Chuẩn là cái chuẩn nào?
Dạo gần đây có nhiều người đã chịu khó nghiên cứu quy tắc thờ cúng của Nho giáo qua các kinh điển như Chu lễ, Gia lễ, Lễ ký, ... Từ đó chấn chỉnh lại một số sai sót, nhầm lẫn cũng như vạch ra một số sự bịa đặt lai căng của hậu thế gần đây trong thờ cúng. Họ còn dự định xuất bản sách để "giải ảo những sai lầm trong thờ cúng tổ tiên và gia Thần", làm tài liệu để mọi người tham khảo. Đó là điều đáng mừng
Tuy nhiên, những người nghiên cứu này có một thiếu sót vô cùng chết người trong lập trường nhìn nhận vấn đề. Đó là việc quy tất cả việc thờ cúng tại gia cho Nho giáo và chỉ có thờ cúng theo đường lối ấy mới là "chuẩn"
Nho giáo tuy có tác động lớn đến cấu trúc nền văn hóa Việt nhưng chưa bao giờ thực sự làm chủ đời sống thờ cúng của người Việt. Phật giáo trên cả danh lẫn thực, trong nhiều giai đoạn lịch sử đã là quốc giáo của Việt Nam, ấy vậy mà nhiều khi quy tất cả các yếu tố tâm linh thờ cúng cho Phật giáo còn là thiếu sót. Chứ chưa kể Nho giáo đã suy tàn từ lâu, đến nay có còn môn đệ thuần nhất Nho giáo nào chăng? Nho gia Lê Bá Quát viết trong văn bia để ở chùa Thiện Phúc với những dòng sau đây, than phiền: "Ta thuở trẻ đọc sách, khảo xét xưa nay cũng biết rõ ít nhiều về đạo của thánh nhân, dùng để giáo hóa người ta mà rốt cuộc chưa có thể gây được đức tin trong một làng. Từng dạo khắp núi sông, dấu chân đi hàng nửa thiên hạ, mà tìm nhà học và văn miếu chưa từng thấy ở đâu có. Do đấy ta rất lấy làm xấu hổ với tín đồ nhà Phật." (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ). Huỳnh Thúc Kháng cũng đã từng phát biểu ý kiến trong Viên Âm số 3 ra ngày 1.2.1934, ông nói nhìn Phật giáo phục hưng mà ông buồn cho Nho giáo: trải qua bao cuộc bể dâu Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn mà bây giờ lại được chấn hưng, trong khi đó Nho giáo đã suy sụp mà khắp nước lạnh tanh, không có ai nghĩ đến chuyện chấn hưng Nho học.
Chính vì hai nguyên nhân trên (Nho giáo không phải là tôn giáo độc tôn ở Việt Nam và Nho giáo đã dần dần suy tàn khiến các tín ngưỡng khác lần lượt thay thế một số vị trí mà Nho giáo đã xác lập trong việc thờ cúng), mà trong lịch sử tín ngưỡng thờ cúng nước ta đã sinh ra những quy tắc thờ cúng "không chuẩn mà lại rất chuẩn" (không lấy quy tắc thờ cúng Nho giáo làm hệ quy chiếu)
Một lý thuyết rất quen thuộc và hay được đem ra bàn là lối thờ ba lớp Hương án thực án ngự án của nho giáo.
Chắc hẳn trước khi Nho giáo vào Việt Nam thì người Việt cũng đã biết thờ cúng tổ tiên rồi. Và chắc hẳn, người Việt cũng phải có những quy tắc của riêng mình. Xem lại sử Trung Quốc thì người Việt thời Hùng Vương sống cũng không phải đến nỗi dã man lắm. Họ có đời sống tinh thần của riêng mình.
Mãi sau này, kể cả trong thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo vẫn chưa thể cắm rễ được vào Giao chỉ (phải đến muộn nhất là vào thời Sĩ Nhiếp Nho giáo mới có một số cơ sở đứng chân tương đối vững chãi ở Việt Nam). Nhưng liệu thờ cúng của người Việt đã theo quy tắc Nho giáo chưa? Giả sử như từ cuối thời Trần cho đến thời Lê, nghi thức thờ cúng nho giáo đã là "chuẩn" của Việt Nam, thì cũng cần phải xem xét cái "chuẩn" này biến thiên như thế nào.
