Ý nghĩa nghi thức động thổ, thượng lương, nhập trạch
Soạn lại theo chia sẻ của TT. Thích Tiến Đạt về nghi lễ thượng lương trong
bài phỏng vấn của Ban Truyền thông Chùa Phúc Ân – Thúy Dĩnh
Tăng Quốc Phiên đời Thanh từng nói: “Tiên Vương chi đạo, sở
vị tu kỉ trị nhân, kinh vĩ vạn hối giả hà qui hồ? Diệc viết lễ nhi dĩ hỹ?”. Đại
ý: từ việc nhỏ tự tu thân đến việc lớn là trị quốc bình thiên hạ đều bao hàm
trong Lễ, do vậy có thể thấy ngụ ý bên trong và tác dụng bên ngoài của Lễ phạm
vi thật rộng rãi to lớn. Cổ
nhân chế định ra bất
cứ lễ nghi gì đều có sự, có lý của nó. Tuy nhiên, trải qua lịch sử
lâu dài thay đổi, nhiều khi lớp hậu bối không còn hiểu được những tầng văn hóa
thâm sâu trong những lễ nghi đó mà cho rằng nó rườm rà, và dần dà bỏ quên hoặc cắt
bớt đi.
Trong kho tàng lễ
nghi truyền thống của Việt Nam, đối với việc xây mới một ngôi nhà, một không
gian, kiến trúc, … có ba lễ tiết được coi là những việc hệ trọng nhất đối với
hưng công hội chủ. Đó là 3 nghi lễ: động thổ, cất nóc và nhập trạch.
Việt Nam ảnh hưởng
sâu sắc bởi quan niệm vũ trụ luận của Tam giáo và hệ thống pháp số đi theo bộ 3.
Phật giáo có Tam giới … Nho giáo, Đạo giáo có Tam tài. Theo thuyết nào thì cũng
có thể phân tách vũ trụ ra thành 3 thành tố: Thiên (trời) – Địa (đất) – Nhân
(người). Lễ động thổ, thuộc về địa; lễ thượng lương, hàm ý là về trời; lễ nhập
trạch, thuộc về nhân. Đó chính là hàm ý sâu xa về 3 nghi tiết trên vậy.
1. Nghi lễ Động thổ
Động thổ liên quan đến điện cơ, tức là tạo nên nền móng.
Con người ta tồn tại được, vạn vật sinh sôi được là nhờ nơi đất. Khi xây mới một
ngôi nhà, muốn vững chãi hay không thì phải dựa vào nền móng. Cũng giống như con
người ta muốn phát triển tồn tại được thì phải nhờ vào nền nhân đức – “Tích thiện
chi gia tất hữu dư khương, tích ác chi gia tất hữu dư ương” , “ơn tổ tiên
vun trồng công đức/ tụ tinh thần vằng vặc ngàn thu”, “xây nền nhân đức, bắc cầu
vinh hoa”
2.
Nghi
lễ thượng lương (cất nóc)
Sau khi động thổ, xây xong công trình, thì người ta tiến
hành lễ thượng lương, tức là lễ cất nóc. Như trên đã nói, con người ta có lấy
nhân đức làm nền, lấy đạo đức làm tường vách, lấy thiện quả làm mái nhà thì mới
mong “hữu dư khương”, an cư lạc nghiệp được.
Nóc của ngôi nhà rất quan trọng, người xưa vẫn nói “trăm
cái dui chui vào cái nóc”. Nóc nhà biểu thị chủ của gia đình, là người quyết định
tất cả mọi thứ. Người xưa gọi là đòn nóc, hay còn gọi là lương, là cái rường, rường
chính của ngôi nhà. Để đặt được cái nóc thì các cái dui nó mới liên kết vào được
toàn bộ hệ thống mái. Không đặt được nóc thì tất cả các cái mái đều không có được.
Cất nóc biểu thị cho sự thượng lương, tức là đặt lên cái rường cột của ngôi
nhà, thụ trụ - trụ là cái cột, lương là cái rường. Những người làm chủ gia
đình, làm chủ đất nước, làm chủ tùng lâm thì gọi là các bậc lương đống. Lương đống
tức là những người làm rường cột là ý như vậy.
Thường ngày xưa đề nóc, cất nóc nhà ngoài chọn các ngày
minh tinh cát khánh, tránh các ngày hoang vu hắc đạo, … người ta kiêng vào các ngày
hỏa, để tránh liên quan đến hỏa hoạn, ngôi nhà được bình an lâu dài. Đối với, Chùa
Phúc Ân, TT. Trụ trì dự định cất nóc vào ngày mùng 9 tháng 9. Đây là một lễ tiết
rất quan trọng trong các lễ tiết của văn hóa cổ truyền. Ngày mùng 9 tháng 9 là
Tết Trùng Cửu, tức là trùng lặp lại hai số chín. Trong sự vận hành của thiên địa,
thì số chín là số dương lớn nhất và ngày mồng 9 tháng 9 là ngày dương khí tốt
nhất trong năm. Theo người xưa thì cứ tháng nào có ngày trùng thì ngày ấy là Tết:
Mùng 1 - tháng Giêng là Tết, mùng 3 tháng 3, Mùng 5 tháng 5, mùng 7 tháng 7, …
Ngày mồng 9 tháng 9 là Tết trùng cửu. còn là Tết hoa cúc, biểu trưng cho mùa
thu. Các nho sinh, nho sĩ ngày xưa lấy ngày mùng 9 tháng 9 là ngày để vịnh thơ
ngắm hoa cúc, loài là biểu tượng của phú quý, trường thọ và trí tuệ.
