Advertisement

Đọc Luận ngữ lại ngẫm đến các "Nho ra" Fb hiện thời

Đọc Luận ngữ lại bàn về các "nho ra" thời hiện tại p.1
***




Chẳng cần đọc rộng hiểu sâu, chỉ cần lên mạng cũng dễ dàng tìm thấy: "丁祭,中国传统礼制名称,又称“祭丁”,为祭孔之礼,清顺治二年(1645)定制,每年春、秋二祭,均在仲月上丁,故称丁祭。"

(Đinh tế hay tế đinh là lễ nghi truyền thống của Trung Quốc, tế lễ Khổng tử ... Mỗi năm Xuân Thu nhị tế, đều ở trọng nguyệt thượng đinh, nên gọi là đinh tế"

Cũng giống như ở Việt Nam hay bảo "mão đầu trẩy hội", mà có sợ bị nhầm với cái mão nào khác đâu?

Đọc Luận ngữ có đoạn làm em rất liên tưởng đến các "nho ra" thời hiện tại: 

"Tử nhập Thái miếu, mỗi sự vấn. Hoặc viết: “Thục vị Trâu nhân chi tử tri lễ hồ? Nhập Thái miếu mỗi sự vấn.”. Tử văn chi viết: “Thị lễ dã.”

Dịch nghĩa:

Đức Khổng tử vào nhà Thái miếu, mỗi việc đều hỏi. Có người nói: “Ai bảo người ấp Trâu (Khổng tử) biết lễ? Vào nhà Thái miếu, việc gì cũng hỏi!”. Đức Khổng tử nghe thấy bèn nói: “Thế là lễ vậy.”

BÌNH GIẢI:

Thái miếu là tổ miếu của nước Lỗ, trong đó thờ Chu Công, em của Vũ Vương nhà Chu. Chu Công giúp Vũ Vương soạn Chu lễ, ổn định sự cai trị của nhà Chu, được phong về nước Lỗ. Dòng tộc Lỗ hầu hằng năm cúng tế tại đó để tưởng nhớ Chu Công. Bởi vì Chu Công là người soạn tác Chu lễ, cho nên mỗi vật được sắp đặt, mỗi việc được diễn ra trong Thái miếu nước Lỗ đều mang ý nghĩa sâu sắc. 


Mặc dầu Đức Khổng tử là người đã tìm hiểu về nghi lễ của Tam đại (Hạ, Thương, Chu) một cách cẩn thận, nhưng ngài vẫn hỏi han kỹ lưỡng từng chi tiết khi vào Thái miếu nước Lỗ. Đó là thái độ vừa khiêm tốn vừa tôn kính của Đức Khổng tử đối với Chu Công.


Ngoài ra, những điều Đức Khổng tử biết về lễ chẳng qua là kiến thức đọc được trong sử sách hoặc do người ta thuật lại. Trăm nghe không bằng một thấy chăm thấy không bằng một sờ, mọi lý thuyết chỉ là màu xám còn cây đời mãi mãi tươi xanh, Vào Thái miếu, ngài mới thấy tận mắt những chi tiết của Chu lễ được diễn bày. Hỏi han cẩn thận là thái độ thành khẩn trong học tập để điều chỉnh lại những sự hiểu biết lệch lạc do căn bệnh chủ quan. 

Tất cả những điều ấy (khiêm tốn, tôn kính, thành khẩn) chính là sự biểu hiện của tinh thần biết lễ vậy!

(Đấy là còn chưa kể ai đó còn viết Trọng Thu là vào tháng 9 âm lịch 🤣)

Đọc Luận ngữ lại bàn về các "nho ra" thời hiện tại p.2
***




Bát hương nó cũng là công cụ của con người sinh ra, trải qua diễn tiến lịch sử, nó bắt buộc phải có sự thay đổi. Sự thay đổi diễn ra cả về hình hài, lẫn nội hàm, quan niệm, ... Trước đây nó chưa phải là vật linh, nhưng dần dà qua thời gian lịch sử nó lại trở thành vật linh. Lại bàn về việc khư khư phủ nhận lối thờ 1 bát và cốt bát hương của tác giả, cũng như để kết vấn đề “Nhìn nhận sự vật vừa siêu hình vừa chết cứng”, xin trích một đoạn trong Luận ngữ: “Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ.””. Dịch nghĩa: Đức Khổng tử nói: “Người quân tử ở trong thiên hạ, không theo hẳn, không bỏ hẳn, cùng sánh với nghĩa mà thôi.”

Quân tử là người thông hiểu dịch lý. Dịch lý là qui luật biến động của vũ trụ nhân sinh. Vũ trụ thiên nhiên không ngừng biến đổi thì xã hội nhân sinh cũng không ngừng biến đổi. Do biến đổi mà có thời. Vì thế, người quân tử phải biến đổi theo, tức là phải biết thích ứng với thời. Trong Kinh Dịch có cả một quẻ gọi là Trạch Lôi Tùy để nói về nghĩa lý của việc tùy thời. Có việc phải bảo tồn, có việc phải thải bỏ; và cũng có việc phải sửa đổi sao cho hợp với thời, với hoàn cảnh, với tâm lý con người.  Vậy, học làm người quân tử thì không nên cố chấp vào một điều gì, tức là không nên theo hẳn một hình thức, một khuôn khổ nào, không bỏ hẳn một phép tắc, một đường lối nào... Hình thức, phép tắc... phải được linh động sửa đổi cho hợp với thời, với nghĩa. Cho nên, miễn là thích hợp với nghĩa, người quân tử luôn luôn hành động tùy thời. Đó là đạo lý thời nghĩa của người quân tử. Khư khư theo một hình thức hoặc khăng khăng chối bỏ một đường lối nào đều là những cách xử sự cực đoan và cố chấp. Đó là cách xử sự theo lối hủ nho, có hại cho đạo lý và phản tiến hoá. 

Lại nữa! Tử viết: “Ma miện lễ dã. Kim dã thuần, kiệm. Ngô tùng chúng. Bái hạ, lễ dã. Kim bái hồ thượng, thái dã. Tuy vi chúng, ngô tùng hạ.”Dịch nghĩa: Đức Khổng tử nói: “Mũ bằng gai, đó là lễ. Ngày nay làm bằng tơ, ít tốn. Ta theo số đông. Lạy thì ở dưới, đó là lễ. Ngày nay, lạy ở trên, đó là kiêu mạn. Tuy trái với số đông, ta theo ở dưới.”BÌNH GIẢI: Ngày xưa, theo nghi lễ, mũ miện dùng trong khi tế hoặc chầu vua được dệt bằng gai. Vào thời Đức Khổng tử, người ta thay mũ gai bằng mũ dệt bằng tơ, ít tốn kém hơn. Vì thế, Đức Khổng tử theo số đông, cũng dùng mũ bằng tơ. Đó là nghĩa lý tùy thời thay đổi. Sự thay đổi đó không làm mất ý nghĩa của lễ, lại còn có lợi.

Thế mới thấy Phật dạy: khế lý, khế cơ, khế thời, khế xứ, phương tiện, tùy duyên, thật là đúng lắm!



Đăng nhận xét

0 Nhận xét