MẠN ĐÀM VỀ "XÁ LỢI"
1.
Xá lợi là gì?
Trước đây, vẫn có quan điểm cho rằng Đức Phật là Huyền Thoại, nhất là khi Phật giáo đã suy tàn ở Ấn Độ, và Phật Thích Ca được Ấn độ giáo thuyết minh như một vị thần của họ. Tuy nhiên, với việc tìm ra Xá lợi Phật, lịch sử lại một lần nữa tìm thấy thêm một minh chứng cho sự tồn tại của một Đức Phật lịch sử, bằng xương bằng thịt
(s: śarīra, p: sarīra, 舍利):
âm dịch là Xá Lị/ Lợi, Thật Lợi (實利), Thiết Lợi
La (設利羅), Thất Lợi La (室利羅); ý dịch là tử thi (死屍),
di cốt (遺骨), xác chết, thân, thể, thân
cốt (身骨), di thân (遺身). Ban đầu từ này có ý nghĩa bình thường và không
có gì thần thoại cả, và trong kinh Phật giáo dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật.
Tuy nhiên phần di cốt của Phật cũng như các vị cao tăng,
luôn được cho là có sự mầu nhiệm, không chỉ là xương trắng như người thường. Xá
Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc,
nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Tuy nhiên, ngoài các mảnh xương, còn có một số hạt
vật chất lạ đi cùng. Các vật chất này có vẻ đẹp kì dị, khó xác định, không phải
đá, ngọc, vàng thông thường.
Chính vì vậy, sau khi kinh điển truyền đến Đông độ, truyền
thống dịch kinh thường không dùng chữ dịch nghĩa mà dùng nguyên phiên âm Phạn –
Hán, để tránh sót nghĩa, sai nội hàm (vì tiếng Ấn là tiếng đa nghĩa), và để giữ
tính linh thiêng. các trường hợp như các từ: sám ma, bát nhã, cà sa, sa môn, tỉ
khiêu, … cũng giống như vậy. Rất ít khi các từ này được dùng bằng các từ Hán dịch
như: hối quá, trí tuệ, hoại sắc y, khất sĩ, …
Theo kinh điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3
phần cho chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế
Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋天) thì nhận
Xá Lợi răng. Phần xá lợi chia tại nhân gian được chia làm 8 phần. Về sự kiện
sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế
nào, các kinh điển ghi lại rất rõ.
Về sau các cao tăng sau khi thị tịch, làm lễ trà tỳ (hỏa
táng), mà còn lại phần di cốt chưa cháy hết, cũng được gọi là xá lợi. Đối với
Việt Nam, sau khi bốc mộ tăng ni, xếp xương nhập tháp cũng cung kính gọi là “xá
lợi”. Sau khi hỏa táng, một số cao tăng cũng có xuất hiện những hạt vật chất lạ
như trên đã nói
Về nguyên nhân xuất hiện của các hạt này thì chưa ai có câu
trả lời xác đáng. Bộ Kim Quang Minh Kinh (合部金光明經,
Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định
Tuệ chi sở huân tu, thậm nan khả đắc, tối thượng phúc điền (此舍利者、是戒定慧之所熏修、甚難可得、最上福田, Xá Lợi này được huân tu bởi
Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).”. Về phái khoa học,
Người thì nói là do “ăn chay”, “kết tinh tinh thể photsphate”, người thì nói là “do
sỏi thận”, kẻ thì nói là “để tạo sự linh thiêng cho các bậc Cao Tăng được dân
chúng tôn sùng là đắc đạo, khi các Cao tăng viên tịch, khi đem thiêu, người ta
thường bỏ vào đó các viên ngọc, hoặc các viên đá quý, hoặc các viên bi thuỷ
tinh. Khi thiêu xong, người ta sẽ lấy các viên ngọc - đá đó ra để thờ, và gọi
là xá lợi” (?!). Một số nghiên cứu lại khẳng định xá lợi là loại “siêu vật chất,
nằm ngoài hiểu biết con người”!