Trong lễ cất nóc cổ truyền ngày xưa có lễ tế thiên địa, tế
thượng lương, … Gia chủ thiết lập hương án tế, mời thầy thỉnh thợ đặt nóc lên đúng
vị trí, … Chủ nhân cúng lễ ngoài việc mong mỏi Chư Thiên gia hộ (mà đặc sắc nhất
là tín ngưỡng về Súc thần vương), còn lễ tạ ơn một vị thần là ông tổ của nghề
thợ mộc – Lỗ Ban tiên sư. Trong các lễ vật để thượng lương thì có các vật dụng
như nón lá, ngũ cốc, muối, nước, và cành vạn tuế. Những biểu tượng này đều mang
ý nghĩa cầu phúc, tài lộc, trường thọ và sự hòa hợp giữa trời đất. Trên nóc nhà
người xưa còn treo 1 cái nón được bọc vải đỏ, bên trong nó buộc ba cái ống đựng
ngũ cốc, nước và muối biểu trưng cho sự ấm no, có nước, có muối, có ngũ cốc để
cho cuộc sống được bình an đầy đủ. Ngoài ra còn treo 5 cành thiên tuế, cành vạn
tuế để biểu thị cho Ngũ Phúc, đó là Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh. Người ta buộc
năm cành vạn tuế với một cái xâu tiền cổ 100 đồng (tiền bách văn), tượng trưng
cho tiền của dồi dào, giàu sang lâu bền. Ngoài ra, cành Vạn tuế, chiếc nón là
còn được coi như vật tùy thân của Súc thần vương – vị thần thủ hộ cho mái nhà. Trong
văn hóa dân gian của Việt xưa, Đức Thánh Chử Đồng Tử học được Pháp của ngài Phật
Quang, ngài tăng của Ấn Độ. Ngài ban cho một cái nón và một cây gậy, đi đến đâu
ngài chỉ cần chống cây gậy xuống, rồi để cái nón lên trên, thì lập tức lâu đài cung
điện hiện ra, thu cái gậy, cái nón lại thì tất cả nó đều dồn lại. Chính nhờ biểu
tượng đó mà Việt Nam chúng ta lễ thượng lương là phải treo cây gậy và cái nón,
biểu hiện cho trời che, đất chở. Đó cũng là mong cầu ngôi nhà mà ta dựng lên, ngôi
chùa người ta dựng lên, giống như cái phép thần thông của Đức Thánh Chử Đồng Tử.
Chỉ cần một cây gậy, một cái nón thì đó là cả lâu đài, cả cung điện, cả thiên hạ
nằm ở trong đó.
Chữ đề đòn nóc cũng là một biểu tượng cát tường quan trọng
trong lễ thượng lương. Thường bộ đề đòn nóc có 3 câu: 1 đề giữa và 2 đều 2 đầu.
Có hai cái cách viết, một là viết theo chữ hàng dọc, hai là viết chữ hàng
ngang. Thông thường người ta sẽ viết dọc từ Đông sang Tây, tức là lấy Đông làm
gốc lấy Tây làm ngọn. Chữ trên nóc thì thường người ta viết theo số lẻ, tức là
phải chia cho 4 lẻ một hoặc 2 (nhà chữ sinh đình chữ lão). Đó là theo quy tắc “thịnh
suy vĩ thái thịnh…” hoặc “sinh lão bệnh tử sinh…”. Đòn nóc thường đề Quốc hiệu,
Năm, tháng, ngày, giờ cất nóc. Thông thường viết trên nóc là viết 21 chữ và 25
chữ, viết nóc thì xưa kia thường chọn hai chữ nhật hoặc chữ nguyệt làm trung
tâm (tức là chữ nhật, nguyệt thông thường sẽ rơi vào khoảng chữ thứ 10 hoặc
13). Đó là ngụ ý cho trời đất quang minh, lúc nào cũng soi rọi vào căn nhà.
