Advertisement

MỘT SỐ VỊ TĂNG TU HÀNH THEO HẠNH ĐẦU ĐÀ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 MỘT SỐ VỊ TĂNG TU HÀNH THEO HẠNH ĐẦU ĐÀ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Việt Nam vốn theo truyền thống Đại thừa, nên không câu nệ vào pháp số. Khi nói đến “đầu đà”, hay tu hạnh đầu đà, thường ít đề cập chính xác có tu đủ 12 hoặc 13 pháp đầu đà hay không. Sau đây là một số vị sư (chỉ tính các vị xuất gia) được đề cập trong lịch sử là có tu theo hạnh đầu đà

Thiền sư Tịnh Không: (mất 1170) chuyên tu hạnh đầu đà, mỗi lần nhập định lâu tới năm bảy ngày. Có một lần kẻ trộm tới, ông chỉ vào thùng phúc sương cho kẻ kia lấy tiền. 

Thiền sư Hiện Quang: tổ sư khai sơn phái Yên Tử, đắc pháp với thiền sư Trí Không chùa Thánh Quả. Vì Hoa Dương công chúa hay lui tới cúng dàng nên ông bị người ta nói ra nói vào. Do đó ông bỏ vào núi Uyên Trừng theo Pháp Giới thiền sư, thọ giới tỷ khiêu để tu học. Sau một thời gian tu học tại đây, không muốn nhận cúng dàng của tín thí nữa, ông vào rừng sống trong mười năm. Về sau, ông vào núi Từ Sơn làm am cư trú. Ði kinh hành trong rừng ông mang theo bao vải; đến nơi thích hợp ông trải bao ra ngồi thiền, loài dã thú thấy ông không hề xúc phạm. Vua Lý Huệ Tông nghe tiếng cho người đi mời ông. Ông cho đệ tử trả lời như sau: "Bần đạo sinh trên đất của vua, ăn lộc của vua, ở trong núi thờ Phật đã lâu năm, công đức chưa thành tựu, rất lấy làm hổ thẹn. Nay nếu về thăm vua, thì chẳng có ích gì cho việc trị an của vua mà lại còn bị chúng sinh bài báng. Huống chi bây giờ Phật pháp đang hưng thịnh, các bậc sư tượng trong đạo nhiều người đang tụ tập ở kinh đô diện các, một ông thầy tu thô lậu áo rách trong núi về kinh làm gì?". Nói rồi quyết không xuống núi.

Phật hoàng Trần Nhân Tông: xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau này vua đổi hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà).

Thiền sư Pháp Loa: là đệ tử đắc pháp của Trúc Lâm sơ tổ, một đêm thiền quán nhận thấy hoa đèn rụng, ông bèn đại ngộ. Liền đem chỗ sở ngộ ấy lên trình lên Trúc Lâm và được ấn chứng. Từ đó ông phát nguyện tu theo 12 hạnh đầu đà, bắt chước Trúc Lâm. Năm 1305, ông được Trúc Lâm cho thọ giới Tỷ khiêu và Bồ Tát, và cho hiệu là Pháp Loa.

Thiền sư Chân Nguyên: họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, được pháp danh là Tuệ Ðăng. Nhưng sau đó không lâu, Chân Trú qua đời. Bèn cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm tu hạnh đầu đà, du phương để tham vấn thêm Phật pháp.

Thiền Sư Chiếu Khoan: Ông họ Nguyễn, sinh năm 1741 ở làng Trình Viên, tỉnh Hà Nội. Ông xuất gia từ hồi còn bé, ở chùa Vân Trai, pháp danh là Tường Quang, đệ tử của thiền sư Tịch Truyền. Ông ưa tu hạnh đầu đà, tịch cốc ba năm, và trong sáu năm liền, ông chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Ông học đức khiêm cung, hễ vị tăng nào đến chùa là ông đắp y ra đảnh lễ, không phân biệt cấp bực. Ðệ tử quy y rất đông. Ði đến đâu ông cũng khuyên người tu phúc, bố thí, phóng sinh, chép kinh, giảng kinh. Ông tịch năm 1830. Ðệ tử đầu tay của ông là thiền sư Phổ Tinh.

Thiền Sư Giác Ngộ: Ông tên Hứa Mật Sô, người huyện Ðồng Xuân, Tỉnh Phú Yên, xuất gia ở chùa Bát Nhã trên núi Long Sơn thuộc làng Mỹ Phú, huyện Ðồng Xuân. Ông tu khổ hạnh ở trong rừng, mặc áo đan bằng vỏ cây, lấy hai miếng gỗ làm guốc, vượt núi qua sông một cách dễ dàng. Năm 1839 vua Minh Mạng nghe tiếng thỉnh về kinh đô, mời ông làm trú trì chùa Giác Hoàng và ban cho ông biệt hiệu Sơn Nhân Hòa Thượng. Năm 1842, vua Thiệu Trị lại mời ông làm trú trì chùa Diệu Ðế. Sau đó, ông xin được phép rút lui về núi. Không biết ông tịch ở đâu và vào năm nào

Thiền sư Quảng Đức: tên là Lâm Văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Vạn Khánh, quận Vạn Ninh, thuộc tỉnh Khánh Hòa. Lên bảy tuổi, ông được người cậu ruột đem về nuôi và đổi tên là Nguyễn Văn Khiết. Ông xuất gia với thiền sư Hoàng Thâm, thọ đại giới năm 21 tuổi và bắt đầu tu khổ hạnh ở núi Ninh Hòa. Trong năm năm, ông tu thiền và đi du hóa, theo hạnh đầu đà, chỉ giữ bên mình một y và một bát. Sau đó, ông về định cư tu tập tại chùa Thiên Ân ở Ninh Hòa, gần thị trấn Nha Trang. Năm 1932, ông được chi hội Ninh Hòa của hội An Nam Phật Học mời làm chứng minh đạo sư. Sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, ông tự thiêu để chống chính sách bài xích Phật giáo của chế độ Diệm



Đăng nhận xét

0 Nhận xét