2. Phân loại xá lợi
Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經,
Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sinh Thân Xá Lợi (生身舍利), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi
(法身舍利), hay Pháp Tụng Xá Lợi (法頌舍利), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại.
Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林,
Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (骨舍利, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (髮舍利, Xá Lợi tóc), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (肉舍利, Xá Lợi thịt), màu đỏ.
Theo thiển ý của tôi có thể chia xá lợi Phật thành mấy loại
như sau (xá lợi các thánh tăng cũng theo đó để phân loại):
-
Chân xá lợi:
o
Thân xá lợi: các phần di cốt, tóc móng, … còn lại
của Phật. Xá lợi có hai loại. Một là Toàn thân xá lợi tức thân Phật sau khi nhập
diệt được giữ nguyên vẹn trong bảo tháp (như Phật Đa Bảo trong quá khứ). Hai là
Toái thân xá lợi tức thân Phật nát vụn thành những hạt nhỏ kim cương được phân
phát khắp nơi để thờ). Các loại thân xá lợi tùy theo căn cứ lịch sử mà được
phân làm các loại khác nhau.
§
Loại 1: Các xá lợi có căn cứ khảo cổ, văn vật,
di tích đi kèm, được khai quật tại Ấn độ, được cộng đồng quốc tế công nhận rộng
rãi, như: xá lợi tại di tích Piprāhwā (hiện được tôn trí ở Bảo tàng Quốc gia
(National Museum), New Delhi.), xá lợi tại di tích Nagarjunakonda (xá-lợi
Sarnath - được tôn trí ở chùa Mulagandha Kuti Vihar, Sarnath).
§
Loại 2: Các xá lợi không được khai quật tại Ấn độ,
nhưng được lịch sử các nước minh xác là xuất phát từ Đức Phật như: xá lợi tóc
chùa Shwedagon, chùa Botataung, Yangon Mianma; xá lợi xương đỉnh đầu tại Phật Đỉnh
Cung, Giang Tô, Trung Quốc; xá lợi răng Phật tại Somawathiya Chaitya, Tích Lan,
hay Phật nha tự Long Hoa viện, Singapore; Linh Quang tự, Phật nha Xá lợi tháp tại Bắc Kinh, Trung Quốc, …
§
Loại 3: được truyền thừa theo truyền thống tự viện,
nhưng chưa được công nhận của nhà nước và cộng động Quốc tế
o
Tùy thân xá lợi: các vật dụng của Phật. Theo
kinh điển, ngài Ca diếp còn chưa nhập Niết bàn mà ôm bình bát, ca sa của Phật
nhập định trong núi Kê túc chờ Phật Di lặc thành đạo
o
Pháp xá lợi: những Pháp môn do Phật di giáo lại,
kinh sách, … là tâm yếu của Phật, giúp người trở về trốn Chân như, nhận lại bản
lai diện mục, đắc được chính Pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, Pháp thân thanh
tịnh. Thấy Pháp như thấy Phật, nên Pháp bảo cũng là một loại xá lợi
-
Tín xá lợi: các loại xá lợi niềm tin. tại nhiều
nước, điển hình là Thái Lan, Myanma, Srilanka, người ta cũng lấy những viên ngọc,
trì chú, sau đó gọi là Xá lợi Phật để đem thờ
-
Biến hóa xá lợi: do sức thần thông của Phật mà
biến hóa ra. Cao tăng truyện của Huệ Hạo (496 - 553) hoặc Xuất tam tạng ký tập
