Advertisement

Tình trạng giằng co về quyền lợi thờ trời dưới chế độ Phong kiến

 Tình trạng giằng co về quyền lợi thờ trời dưới chế độ Phong kiến 

Tóm tắt bài viết: cấm tế, nhưng em cứ cúng, làm gì được nhau 🤣 

Chi tiết:

Vốn từ thượng cổ, tín ngưỡng Trung Quốc tương đối đa dạng, nhân dân tự do tế lễ trời. Từ trước thời Tây Hán (206 - 9 TCN) đã có những lưu truyền về các đền miếu tế tự các tinh tú tại đất Ung Châu. Trong Sử Ký - Phong Thiền Thư chép: “Đất Ung có hơn trăm miếu thờ Nhật, Nguyệt, Sâm, Thần, Nam Bắc Đẩu, Huỳnh Hoặc, Thái Bạch, Tuế Tinh, Nhị thập bát tú...”. Không chỉ dừng lại ở đó, dưới chế độ dân chủ nguyên thủy và dân chủ chủ nô, trong điều kiện đấu tranh với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, có cả những trường hợp người dân còn trách móc cả ông trời nữa - xem Thi kinh. 

Kể từ khi Nho giáo được độc tôn, tình hình đó đổi khác hẳn. Nho giáo quan niệm: chỉ vua được tế giời, chư hầu tế thần phương mình, các nhà chỉ được tế tổ tông. Từ đó dẫn đến sự giằng co về quyền thờ cúng lễ trời, thần linh giữa giới quý tộc, vua quan và quần chúng nhân dân. Vua tự cho mình mới có tư cách tế trời, còn dân chúng với nhu cầu tâm linh đa dạng không chấp nhận ràng buộc đó, và, sản sinh ra nhiều hình thức cúng bái đối với "ông trời"

Ở Việt Nam cũng diễn ra thực trạng này. Sách Vũ trung tuỳ bút 雨中隨筆, Phạm Đình Hổ có kể câu truyện: vào thời Lê Trung Hưng, ôn dịch lưu hành, các gia đình thường lập đàn Kỳ đảo, nhương thiên thời, Trừ ôn. Ông đi ngang qua đường thấy nhà dân thiết Tiếu đàn, trên để trống một chỗ phụng Phật, dưới đó lấy giấy vàng làm một vị đội mũ Cổn, mặc áo Miện phụng đức Đế Thích, dưới lại bầy ra mấy vị Cổn Miện xanh vàng bảo đó là đức Thiên Đế, Địa Kỳ,… rồi la liệt Chân tể các vị. Chiêu Hổ Tiên sinh dưới con mắt của nhà Nho mới nhận xét: "Thượng đế đã là chí tôn vô cực lại còn có ông to hơn cả Thượng đế khác chi ngoài trời lại có trời, trên Đế có thêm Đế. Thực là dị đoan, hoang đường, tà thuyết". Thực tế Phạm Đình Hổ là nho sĩ thời mạt, ông cũng đã có những nghi ngờ, ít nhất là nghi ngờ chế độ phong kiến đương thời. Thế nhưng, trên bình diện lễ bái ông vẫn mang nặng tính độc quyền trong tế tự của Nho giáo. Miệt thị như vậy thôi, chứ ông cũng chẳng thay đổi được thực tế là: Nho giáo quy định thì là việc của Nho giáo, quy định đó được tuân thủ trong tế tự quốc gia. Còn thực tế thì dân chúng, tăng ni đạo sĩ, vẫn trai tiếu, lễ bái trời, và các vị thần trên trời mà không thể chế nào can thiệp được. Cần kíp họ vẫn lễ đảo kỳ thiên Đế thích, Lễ Thiên đế giáng sinh, Lễ Thiên đế bảo đồng hộ thai, Triều lễ chư thần, cúng tứ phủ Thánh đế ... (Cụ thể là các khoa cúng trong Tạp tiếu). Lý do: thế giới quan của hai bên không giống nhau. Thế giới quan của nho giáo với phần hình nhi thượng học khá nghèo nàn, và để củng cố vị thế của chính quyền chuyên chế Trung ương tập quyền thì chỉ chấp nhận Có một ông trời mà thôi, ông trời ấy chỉ trao Thiên mệnh cho một người mà thôi. Còn với Đạo giáo và Phật giáo thì thế giới quan vô cùng phong phú với 36 tầng trời mỗi tầng trời lại có các vị thiên đế khác nhau, ...

