Advertisement

Nên có cái nhìn rộng mở hơn ...

 Nên có cái nhìn rộng mở hơn ...

Một nhóm nhà nghiên cứu có nhận định như sau: 

"Dùng mùi thơm của hương để "kết nối" giữa người cúng với quỷ thần nên chất lượng hương quan trọng mà không chấp vào số lượng. Cũng nên phân biệt việc dùng hương cúng giỗ và cúng Phật. Với việc lễ Phật, hương được coi là vật phẩm dâng cúng mà không phải là "phương tiện" như trong cúng giỗ, nên khi lễ Phật, thường phải dùng 3 nén."

"Trong cúng Phật, thì hương là một vật phẩm dâng cúng để tỏ lòng quy về Phật - Pháp, chứ không mời gọi hay cầu mong Phật. Cho nên huân hương, tán hương là để biến ít thành nhiều mà cúng Phật. Cho nên đốt 3 cây để cúng dường Phật, Pháp, Tăng và chúng sinh

Trong thờ cúng tổ tiên và gia thần, hương lửa để lấy mùi thơm để cầu thần giáng ngự. Thượng hương là phương tiện kết nối, cầu thần phần dương, loại tửu cầu thần phần âm. Do đó, chọn số lẻ que hương tỏ ý tính dương.

Đây là 2 điểm khác biệt chính yếu."

"Đại thừa cho rằng có cõi toàn bộ các vị Phật ở, Tiểu thừa cho rằng Phật không phải là tập trung một nơi. Cho nên không có chuyện mời xin cầu gọi Phật

Khi hỏi căn cứ vào đâu thì họ nói: "Hương trong Phật khác hoàn toàn ý nghĩa hương trong thờ cúng tổ tiên. Bác đọc các bài tán hương, nguyện hương thì hiểu", rồi dẫn ra cứ liệu sau đây:


Thật đáng tiếc, Nhóm học giả này khẳng định: "hương và hương cụ là một nội dung quan trọng nhất của cuốn sách (của họ), qua đó hiểu rõ bản chất, nguồn gốc, lịch sử và ý nghĩa của hương trong các tôn giáo, tín ngưỡng", thế nhưng lại phán đoán sai bản chất, nguồn gốc, lịch sử và ý nghĩa của khái niệm trung tâm! (chí ít là trên khía cạnh văn hóa Phật giáo)

Thứ nhất: Quan niệm về hương trong Phật giáo không chỉ đơn giản là vật phẩm cúng dàng.

Hương là 1 trong lục cúng - 6 loại vật cúng dàng như pháp. Chức năng "vật phẩm cúng dàng" của nó không có gì phải bàn cãi. Tuy nhiên, quan niệm về chức năng của hương trong Phật giáo không chỉ đơn giản như vậy. 

Trong kinh Trường A hàm có câu chuyện con gái của ông trưởng giả cấp cô độc bị gả đi sang nước ngoài. Đến nơi cô bị ép làm chay cúng dàng đến các lõa thể sư. Không thể từ chối, nên cô ra tối hậu thư là phải để cô cúng dàng trai tăng Đức Phật trước rồi mới cúng dàng ngoại đạo sau. Nhà chồng cô đồng ý vì nghĩ rằng cô không thể mời Đức Phật từ xa như thế được. Cô bèn đem lò hương lên trên thành cao đốt và khấn nguyện. Làn hương bay đến trong tịnh xá Đức Phật, Đức Phật liền hiểu ngay và bảo thánh chúng chư tăng vận thần túc bay đến dự lễ trai tăng của cô gái. Chính vì vậy Hương gọi là Như Lai sứ, sứ giả đi mời Đức Như Lai, đốt hương cũng dùng để thỉnh Phật chứ không phải chỉ là món cúng dàng đến Phật.

Tiếp đến, trong Kinh lăng nghiêm có nói đến nguyên lý của việc đốt Hương. Nguyên tắc của cảm ứng khi đốt Hương là: "tâm lô tính hỏa, hỏa biến thập phương". Nhờ làn khói hương tác động đến hỏa đại trong hư không mà cảm ứng được đến các cõi. Đây cũng là một ví dụ cho công năng truyền tin của Hương trong Phật giáo

Thứ hai: Về dẫn chứng của tác giả

Tác giả dẫn khóa lễ Phật của ngài Hoằng Tán (do cụ Thích Đồng Bổn dịch). Nếu tiếp xúc với nguyên bản chữ Hán, ta thấy rằng cụ Thích Đồng bổn đã dịch ý chứ không dịch sát với văn bản gốc

Nguyên văn: "Giới hương định hương giải thoát hương, quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dàng thập phương vô lượng Phật. văn hương phổ huân chứng tịch diệt" (戒香定香解脫香。光明雲臺遍法界。供養十方無量佛。聞香普熏證寂滅) (bản dịch: "Hương giới định cùng hương giải thoát. Xoay vần sáng lạn trước đài sen. Khắp xông pháp giới đại thiên. Con xin dâng cúng thánh hiền tam tôn" chỉ nói được công dụng "cúng của hương" mà vô tình bỏ mất công năng "văn hương phổ huân chứng tịch diệt" - công năng thanh lọc và định tâm của hương)

Nguyên văn chữ Hán (cuối cuốn sách được dẫn trên):

Ngay trong nghi thức trên đã chú: "Hương vi Phật sứ, cố tiên hiến chi" (香為佛使。故先獻之 - Hương là sứ giả của Phật, cho nên hiến đầu tiên). Tức là, ngay cả văn bản mà tác giả lấy ra để dẫn chứng còn phản đối lại chính ý kiến của tác giả! Ai tai!