của Tăng Hựu (445 - 518) có ghi lại: Để tạo niềm tin với Tôn Quyền, nhằm hoằng
hóa Phật giáo chốn Giang tả, ngài Khương Tăng Hội mở pháp hội cầu xá lợi Phật tại
kinh thành Kiến Nghiệp trước sự chứng kiến của vua tôi nhà Ngô, sau khi cầu đảo,
trong bát xuất hiện xá lợi, làm cho kẻ chưa có tín tâm càng thấy rõ sự linh
nghiệm
-
Giả xá lợi: từ sau khi Thái Lan trở thành trung
tâm du lịch nói chung cũng như du lịch tâm linh, du lịch Phật giáo nói riêng, vấn
nạn làm giả xá lợi diễn ra khá nghiêm trọng. Đầu tiên là vấn nạn “đánh lận con
đen” giữa “xá lợi niềm tin” trong tín ngưỡng Nam truyền thành “chân xá lợi”, và
bán sang các quốc gia láng giềng. Hay các con buôn còn lợi dụng một số chân xá
lợi, nhưng chưa có bằng chứng lịch sử cụ thể, rồi làm hàng nhái. Một số lấy các
loại đá, ngọc, mô hình dung dịch máu, mỡ, … rồi đóng tháp bán làm quà lưu niệm,
… Có loại cỏ, nhìn giống tóc, có thể nhúc nhích khi dính nước hoặc điều kiện
thích hợp. Loại này có nhiều ở Myanmar, nơi được xem là đất Phật hiện nay. Đám
người buôn thần bán thánh đem cỏ này về và nói là xá lợi tóc của Đức Phật. Ở
Băng Cốc có những tiệm chuyên ... bán xá lợi. Đặc biệt trong đó cung cấp xá lợi của
những vị mà vốn không để lại xá lợi! Ví dụ như Ngài La hầu La, Ngài tịch trên cõi
trời. Không biết họ liên lạc email điện thoại tin nhắn gì không biết mà làm sao
Ngài tịch trên đó mà "ship" được xá lợi về đây cho bán. Rồi thí dụ thứ
hai là ngài Bakula. Ngài trước khi tịch đã chú nguyện: "Khi ta sống không
có học trò, không đệ tử, khi ta chết ta cũng không muốn để lại xá lợi cho đời."
Ngài chú nguyện xong là Ngài nhập thiền Ngài tịch, thì khi Ngài tắt thở xong tự
có lửa thiêu, thiêu nát xá lợi không để lại dấu vết, tan mất như một làn khói.
Vậy mà bên Thái Lan vẫn có xá lợi của Ngài. Họ dò tìm trong không khí thu gom
được hay sao? Một thời kì Phật giáo đồ bị loạn trong ma trận các loại xá lợi giả
này. Ngay cả một số tổ chức Phật giáo quốc tế cũng thỉnh nhầm.
3.
Xá lợi trong lịch sử Việt Nam
Sau khi kiết tập kinh điển lần thứ III, với sự ủng hộ tích cực
của vua A Dục (Asoka) và Đại lão Hòa thượng chủ tọa Moggaliputta Tissa, Phật
giáo đã cử 9 phái đoàn đi khắp nơi. Trong đó, đoàn thứ 8 do ngài Sona và Uttara
đã đến vùng Kim Địa (bao gồm nước Miến Điện, các nước Đông Dương và một phần Mã
Lai). Khi đến Việt Nam, công chúa con gái vua A Dục đã cho xây thành Nê Lê (có
chùa Địa Ngục nói trên và tháp thờ xá lợi) để đánh dấu nơi đoàn đến.
Theo văn bia tại chùa Dâu ở Bắc Ninh cho biết: Tùy Văn Đế
sai Lưu Phương mang 5 hòm xá lị sang Giao Châu để dựng bảo tháp, một hòm đặt ở
Dâu - Luy Lâu, một hòm đặt tại Tường Khánh (Nam Định), một hòm đặt ở Châu Hoan,
một hòm đặt ở Châu Ái và hòm cuối cùng đặt ở Phong Châu (Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc).
