức, đúng quy trình. Tổ chức thế gian còn thế nữa là tăng đoàn của Phật.

Biết rằng, sự suy đồi của một bộ phận tăng ni có thể làm cho một số Phật tử tả khuynh nóng máu, muốn hành động ngay để “bài trừ ma tăng”, “bảo vệ chánh pháp”, … Thế nhưng vì tính chất ấu trĩ, tả khuynh, xốc nổi, đứng trên bình diện Phật pháp thì tác dụng của họ chẳng bao nhiêu, mà tác hại thì quá nhiều. Họ hành động như kẻ mù, ai thích thì họ biến thành “thánh tăng”, là “Phật sống”. Nếu vị đó thích ăn thịt uống rượu hoặc có sai sót gì thì họ nói đó là “Tế công”. Ai nói gì trái ngược với sở kiến của họ thì dù đúng với kinh điển, thì họ cũng chụp mũ là “ma tăng”, “xàm tăng”, “thích cúng dường”, … để tha hồ chỉ trích. Đấu tố hết “ma tăng”, họ lôi ra những vị được họ gọi là “chỗ dựa của ma tăng” chỉ vì họ … có một số quan hệ nào đó với những người kia. Rồi tiến đến gặp ai là họ đánh đấy, sư nào cũng là “tà”, “không phải cúng dường nữa”, vì sợ “cúng 3 bảo mà 1 bảo ăn”, … Họ không phải là căn cơ của giáo đoàn nên, họ chỉ đập phá cho thỏa lòng nhiệt tình của họ, sau đó thì họ chẳng xây dựng gì cả. Và, trên cái nền tan hoang họ bỏ lại, có khi ma tăng sinh ra còn nhiều hơn trước khi họ “bảo vệ chánh pháp”. Trên mặt thế gian có thể họ góp phần đưa ra ánh sáng một số góc khuất nào đó, nhưng là góp phần tạo ra thêm nhiều góc khuất tối tăm trong đường luân hồi của họ và người khác vì mất đi lòng tin với Tam bảo. Vô hình trung, họ lại còn làm thay nhiệm vụ của bọn phá đạo. Ô hô, ai tai!

Thị phi như vậy, ai muốn sao thì tùy!









Đăng nhận xét

0 Nhận xét