Ngoài ra, Khóa lễ của ngài Hoằng Tán là "khoa của tổ" chứ không phải "kinh của Phật" nên không thể lấy đó để quy chụp cho toàn bộ Phật giáo. Nếu lấy ví dụ trong khoa cúng thì vô cùng đa dạng. Ví dụ như nhiên hương thần chú ở trong khoa cúng Phật có đoạn:

"Giới Hương Định Hương dữ Tuệ Hương 

Giải thoát giải thoát tri kiến Hương 

Quang Minh Vân đai biến pháp giới 

Cúng dàng thập Phương vô lượng Phật 

Hương Tài nhiệt lô phần bảo đỉnh trung 

Chiên đàn trầm nhũ chân kham cúng" 

Đoạn này nói đến chức năng cúng dàng. Nhưng đoạn tiếp theo: 

"Hương Yên liễu nhiễu Liên Huê động

Chư phật bồ tát Hạ Thiên cung 

Thanh Lương Sơn La Hán 

Nạp thụ nhân gian cúng"

Thì đoạn tiếp theo lại nói đến cả việc dùng Hương thỉnh Phật nhận cúng dàng

Hay như bài kệ:

Chân kỳ chủng tính phi tầm thường

Tín thị cao phong ngũ phận hương

Tuệ hoả kiền tương nhiên tính đỉnh

Giao thông tam giới cộng phân phương

Thế cho nên cần mới khẳng định. Vật phẩm cúng dàng hay sứ giả thỉnh mời là hai mặt của một vấn đề, sự lý dung thông trong Phật pháp. Chấp vào bất cứ mặt nào cũng là sai lầm!

Lời dư mực

Trên tinh thần cầu thị, tôi đã góp ý chân thành: "Nho với Thích vốn ít khi ưa nhau, nên đọc sách của nhau chưa chắc đã liễu nghĩa, em nghĩ bác nên khắc phục hạn chế của các cụ". Nhưng xem ra tâm ngã mạn của anh ta còn cao lắm. Anh ta cho rằng người khác bị tôn giáo nhồi sọ, chỉ biết tin vào kinh mà không chịu nghiên cứu bên ngoài. Trong khi chính vì không chịu đọc kinh mà tác giả mới sai lầm như thế. Anh ta lại cho rằng, Phật giáo mà Việt Nam, Trung Quốc tiếp cận là "ông phật tôn giáo", "xa la với phật giáo quốc tế" (mà không rõ là quốc tế nào???); ngược lại thì, ảnh "nhìn theo góc phật lịch sử". Xin thừa rằng, không dựa vào kinh văn truyền thừa, thì là phi lịch sử chứ "lịch sử" ở chỗ nào? Đành rằng hình ảnh Phật trong kinh đôi khi quá huyền ảo, nhưng phải biết chắt lọc, kết hợp cùng khảo cổ, điền dã, ... rồi mới đem vào suy luận. Hơn nữa, Ông Phật tôn giáo cũng là một dạng biểu tượng, một dạng lưu trữ kí ức từ quá khứ, cần được nghiên cứu. Không có gốc mà đòi suy luận, đúng là xây nhà trên hư không, xây nhà sàn 4 chân mà cưa mất 1. 

Nghiên cứu Phật học mà không nghiên cứu đủ kinh điển các bộ phái, tông môn, các nguồn Phạn, Pali, Hán, ... Không đọc kinh văn, rồi lại đọc sách nghiên cứu về Phật chỉ qua một nguồn phương Tây là sai lầm chí tử của y. Không phủ nhận có những học giả phương Tây có lòng với Phật giáo, nguyên cứu Phật giáo toàn diện cả Đại - Tiểu thừa, có vị còn xuống tóc xuất gia, ... Tuy nhiên, công tâm mà nói Phương Tây là nơi chia rẽ Phật giáo, kích động phái Theravada về vấn đề “ngươn thủy - dị giáo”, rồi lại hủy diệt cả một nhánh Mật tông Theravada, hạn chế Phật giáo để truyền đạo Công giáo hoặc Tin lành, ... Sau khi nhận thấy cái hay của Phật giáo thì lại chủ trương nghiên cứu Phật giáo theo kiểu triết học đơn thuần, tuyên truyền hủy bỏ hình thức thầy trò truyền nối, chỉ cần tự đọc kinh sách là đã “theo Phật” rồi, kêu gọi bỏ tụng kinh gõ mõ, đầu tròn áo vuông, cổ xúy các nước Phật giáo theo tân tăng Nhật bản lấy vợ sinh con, ... trong lịch sử PGVN có một ông chuyên đọc các tác phẩm của Tây viết về Phật, và cuối cùng không giải tỏa được mâu thuẫn đông - tây - ông cởi áo tu ra về. Đó là cựu thiền sư Thiện Chiếu. Còn ảnh, anh không có áo tu để cởi nên anh cũng chỉ biết thể hiện cái lối Tây-Phật của anh bằng cách ủng hộ anh Tú mà thôi!? Ban đầu, Tôi vẫn chưa hiểu tại sao một người tự xưng “học giả” lại có thể có nhiều lỗ hổng nền nghiên cứu, thủng phông văn hóa to như thế, thì khi tôi nhìn thấy anh ta là fan Anh Tú, và tôi đã hiểu tất cả :)))

Xin nhắc lại câu thơ chế của Anh Tú Tuệ mà anh hâm mộ:

“Người ngu nghĩ mình ngu

Nhờ vậy thật có trí

Người ngu tưởng có trí

Trí đó gọi chí long”. :)



Đăng nhận xét

0 Nhận xét