Đây là phần xá lị của Phật Thích Ca được vua A Dục chia cho Trung Hoa, sau khi
khai mở 7 bảo tháp tôn trí xá lị Phật tại Ấn Độ cổ đại. Hiện tại các nhà khoa học
đã xác minh được hai hòm xá lị Phật. Hòm ở Bắc Ninh phát hiện sau chùa Huệ Trạch,
phường Trí Quả, Thuận Thành, bên trong xá lị đã mất; hòm tại Châu Hoan phát hiện
được trong lòng di tích khảo cổ tháp Nhạn, huyện Nam Đàn, Nghệ An, tháp xây năm
Trinh Quán thứ 6 (627), bên trong vẫn còn nguyên xá lị Phật. Cả hai hiện vật đều
đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, hòm đựng xá lị ở Bắc Ninh là phần vỏ
ngoài cùng bằng đá, có minh văn; hòm tại Nghệ An lớp ngoài bằng đồng, hộp bên
trong bằng vàng, có ảnh dẫn trong bài.
Sang thời Đường, Năm Nguyên Hòa thứ 14 (819), Đường Hiến
Tông cho rước xương Phật vào cung để thờ
Vua Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi có xây tháp thờ xá lợi
Thời vua Lý Thái Tông có sự kiện xá lợi Phật dưới nền chùa
Pháp Vân phát sáng hào quang. Người ta theo luồng ánh sáng ấy đào xuống, phát
hiện và lấy lên một cái hòm bằng đá. Mở hòm đá ra, thấy bên trong có một hòm
khác bằng bạc. Trong hòm bạc lại có một hòm nữa bằng vàng. Mở hòm bằng vàng, lại
thấy một bình lưu ly đựng xá lợi Phật. Khả năng đây là xá lợi do Tùy Văn Đế đưa
sang.
Ngày 13.9.1952, khi phái đoàn Phật giáo Tích Lan trên đường
đi dự Đại Hội Phật Giáo Thế Giới kỳ II tại Tokyo, ghé tại Sài Gòn và có thỉnh
theo một Xá Lợi của Phật. Các tổ chức Phật giáo đương thời tại miền Nam đã tổ
chức lễ đón rước long trọng
Vào tháng 6.1953, với hàng nghìn tăng ni và đồng bào phật tử
Sài Gòn tề tựu tại phi trường Tân Sơn Nhất đón ngọc xá lợi Phật đem từ Tích Lan
(Sri Lanka) hiến cúng sang Việt Nam bởi hòa thượng Narada Maha Thera. Ngài đem
theo 3 viên xá lợi, và cúng cho 3 ngôi chùa khác nhau. Viên thứ nhất cúng vào
chùa Kỳ Viên (610 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM hiện nay) thuộc hệ phái Nam
tông. Viên ngọc thứ hai, tặng thân mẫu của vua Bảo Đại là bà Từ Cung. Vài năm
sau, bà Từ Cung hiến cúng đại lão hòa thượng Thích Tịnh Khiết (đang là hội chủ
của Tổng hội Phật giáo Việt Nam) và hòa thượng Thích Tịnh Khiết trao lại Hội Phật
học Nam Việt đóng trụ sở tại chùa Xá Lợi (số 89 Bà Huyện Thanh Quan, Q.3 hiện
nay) tôn trí. Tháng 5.1958 làm lễ lạc thành, đặt ngọc xá lợi Phật lên một vị
trí khá đặc biệt ở chánh điện, nằm rất cao, chỗ trên cùng của vòm trang trí mỹ
thuật trước tượng Phật Thích Ca. Viên ngọc thứ ba cung nghinh về chùa Giác Lâm
ngày 24.6.1953. Giác Lâm (số 118 đường Lạc Long Quân, Q.Tân Bình, TP.HCM) là cổ
tự có gần 300 năm tuổi (lập từ thế kỷ 18), nay là tổ đình của phái Lâm Tế, dòng
đạo Bổn Nguyên, đang lưu giữ nhiều tài liệu cũng như tác phẩm quý liên quan đến
lịch sử và kiến trúc mỹ thuật Phật giáo. Lúc đầu, ngọc xá lợi Phật đưa về gửi ở
chùa Long Vân trong một tháp nhỏ bằng vàng, để đợi xây một tháp lớn trong khuôn
viên Giác Lâm rồi mới đem về tôn trí sau. Tháp xây năm 1970 tới năm 1994 mới
hoàn thành.