Lễ cất nóc không chỉ mang ý nghĩa trong văn hóa dân gian
mà còn được kết hợp với Phật pháp. Việc cầu nguyện sự gia trì của Tam Bảo, chư
Phật Bồ Tát và Long Thiên nhằm cầu cho ngôi chùa được trường tồn, Phật pháp được
hưng thịnh và đất nước được quốc thái dân an. Đối Phật pháp thì cũng theo như
thông lệ của thế gian. Khi đặt nóc ngôi chùa, cũng có những lễ nghi như vậy. Cầu
Phật Pháp được hưng thịnh, cầu cho đất nước được quốc thái dân an - mưa thuận
gió hòa. Đấy cũng là những điều tâm nguyện đem Phật pháp để hòa nhập với thế
gian, cầu cho thế Pháp cũng như là Phật pháp được mọi sự tốt đẹp. Việc đặt nóc ở
một ngôi chùa hay một ngôi nhà đều có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống
tâm linh. Điều đó đánh dấu ngôi nhà chuẩn bị được hoàn thành hiện diện, khẳng định
được công việc xây dựng sắp hoàn thành
3. Nghi lễ nhập trạch
Sau khi
cất nóc, lợp ngói làm mái xong thì sẽ làm lễ nhập trạch. Các lễ tiết đến đây đã sắp
toàn vẹn, thể hiện trọn vẹn thiên địa nhân hợp nhất. Đó cũng là thể
hiện trời đất và con người hòa hợp, vạn vật sinh sôi, cỏ cây tươi tốt và tất cả
trở nên thịnh vượng tốt đẹp. Pháp đàn kì an khánh trạch có 5 khoa nghi nhỏ bao
gồm: thứ nhất cúng sát thổ, thứ hai là điền hoàn long mạch, thứ ba là sám tạ thổ
công, thứ bốn là phần sài khánh trạch, thứ năm là thỉnh mời gia tiên. Như trên
đã nói, theo quan niệm về pháp số, ngoài số 3 ra thì số 5 cũng có vai trò quan
trọng trong đời sống tâm linh Việt Nam. Số năm biểu tượng cho ngũ phúc (phúc lộc
thọ khang ninh), ngũ thường (nhân nghĩa lễ trí tín), biểu tượng cho ngũ hành (kim
mộc thủy hỏa thổ); biểu tượng cho ngũ đại (thủy địa hỏa phong không) – nó là những
yếu tố hình thành nên vũ trụ và tự nhiên, con người và xã hội. Trong lễ
nghi cưới hỏi cũng thế, có năm lễ thì mới “thành thân” (vở chèo Quan Âm Thị
Kính có câu: “chưa dâng năm lễ chưa hợp một nhà”). Cũng như vậy, vào nhà mới phải
có năm lễ mới “thành nhà”.
Khi nhập trạch người ta mang đồ vào để cúng, làm lễ nhập
trạch. Sau đó mới mang gạo, nước, tiền, quần áo, giường chiếu vào. Việc đầu
tiên khi nhập trạch là đun bếp – tức là phần sài, xông nhà. Phần sài tức là đun
củi bếp, gồm hai phần: một phần dùng ngũ vị hương đốt lên để xông nhà, khử uế.
Sau đó đun nước để pha trà, nấu cỗ mang lên cúng. Chiếc bếp đỏ lửa, ấm cúng chính
là biểu tượng của sự sống, của sự sung túc, của ngôi nhà hạnh phúc. Cho nên bắt
buộc phải nổi lửa, đun bếp, và phải làm đầu tiên, để tạo ra và giữ lửa, giữ hơi
ấm gia đình. Sau khi đã phần sài xong thì mới tiếp tục các nghi lễ khác theo thứ
tự đã nêu.
Theo tinh thần Phật hóa nghi thức thế gian mà đức Thích
tôn đã tự thân thực hiện (trong Cứu la đàn đầu kinh, giáo thụ Thi ca la việc Thiện
sinh lục phương lễ bái kinh, …), chư tổ đã soạn ra những khoa giáo để cúng nhập
trạch theo tập quán thế tục nhưng tràn đầy pháp vị Phật giáo. Khoa cúng nhập trạch
cúng thỉnh tứ thiên vương để trấn trạch, rồi lại kết kim cương giới, tụng kinh
để an thổ địa. Nếu trong nhà có lập ban thờ tượng Phật thì làm nghi thức thỉnh
Phật thăng tòa, sau đó mời gia tiên tiền tổ, tức là thần chủ ngôi nhà ấy đến
chính vị.
Hiện nay, điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đã có nhiều thay đổi. Con người càng ngày càng có ít thời gian hơn. Chính vì vậy mà các chư tôn thiền đức trong quá trình ứng cơ tiếp vật, thuyết pháp độ nhân cũng có gia giảm, tăng bổ, tỉnh lược, … Ví dụ khi thượng lương chỉ tán, thỉnh, tuyên sớ, trì thập chú, … Đó cũng là phương tiện rút gọn, tùy cơ, tùy nghi cho khế xứ, khế thời. Trong điều kiện, hoàn cảnh của mình, gia chủ có thể lựa chọn tiểu duyên hoặc đại đàn. Nhưng dù là đại đàn hay tiểu duyên thì việc thông hiểu ý nghĩa của khoa nghi, thâm tín sự gia trì của Tam bảo, sự hộ trì của thánh chúng mới là cốt lõi quan trọng cho sự viên mãn của lễ nghi vậy!

0 Nhận xét