Advertisement

Giải thích lý do một số vị tổ sư được cung thỉnh trong đường Tứ quả của khoa cúng Phật

Giải thích đường Tứ quả trong khoa cúng Phật 

Trong khoa thỉnh Phật có đường Tứ quả như sau: 

"Tứ quả tứ hướng Bích chi Phật, Thanh văn La hán hiền Thánh tăng

Phả thiên ứng cúng Tân Đầu Lư Đại đức Tôn giả

A Nhã Kiều Trần Như Tôn giả

Ma Ha Ca Diếp Tôn giả

Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp Tôn giả

Già Da Ca Diếp Tôn giả

Na Đề Ca Diếp Tôn giả

Xá Lợi Phất Tôn giả

Đại Mục Kiền Liên Tôn giả

Ma Ha Ca Chiên Diên Tôn giả

A Nậu Lâu Đà Tôn giả

Kiếp Tân Na Tôn giả

Kiều Phạm Ba Đề Tôn giả

Li Bà Đa Tôn giả

Tất Lăng Già Bà Tha Tôn giả

Bạc Câu La Tôn giả

Ma Ha Câu Hi La Tôn giả

Nan Đà Tôn giả

Tôn Đà La Nan Đà Tôn giả

Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử Tôn giả

Tu Bồ Đề Tôn giả

Át Nan Tôn giả

La Hầu La Tôn giả

Như thị chúng sở tri thức, đại A La Hán, phục hữu học, vô học, nhị thiên nhân đẳng, Tây thiên, Đông độ, Nam Việt Lịch đại chư vị tổ sư

Tào khê nam hoa tự, đại giám chân không, Phổ giác viên minh thiền sư nhục thân Bồ Tát

Yên Tử sơn Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng Tĩnh Tuệ Thiền sư

Báo nghiêm tháp hoằng Pháp độ nhân Chuyết Công Hòa thượng, Phổ Giác Quảng tế Đại đức Thiền sư Nhục thân Bồ tát

Tại Công Hòa Thượng Minh Hành Thiền sư, 

Anh Công, Chí Công Đại Đức thiền sư

Lương Vũ Đế Quân, Tam Châu Cảm Ứng, Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. Nhị thập ngũ vị Giới thần, Nhất thập bát vị hộ giáo Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát

Duy nguyện: chư hiền Thánh tăng, chư tôn hộ pháp, bất vi bản thệ (bất xả từ bi), lân mẫn hữu tình, quang giáng đạo tràng (gia đường) chứng minh công đức. Hương hoa thỉnh"

- Tứ quả tứ hướng: chỉ 4 song 8 bối trong hàng đệ tử thanh văn của Phật, gồm 4 thánh quả và 4 hạng đang hướng đến quả vị đó (thánh tăng (vô học) và phàm tăng (hữu học)). Do đó đường thỉnh liệt kê các đại A la hán từ Tân đầu lô tôn giả, đến La hầu la. Chú ý là Bích chi Phật không thuộc 4 quả Thanh văn mà là quả vị thứ 5. Nhưng Bích chi Phật thay Phật trụ trì trong đời không có Phật nên hợp thỉnh chung

- Lý do hợp thỉnh các vị tổ sư Trung Hoa và Việt Nam vào chung đường thỉnh: Tuy các vị tổ sư được hiệp thỉnh đều tu theo Đại thừa, nhưng cũng thuộc hàng xuất gia thanh văn, cũng thuộc thường trụ tăng bảo nên được thỉnh cùng một đường thỉnh. Kế chót là hàng đại hộ pháp cho chư tăng thường theo mật hộ, cũng được thỉnh đến

Đối với từng vị, ta có lý do cụ thể như sau: 

- Tào khê nam hoa tự, đại giám chân không, Phổ giác viên minh thiền sư nhục thân Bồ Tát (Tức Lục tổ Huệ Năng): Người kế thế dòng thiền Đạt ma ở Trung Hoa. Phái Lâm tế và 4 phái thiền nữa, cũng lưu xuất từ đây mà ra. Thiền Việt Nam ảnh hưởng bởi dòng truyền thừa này (cả trực và gián tiếp), đặc biệt là dòng do Chuyết công Hòa thượng truyền sang.

- Yên Tử sơn Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng Tĩnh Tuệ Thiền sư (Tức Phật hoàng Trần Nhân Tông): Tổ của phái Trúc Lâm. Nên nhớ, khoa thỉnh Phật này đã được phái của ngài Chân Nguyên tu đính. Mà ngài Chân Nguyên xuất gia, đắc pháp với Trúc Lâm, kế đăng trụ trì của phái này, nhưng cũng đắc pháp với các ngài Minh Lương phái Lâm Tế

- Báo nghiêm Tháp Hoàng Pháp độ nhân Chuyết Công Hòa thượng, Phổ Giác Quảng tế Đại đức Thiền sư Nhục thân Bồ tát (Tự Lâm tế chính tông Đông đô thủy tổ Chuyết Chuyết hòa thượng): Ngài là người Trung Quốc sang Việt Nam truyền pháp Lâm tế, có công trung hưng thiền giáo sau quãng dài Nho giáo bức bách và chiến tranh tàn phá Phật giáo Việt Nam. Ngài truyền tâm ấn cho đệ tử Minh Hành, Minh Lương, ... Minh Lương lại truyền xuống tới Chân Nguyên. Vua Lê chúa Trịnh có nhờ ngài lập đàn thủy lục siêu độ tại Thăng long, làm phục hưng lại loại loại trai đàn phức tạp cầu kì này, được người đương thời rất hâm mộ. Đây là một lý do đặc biệt khiến ngài xuất hiện trong đường thỉnh này (nằm trong bộ Thủy lục)

- Tại Công Hòa Thượng Minh Hành Thiền sư: Đệ tử lớn của Chuyết công hòa thượng Thích Tại Tại

- Anh Công, Chí Công Đại Đức thiền sư: Cũng được hợp thỉnh do liên quan đến pháp hội trai đàn thủy lục: vua Lương Võ Ðế, ở nước Trung Hoa phát tâm Bồ Ðề rất mực chân thành, mà cung thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn tràng "Thủy Lục", để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử. Lập đàn, sắp đặt đèn nến xong, vua Lương Võ Ðế lễ một lạy, kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm một lạy. Khi đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời mưa hoa báu. Ðời Ðường, tại chùa Pháp Hải, thiền sư Anh Công lại kiến lập đàn tràng Thủy Lục, để cầu siêu độ cho vua Tần Trang Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị, Chẩn Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu thăng cõi trời. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế. Nay lại thỉnh các ngài để các ngài chứng minh cho đàn tràng được như pháp

- Lương Vũ Đế Quân: Ngoài là một đại thí chủ của Phật giáo, thì ngài còn liên quan đến nhiều đàn tràng cúng cấp, bái sám của Phật giáo. Lương hoàng sám, là khoa sám ngự tứ cho Chí công hòa thượng đặc soạn để tụng cầu siêu cho Hy thị hoàng hậu, cũng là một sám văn hay dùng trong đàn Thủy lục 



Đăng nhận xét

0 Nhận xét