Chùa Viên Đình, Đông Lỗ, được cho là có hơn 30 bảo tháp xá lợi
các loại thỉnh từ các quốc gia trên thế giới do 7 Trung tâm Phật giáo trên thế
giới với 8 lần cúng dường và 9 lần nghinh đón
Trong ba ngày 17-19/10/2008, chùa Long Hương (xã Long Tân,
huyện Nhơn Trạch) đã tổ chức trang trọng triển lãm hơn 500 Xá lợi Phật và thánh
tăng, thiết đàn cầu nguyện quốc thái dân an. Đến chứng minh, tham gia cầu nguyện
có: Lạt ma Rui Sian Cheng, Rui Sheng Tian đến từ Malaysia; Lạt ma Rui Fai Lung
đến từ Singapore; Tham tán Đại sứ quán Myanmar, ông Thiha Saw cùng phái đoàn.
Ngoài ra còn có hàng ngàn chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử các tỉnh thành trong cả
nước câu hội về chiêm bái, đảnh lễ Xá lợi và tham dự Đại lễ cầu quốc thái dân
an.
Nam 2009, qua hòa thượng pháp sư Tịnh Giác ở Thái Lan, GHPGVN
làm lễ cung nghinh đến chùa Quán Sứ và chùa Bái Đính, 4 ngọc xá lợi Phật và 3
ngọc xá lợi thánh tăng (của các vị Mục kiền liên, Xá lợi phất)
Tối ngày 21- 5 - 2024 tức ngày 14 - 4 năm Giáp Thìn, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và Tùng Lâm Quán Sứ đã long trọng tổ chức lễ rước xá lợi Phật mừng ngày Đản sinh PL. 2568 - DL. 2024 cầu quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Trong khuôn khổ đại lễ Vesak Liên hiệp Quốc 2025 được tổ chức tại Việt Nam, được sự bảo trợ của nhà nước, GHPGVN đã thỉnh xá lợi quốc bảo của Ấn Độ về tôn trí tại chùa Thanh Tâm, Núi Bà Đen, Chùa Quán Sứ, và Chùa Tam Chúc để nhân dân chiêm bái
Các cao tăng Việt Nam có để lại xá lợi tiêu biểu như: thiền
sư Vạn Hạnh, Thiền sư Thiền Lão, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, các cao tăng hiện đại
thì có các ngài Thích Trí Tịnh, Thích Giác Khang, ... Các Thiền sư Minh Không,
Từ Đạo Hạnh, Chuyết Công hòa thượng chùa Bút tháp, Thiền sư Như Trí chùa Tiêu
Sơn, thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường chùa Đậu, … để lại toàn thân xá lợi
(nhục thân bất hoại). Bồ tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân để lại trái tim
xá lợi.
4.
Xá lợi nào là quan trọng nhất??
Một đề tài khá “nóng” từ sau khi Phật diệt độ, trải qua thời
kì bộ phái, cho đến tận ngày nay vẫn còn gây tranh cãi là: xá lợi thân và xá lợi
pháp, xá lợi nào “quý” hơn, lễ xá lợi nào “nhiều công đức” hơn?
Đi ngược dòng thời gian, Ban đầu, theo như lời Đức Phật dạy,
tháp xá-lợi được xây dựng nơi công cộng cho dân chúng lễ bái. Người xuất gia hầu
như ít có mối liên hệ với việc tín phụng tháp xá-lợi bởi điều này đã được Đức
Phật nhắc nhở trong lời di huấn cuối cùng rằng không nên quan tâm đến việc thờ
cúng xá-lợi mà hãy chuyên tâm cho việc tu tập. Khi Phật nhập diệt có di chúc
cho A Nan: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi; y chỉ vào mình chứ đừng y chỉ vào một
ai khác, lấy Chính Pháp làm đuốc, y chỉ vào pháp chứ đừng y chỉ vào nơi nào
khác”. Sau khi Phật nhập diệt, những lời di chúc đó đã trở thành tinh thần chỉ
đạo cho Giáo Đoàn, vận mệnh của giáo đòan tùy thuộc ở sự thực hành chính pháp,
đó là điều tất nhiên.