Phải nói rằng, Ngay cả trong những thời đại phong kiến huy hoàng như Lý, Trần, Lê, cũng không phải ai cũng có điều kiện lập không gian thờ cúng tại gia đủ tiêu chuẩn Chu lễ (lễ bất cập thứ dân). Suốt từ thời cuối Lê cho đến thời Nguyễn, trải qua cả thời kỳ Pháp thuộc, kéo dài suốt những năm kháng chiến tranh giải phóng, thời kỳ bao cấp, bị bao vây cấm vận ... kinh tế suy vi. Nhất là thời Nguyễn, thành Thăng Long còn càng tàn tạ hơn nữa, đời sống nhân dân Bắc Thành không còn như xưa. Ngay cả trong tầng lớp sĩ phu cũng không phải nhà nào cũng đủ điều kiện để lập ra những bàn thờ 3 lớp như vậy. Chính vì vậy những lối thờ một lớp ra đời. Và vì chỉ có một lớp thờ tự, nên các đồ thờ tự, tế khí, ... Bị dồn dịch, bị bớt đi, hoặc thay đổi chức năng. Bát hương với vai trò nhen lên mùi hương cúng dàng Trời, Phật, tổ tiên, nhen lên ngọn lửa tâm linh kết nối âm dương, dần dần trở thành trung tâm của bàn thờ. Và do đó, dần dần đóng luôn vai trò của ngự án, và được mọi người quan niệm là "thần ngự" trong bát hương. Bát hương nghiễm nhiên được để trong cùng chứ không phải ngoài cùng như một vật phụ để đốt hương trong tế lễ. Trong tín ngưỡng dân gian, người ta bốc bát hương để thờ Phật, thờ mẫu, thờ thần linh, thờ thần bản mệnh,... Khi di chuyển, thay đổi bàn thờ, nơi ở, ... Thì bát hương luôn được giữ lại, gìn giữ cẩn thận chứ không thay một cách bừa bãi. Trong khi giặc dã, thiên tai địch họa thì bát hương luôn được người ta di chuyển đầu tiên. Lúc này bát hương đã thoát thai khỏi quan niệm là vật để đốt Hương ban đầu, trở thành một vật Linh thực thụ. Để phục vụ nhu cầu Linh hóa bát hương đó, các huyền thuật của Phật giáo và Đạo giáo liên quan đến "cốt bát hương" ra đời. Và đương nhiên, thể thức của cốt bát hương cũng dần dần được thể chế hóa, có Văn Phong, ấn chú quyết, nghi lễ hành trì xác định, chứ không phải chỉ là một việc làm tùy tiện.
Cũng với lý do điều kiện kinh tế, điều kiện thờ cúng, nên dần dà sinh ra việc thờ ghép thần linh vào với gia tiên, tạo thành Bộ Ngũ tự gia Thần chung trong một ban thờ. Cũng vẫn với ảnh hưởng của điều kiện xã hội, dưới ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo, của tín ngưỡng thờ mẫu, và lối thờ nhiều bát hương ra đời trước đó, nên hệ quả tất yếu là ra đời nhiều bát hương (Vì bát hương là thay cho thần vị, mà trong cùng một ban thờ lại phối thờ nhiều vị khác nhau).
Tiếp đó với sự ảnh hưởng sâu rộng phong trào Chấn Hưng Phật giáo từ cuối Lê cho đến thời những năm 1930 (và còn có thể từ trước đó lâu hơn nữa), tín ngưỡng Phật giáo dần ảnh hưởng và thâm nhập vào cả trong ban thờ gia tiên đối với các gia đình Phật tử mộ đạo. Họ thờ trên là Phật dưới là thần linh, gia tiên, ... theo quan niệm của thứ tự trong pháp giới, lục đạo, tứ ân tam hữu ... Hoặc họ cũng có thể thờ kiểu hoặc tiền Phật hậu linh (Chủ yếu là miền Trung).
Nhiều người cứ khẳng định "đời Các cụ nhà tôi thờ chỉ một bát hương", "ban thờ trong nhà chỉ để thờ tổ tiên" và coi đó là lối cổ. Nhưng không thiếu các bác có những ngôi nhà cổ từ hàng trăm năm trước nhưng các cụ đã thờ ba bát hương rồi! (Một điểm đáng chú ý cần điền dã đề xác minh thêm)
Về vị trí của thực án cũng bị thay đổi: Trong các đền miếu, lễ vật thường để ở bàn ngoài cùng chứ không để ở gian giữa, ...
Với ảnh hưởng phổ quát của Tịnh độ tông, dần dần câu Phật hiệu "Nam mô A di đà Phật" được sử dụng mở đầu và kết thúc cho mỗi bài khấn trở thành phương tiện hết sức Thiện xảo để lan tỏa Phật đạo vào từng gia đình, và được số đông dân chúng chấp nhận (có thể tham khảo thêm bài viết của page về "Khấn Nam mô A Di Đà Phật là đúng hay sai?"). Đình là nơi của các ông, chùa là nơi của các bà. Nho giáo suy vi dẫn đến sinh hoạt ở đình mất đi ảnh hưởng thuở trước. Ngược lại các bà thì vẫn chăm đi chùa, tụng kinh ăn chay, và dần dà trở thành người đóng vai trò lớn hơn trong cơ cấu tâm linh của gia đình lúc nào không hay.
Như vậy, việc khấn Nam mô A di đà Phật hay không, bài khấn cần soạn trước không hay là tùy tiện nói ra theo tâm tư tình cảm, bàn thờ một lớp hay ba lớp, bát hương để trong hay bát hương để ngoài, thờ một bát hương hay nhiều bát hương, ... Tất cả những việc đó - chuẩn hay không chuẩn, còn phải xem xem họ đang ở trong hệ quy chiếu nào. Tức là: Việc xác định giá trị đúng sai của lối thờ cúng là ở chỗ hành - giải có tương ưng hay không. Họ có thể thờ một lớp, thờ ba bát, bát hương để trong, nhưng họ có kiến thức, đủ để kiến giải chứng minh cách thờ cúng của mình là hợp lý thì lối thờ cúng đó vẫn hoàn toàn chính xác và đúng đắn.
Cuộc sống là một bài toán đa nghiệm, sự độc tôn, độc đoán về chân lý có khi lại tự phản lại chính mình! Thật lòng xin góp ý với những bác có ý định "giải ảo" người khác, cũng nên tự xem xét lại lập trường của mình xem mình có bị "ảo" hay không.



0 Nhận xét