Bàn về một khía cạnh của linh hồn và vấn đề vô ngã
Lang thang trên facebook chạm vào mắt em thấy có page viết: "Nét khác biệt đặc trưng nữa là “linh hồn”. Một số vị hoà thượng khi thuyết giảng về luân hồi thường dùng từ “hồn” cho gần gũi nhưng không nói rõ bản chất, làm nhiều tín đồ bị lầm tưởng. Trong Phật giáo có khái niệm “Thức”, được định nghĩa là sự biết, cái biết, sự nhận thức, tư duy… Theo đó, cái đi luân hồi là “Thức”. Đặc điểm của “Thức” là luôn luôn biến đổi theo hoàn cảnh sống và theo hành động của chúng sinh mang nó. Trong kinh Đại Duyên (Mahanidanasutta) của Trường Bộ (Dighanikaya), Đức Phật vấn Tôn giả A-nan: “Này A-nan, nếu Thức không đi vào trong bụng mẹ thì danh sắc có thể hình thành trong bụng mẹ không?”. Tôn giả A-nan đáp: “Bạch Thế Tôn, không”. Theo đó, Như Lai đã dạy rằng chính “Thức” đi đầu thai. Phật giáo thuận theo ngôn ngữ, tín ngưỡng của dân gian để thuận tiện hoằng giáo nên nói đến linh hồn, vong linh, hương linh… chỉ phần còn lại sau khi chết của một người. Song nếu không được nói rõ ràng hoặc không tìm hiểu kỹ, nhiều người lầm tưởng linh hồn như cách hiểu dân gian hoặc Đạo giáo, đó là ngược lại giáo lý duyên sinh, vô thường, vô ngã. Trong khi đó, quan niệm Đạo giáo và dân gian có sự tương đồng, thứ đi luân hồi chính là “Chân hồn - nguyên thần” của mỗi người. Nguyên thần này được Đại Đạo tạo ban, là thường hằng, là bất diệt và là duy nhất. Theo đó, qua các kiếp, chỉ có tình trạng (con người, súc sinh, ngạ quỷ…) là thay đổi, nguyên thần không thay đổi."
Nội dung chủ yếu của ý kiến trên gồm 2 vấn đề mà chúng tôi xin được mổ xẻ sau đây
Vấn đề thứ nhất: Giải thích sai nội dung kinh Đại duyên và đưa ra nhận định "cái đi luân hồi là "thức""
Người viết bài kia đang hiểu như sau: nếu như cái "ý thức" không đi vào trong bụng mẹ, thì sẽ không có cái "danh sắc" (thể xác của bào thai) - tức là cái ý thức đi luân hồi, và cái thể xác là cái sinh ra sau khi cái thức đó nhập vào bụng mẹ. Thực ra là người không chuyên, không nghiên cứu Phật giáo thì sai lầm, ngộ nhận ở điểm này là khá tất nhiên. Sở dĩ đó là vì người nghiên cứu phổ thông sẽ không đọc đủ lượng kinh điển đủ lớn, để có thể khảo sát các ý kiến, các mặt khác nhau của cùng một vấn đề trong Tam tạng kinh.
Đúng là trong kinh Đại Duyên (Mahanidanasutta) và vô vàn kinh luận khác, Phật, Tổ, có nói đến "thức nhập thai" - nhưng không hề mang ý nghĩa thức là "cái đi luân hồi"
Trong Trung-Bộ 38, văn Ba-li (Mahàtanhasankhaya sutta) Trung Hàm 54, Trà Ðế Kinh), Phật đã quở trách Tỷ Khiêu Trà-Ðế cho thức là chủ thể của luân hồi. Tỷ khiêu Trà đế chắc chắn cũng đã nhận lầm khi nghe những đoạn văn như trong kinh Đại duyên mà chưa được giải thích kỹ lưỡng chăng?
Như vậy, cách nói "thức luân hồi" trong đoạn kinh trên hay "thần hồn" trong một số bài giảng đều là cách nói "tục đế" để người nghe dễ hiểu mà thôi!
Trở lại với kinh Đại duyên, vậy ý nghĩa đoạn văn đó muốn thể hiện cái gì? Để hiểu được điều này thì ta cần đọc một số đoạn kinh khác
Trong Kinh Bó lau, Tương Ưng bộ, ii.112, có đoạn: “Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. ... Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua (một bên), bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua (một bên), bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. ...”. Điều này cho thấy là Danh sắc là 2 pháp đồng thời sinh, và dựa vào nhau và tồn tại, chứ không phải là thức đi đầu thai trước, sau đó mới có danh sắc sau. Thực vậy, tôn giả Phật Âm của phái Thượng tọa bộ cũng cho rằng: Về nhân duyên quan hệ giữa danh sắc và thức gồm: câu sinh duyên (quan hệ cùng phát khởi), hỗ vi duyên (quan hệ cùng hoạt động), y duyên, tưởng ứng duyên, (quan hệ dựa vào nhau), ... Như vậy câu văn: "Này A-nan, nếu Thức không đi vào trong bụng mẹ thì danh sắc có thể hình thành trong bụng mẹ không?" đã được diễn giải theo nghĩa tục đế, mang hàm nghĩa về việc trong bụng mẹ phát sinh danh sắc và thức đồng thời, nhưng đã bị một số người giảng giải thành quan hệ thứ đệ (trước - sau)
Tóm lại vấn đề thứ nhất, Phật không cho rằng THỨC LÀ CÁI ĐI LUÂN HỒI, và như Phật đã giải thích tóm tắt trong kinh Trà Đế: "thức cũng do duyên sinh", nó không phải chủ thể, và cũng là một thành tố, một quá trình của luân hồi mà thôi.