Song cùng với việc đó, cảm tình kính mến Đức Phật đã dần dần
đưa đến một phong thái tôn sùng Xá Lợi của Phật, và cuối cùng thậm chí thừa nhận
Xá Lợi là một sức linh thiêng thần bí. Về sau, vì vấn đề chăm sóc bảo vệ nên
tháp xá-lợi được tích hợp vào khuôn viên các tự viện. Sự thay đổi về nơi dựng
tháp cũng nói lên rằng tín ngưỡng thờ xá-lợi dần dần đi từ dân gian vào tự viện,
được tích hợp vào đời sống của giới xuất gia chứ không còn là hoạt động riêng rẽ
của giới tại gia nữa. Về sau, sự sùng bái dẫn tới việc phát động phong trào xây
tới tám vạn bốn nghìn ngôi tháp, việc làm này, ít ra về hình thức, cũng đã phổ
biến hóa Phật giáo một phần lớn, dù cho người ta chẳng biết đến ý nghĩa căn bản
của Phật giáo, nhưng khi xây tháp cúng dường, lễ bái Xá Lợi cũng được vô lượng
công đức. Dạy cho người ta có lòng tin đó, kết quả, về mặt hình thức, đã tăng
thêm thế lực của Phật rất nhiều, điều này tưởng không cần nói, ai cũng biết.
Song, cùng với sự thịnh hành của phong tục lễ bái tháp Xá Lợi, phương diện khẩn
yếu của chủ nghĩa lấy Chính pháp làm trung tâm, dù chưa thay đổi hẳn nhưng trên
thực tế, cũng đã giảm sút rất nhiều, vì trong việc tuyên truyền Phật giáo, lấy
việc xây tháp Xá Lợi làm việc cấp thiết, còn việc dùng giáo pháp để bồi bổ pháp
thân thì lại bị sao lãng, đó là lẽ tất nhiên, khó tránh khỏi.
Sự tranh luận này tiếp tục đến Đại thừa, trên đại thể, Đại
thừa thuộc Bát Nhã hệ vẫn lấy chủ nghĩa Chính Pháp trung tâm làm chỗ lập cước.
Tiểu phẩm Bát Nhã nói: “Dù cúng dường Xá Lợi toàn thế giới cũng không bằng thụ
trì, đọc tụng một quyển kinh Bát Nhã”. Kinh Đại Bát nhã Ba-la-mật nêu rõ: “Phật
bảo với vị vua trên cõi trời rằng: Này Kiều-thi-ca! Nếu ngọc xá lợi Phật chứa đầy
cõi Diêm-phù-đề gom làm một phần, lại có người viết kinh Bát nhã Ba-la-mật để
riêng một phần, thì trong hai phần ấy, ông lấy phần nào? Vua Kiều-thi-ca trả lời:
Bạch đức Thế Tôn! Nếu xá lợi Phật đầy cõi Diêm-phù-đề làm một phần, kinh Bát
nhã Ba-la-mật làm một phần, trong hai phần ấy con thà lấy phần kinh Bát nhã
Ba-la-mật, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Con đối với ngọc xá lợi Phật chẳng phải
không cung kính, chẳng phải không tôn trọng, song vì tất cả xá lợi của chư Phật
xét đến tận cùng đều từ trong Bát nhã Ba-la-mật sinh ra, đều nhờ huân tu Bát
nhã Ba-la-mật mà có sau lễ trà tỳ, vì thế xá lợi ấy mới được cúng dường, cung
kính, tôn trọng và tán thán như vậy”. Rồi như kinh Duy Ma thì chủ trương lấy sự
cúng dường Pháp thay cho việc cúng dường Xá Lợi (kinh Bát Nhã Tiểu phẩm, Bảo
pháp Công đức phẩm thứ ba, Thưởng thán Công đức phẩm thứ 4, kinh Duy Ma: Pháp
Cúng dường phẩm). Kinh Diệu pháp Liên hoa ghi: "Sau Phật diệt độ, nếu ai
thọ trì thì được chư Phật hộ niệm, có đức tin lớn, chí niệm bền vững và được gần
Phật, được Phật thọ ký. Nếu ở chỗ nào có kinh Pháp Hoa nên dựng tháp báu để mà
cúng dường không cần xá lợi, vì trong tháp ấy có kinh Pháp Hoa là toàn thân Phật.