Cho đến tận năm Gia Long năm thứ 3 (1804) nhà Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, vẫn phải có nhiều động thái can thiệp vào việc tín ngưỡng trong dân gian, để củng cố lại quyền lực phong kiến về cả Vương quyền lẫn Thần Quyền. Tiếng là “Khai hóa cho dân, làm nên tục tốt,... Sửa lại những thái quá cho được trung bình, làm định lệ chốn hương thôn, muốn bỏ hết mối tệ, cùng noi đến đạo cả vậy”, nhưng thực ra bản chất của chúng là những quy định tiền đề để độc tôn Nho giáo sau một thời gian dài Nho đài hoang phế, chứ không phải thực sự là “các vua triều Nguyễn đều quan tâm tới sinh hoạt tôn giáo trong dân chúng” như nhiều người lầm tưởng. Việc cấm “Con gái, đàn bà đến chùa quán, miếu thờ thần thắp hương khấn vái.” Cũng chẳng khác việc thời Lê cấm đàn bà dưới 50 tuổi lên chùa, đàn ông dưới 50 đi tu để hạn chế Phật giáo vậy. Các việc thực hành tín ngưỡng có trong giáo điển Phật - Đạo như “đốt bảy ngọn đèn” hay việc “đốt hương ban đêm, thả đèn trời” bị coi là hành vi "khinh nhờn thần linh" cho thấy triều đình độc tôn tư tưởng Nho gia sâu sắc. 

Quay lại với thực tế hiện tại, sau nhiều năm Nho giáo hoang phế không có ai phục hưng, đã có một số cá nhân có bỏ công bỏ sức ra tìm hiểu lại sách vở Nho giáo. Tuy nhiên do trình độ Hán Văn hạn chế, sức đọc hiểu chưa có, nên họ tiếp cận hơi máy móc. Ví dụ như: chỉ căn cứ vào một vài tài liệu thứ cấp, mà họ cho rằng chỉ có miếu, đình, ... Được Lễ Giao thừa mà thôi còn tư nhân làm là "tiếm lễ". Họ giải thích sự "tiếm lễ" này chỉ mới bắt đầu độ khoảng vài chục năm gần đây bởi tầng lớp thị dân mà thôi!

Có một số vấn đề chúng ta cần giải quyết ở đây: 

Thứ nhất, như trên đã trình bày, Nho giáo không phải là tôn giáo duy nhất quy định đời sống tín ngưỡng tôn giáo của người Việt 

Thứ hai, những quy định của Nho giáo cũng được thực hiện khá hạn chế, đối với tầng lớp dân chúng đông đảo chưa chắc đã có ảnh hưởng. 

Thứ ba, kể cả khi những quy định của nho giáo đã được thực thi, thì cũng chỉ được thực hiện trong một số phạm vi hạn chế (nhà nước độc quyền tế nam giao, tế xã tắc, ... Nhưng nhân dân vẫn tự do lễ Kỳ Thiên Đế Thích, lễ đảo thiên thời, lễ Nhương tinh, lễ Thiên địa khoa, lễ đương niên đương cảnh, ...). Như vậy, sự "tiếm lễ" mà tác giả muốn nói đến, là do tác giả thiếu hiểu biết mà thôi! Việc tế trừ tịch, tế giao thừa, là việc của đền miếu, đình đài, không phải là việc của tư gia - điều này đúng. Tuy nhiên việc cúng Giao thừa thì lại là việc của tư gia, tư gia vẫn bày Lễ Giao thừa tiễn hành khiển năm cũ đón hành khiển năm mới, cũng khoa nghinh tân tống cựu, lễ đương niên đương cảnh, ...

Thứ tư, trong nền dân chủ hiện tại, mọi tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thế tục, không duy trì quyền lực trong các tôn giáo, ... Vì vậy, Nho giáo không còn có thể áp đặt các quy định của mình lên toàn thể xã hội. Việc áp đặt "Tiếm lễ" lên cách thực hành tín ngưỡng của người khác là một suy nghĩ hết sức lố lăng, thậm chí lạc hậu và tụt hậu.

Vì vậy, để phát huy nét đẹp của tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng, thiết nghĩ nên duy trì quy chế, những quy định, những thiết chế của các tôn giáo trong phạm vi phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Áp dụng những kết quả nghiên cứu phải biết tôn trọng hiện trạng tín ngưỡng tôn giáo nước nhà.






Đăng nhận xét

0 Nhận xét