Một điều đáng tiếc là ngay trong kinh điển Đạo giáo cũng đã nói rõ về điều này. Trong sách "Tính mệnh khuê chỉ", có đoạn nói về việc người ta nhận nhầm thức là bản ngã, là chủ nhân ông của ta:
"...Thức Thần sinh sinh tử tử, chỉ là chủng tử kiếp kiếp luân hồi.
Cho nên Cảnh Sầm nói:
学道之人不悟真,只为从前认识神,无量劫来生死本,痴人唤作本来人。Học Đạo chi nhân bất ngộ chân,Chỉ vị tùng tiền nhận Thức Thần.Vô lượng kiếp lai sinh tử bản,Si nhân hoán tác bản lai nhân.Người nay học Đạo chẳng biết Chân,Chỉ vị xưa nay nhận Thức Thần.Thức Thần vốn dĩ sinh tử bản,Người khờ tưởng đấy Bản Lai Nhân.
Than ôi! Người đời nhận tớ làm chủ, nhận giặc làm con (nhận ngọn làm gốc) mà chẳng hay."
Các tổ đi trước đã nói rõ như vậy mà kẻ hậu côn lại không nhận rõ sao?
Vấn đề thứ 2: page quá đơn giản hóa thuyết vô ngã, dẫn đến quan điểm cho rằng Phật giáo đơn giản chỉ là vô ngã - còn những cái gì Hữu ngã là trái lại với phật giáo, Và thuyết vô ngã của Phật giáo là sự chống trái với tín ngưỡng bản địa (Trung Quốc) về luân hồi
Theo lẽ tất nhiên mà suy luận thì, con người phải đi luân hồi, thì cái gì là "cái đi luân hồi"?
Nhiều tôn giáo, trong đó có Bà la môn giáo đương thời cho rằng, trong thân có cái Ngã thường còn bất biến, làm chủ thể luân hồi.
Phật giáo tuy đề xướng "vô ngã" ngược lại với các tôn giáo đương thời, nhưng cũng thu dụng thuyết luân hồi, nên không thể không đặt vấn đề rằng "cái gì" đi luân hồi được.
Như ta thấy, tận cùng căn duyên của 12 nhân duyên là vô minh. Nếu theo thuyết nhị trùng thì đầu mỗi trùng là vô minh (dục tiền kiếp), hoặc là dục (vô minh hiện tại), tức là căn nguyên luân hồi, căn nguyên xuất hiện và có mặt đầu tiên của mỗi sinh mệnh và tri phối suốt cả sinh mệnh đó luôn là vô minh hoặc dục.
Phật nói “Ta đã vượt ra ngoài vòng trói buộc của dục (tanhassmyojana), lại không thấy một sự trói buộc nào khác trói buộc chúng sinh khiến cho phải luân hồi mãi mãi”. Đại ý đoạn văn trên cho rằng các tâm phiền não khác tuy cũng góp nhiều sức trong việc trói buộc chúng sinh, nhưng chỉ có dục là căn bản, một mình nó cũng có đủ sức làm nhân cho sự luân hồi.
Trong Tứ-Ðế gọi nó là tập đế, tức nguyên nhân của khổ đau, chính cũng căn cứ vào lý do này. Lại nữa cái gọi là A-Lại-Gia (alaya - kho chứa) trong Phật Giáo Nguyên Thủy cũng chính là gọi tắt chữ dục; đời sau biên dùng danh từ này (tức A-Lại-Gia Thức) để biểu thị bản chất của sinh mệnh, thật ra cũng chỉ thoát thai từ nghĩa gốc của chữ dục mà thôi
Như vậy, một cách rất vô lý mà lại rất có lý: cái-đi-luân-hồi trong giáo lý Phật giáo, không phải "ngã", không phải "hồn", không phải "thức", mà lại là ... "nghiệp", là "vô minh", hoặc là "dục". Nhưng cũng chính vì mặt hình thức diễn đạt có vẻ hơi vô lý đó, nên đời sau tiếp tục hợp lý hóa về mặt hình thức cho chủ thể luân hồi cho lý thuyết Phật giáo. Và như thế, Về bản chất Phật giáo chủ trương vô ngã là không có linh hồn cố định thường hằng. Còn bản chất ẩn chứa trong cái vô ngã vẫn có thể diễn đạt theo hình thức hữu ngã. Và đây là sự thực khi các bộ phái đã dần dần triển khai từ giáo lý Phật giáo nguyên thủy đến các thuyết Như: cùng sinh tử uẩn, tế ý thức, phi tức phi ly uẩn ngã (Hữu bộ), và cuối cùng là đến a lại da thức (Đại thừa). Những cái đó không phải là linh hồn nhưng nó đóng vai trò hoạt động như một cái linh hồn. Vì vậy, đối với Phật tử phổ thông thì nói là "hồn" cũng được, nó không ảnh hưởng đến bản chất của câu chuyện. Còn khi nào mà đi sâu vào vấn đề bản chất thì người ta sẽ phân tích rõ ràng Hữu ngã - vô ngã nó nằm ở đâu


0 Nhận xét