Nếu Bồ tát mà chưa thọ trì được Diệu Pháp Liên Hoa phải biết họ còn cách xa Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ví như đào giếng ở trên cao nguyên mà thấy đất
khô thì biết cách nước còn xa. Nếu tiếp tục đào cho đến đất ướt, đất bùn thì biết
sắp được đến nước".
Nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay thì: vì muốn cho tinh thần Phật
giáo phổ cập đến mọi tầng lớp dân chúng, nên lấy việc xây cất chùa cảnh, tháp
miếu hoặc tổ chức giáo hội làm đầu, hay nên lấy sự thực hành tinh thần tự thể của
Phật giáo làm đầu? Trên lý luận thì nên lấy việc thực hành tinh thần để làm chủ,
nhưng trên vấn đề thực tế, nhất là phương diện dân chúng hóa, thì việc kiến tạo
chùa cảnh, tháp miếu, sùng bái Thánh địa, thì ít ra cũng trên bề mặt, lại thích
hợp với công việc khoáng trương Phật giáo. Chính vì vậy mà dần dà, xu hướng điều
hòa 2 khuynh hướng trên để duy trì sự ổn định và phát triển của Phật giáo và Phật
giáo đồ ắt phải xuất hiện. Đọc kinh điển ta dễ dàng tìm thấy được sự dung hòa
giữa 2 luồng quan điểm này, đặc biệt là qua hình ảnh tháp Đa bảo trong kinh
Pháp hoa. Lúc Phật đang nói kinh Pháp Hoa thì đột nhiên từ dưới đất mọc lên một
ngôi đại bảo tháp và cứ lơ lửng giữa không trung. Trong tháp có toàn bộ xá lợi
(di cốt) của Phật Đa Bảo, và từ trong xá lợi phát ra âm thanh lớn vui mừng khen
ngợi và chứng minh kinh Pháp Hoa của Thích Ca. Xét về vấn đề văn hóa sử sự hiện
diện của tháp Đa Bảo bao hàm một ý nghĩa giải hòa cho hai chủ trương: đó là chủ
nghĩa tôn sùng Xá Lợi và chủ nghĩa lấy Chính Pháp làm trung tâm. Đặc sắc của
kinh Pháp Hoa là ở chỗ muốn điều hòa Đại thừa, Tiểu thừa, thống nhất chuyên môn
và thông tục, cho nên đối với vấn đề này, muốn đưa ra con đường thống hợp cả
hai chủ trương. Ngôi tháp từ dưới đất nhô lên rồi lơ lửng giữa không trung, tuy
nói là tháp Xá Lợi, nhưng đó hoàn toàn không phải chỉ là vật kỷ niệm cái chết,
mà trong đó ngụ ý nghĩa sinh động cực kỳ linh hoạt. Xá Lợi của Phật Đa Bảo được
đặt trong tháp tán thán kinh Pháp Hoa không phải chỉ lấy di cốt làm đối tượng
sùng bái, mà trái lại ngụ ý một ý nghĩa tượng trưng cái chân lý vĩnh viễn. Như
việc vị chủ Pháp Hoa trong tháp Đa Bảo (Đức Phật Đa Bảo) cuối cùng đã thỉnh Phật
Thích Ca vào tháp để tỏ hình thái: “Nhị Phật tịnh tồn - hai Đức Phật đều còn”,
như vậy là Đức Phật Thích Ca đã thành Xá Lợi, mà đã là đệ tử của Phật thì một mặt
phải bảo tồn Xá Lợi, mặt khác phải cổ xúy Pháp thân (giáo pháp lý pháp) của Phật,
vì chân lý mà di cốt phát đại thanh, kết quả do đó mà được tương thọ mệnh vô lượng
như Phật. Đó chính là điểm cốt yếu mà kinh Pháp Hoa dựa vào Xá Lợi của Phật Đa
Bảo để biểu thị: vì Pháp thân mà thừa nhận ý nghĩa Xá Lợi, lại do Xá Lợi mà có
thể phát kiến được ý nghĩa Pháp. Dĩ nhiên, Pháp thân thường trụ quan của kinh Pháp
Hoa không phải chỉ là thí dụ, mà thật ra đã được thực thể hóa. Cho nên căn cứ
vào ý nghĩa trên đây mà giải thích cái ý nghĩa đích thực của tháp Đa Bảo Phật
tuy không phải đã thỏa đáng, nhưng dù sao ở đây đưa ra trường hợp tháp Đa Bảo
Phật, ngoài cái ý nghĩa tượng trưng cho giáo lý thâm diệu ra, đối với các vấn đề
thực tế trong nội bộ giáo hội, muốn tìm một phương án giải quyết, thật ra đã trở
thành một tâm lý chủ yếu, và cũng là cái kết quả khổ tâm của hoàn cảnh: đó là
điều chúng ta nên thừa nhận.
5. Về một số câu nói của các cao tăng về xá lợi
Một số người có lẽ không mấy thoải mái khi Nhà nước và
GHPGVN thỉnh được Quốc bảo của Ấn độ - Xá lợi chân thân Đức Phật về để nhân dân
chiêm bái nên đã có tình dùng một vài câu nói của các vị cao tăng nổi tiếng để "cà khịa".
Một số câu hay được sử dụng nhất là: “xá lợi cũng chỉ là nắm
xương người, cũng chỉ để làm kỉ niệm thôi, chứ không thể tiêu biểu được” (lời Đệ
tam Pháp chủ lúc sinh thời); “xá lợi Phật đâu có quý gì, xá lợi của Phật 1000
viên cũng không quý bằng xá lợi của tôi có 1 viên” (HT. Thích Giác Khang)
Phân tích:
1. Câu nói của HT đệ tam Pháp chủ: trong đoạn hội thoại, Phật
tử thỉnh ngài sau khi viên tịch nên trà tì để có xá lợi đem thờ. Ngài trả lời là
thiêu hay chôn là quyền của Giáo hội, rồi đến nội dung trên. Tức là ở đây, ngài
nói về xá lợi của mình, chứ không nói về xá lợi Phật. Và ngài cũng không nói gì
sai. Có cao tăng có xá lợi, nhưng cũng có cao tăng không có xá lợi. Vì vậy, vị
nào có xá lợi thì là kỉ niệm công đức tu hành của vị ấy, chứ nó không thể tiêu
biểu cho công đức, công phu tu hành nói chung của mọi người được. Vì không lẽ
tu hành nghiêm chỉnh, nhưng không có xá lợi là không “đắc” gì cả? Bản thân HT
lúc sinh thời cũng giữ đúng bổn phẩn Thích tử với Phật, cũng từng qua Ấn độ lễ
bái cúng dàng xá lợi, không nên được lời quên ý, dùng câu nói của ngài mà xúc
phạm ngài!
2. HT Giác Khang đang so sánh về vai trò của xá lợi Phật và
“xá lợi” tự thân, tức là ngài vô cùng quan trọng xá lợi, lấy đó làm minh chứng
cho công phu tu hành của hành giả tịnh độ. Tuy nhiên ai tu nấy đắc, nên xá lợi
của mình quan trọng hơn với tự thân. Còn xá lợi Phật có vai trò quan trọng đối
với trụ trì Phật bảo, xét trên khía cạnh này, không có xá lợi của bất cứ ai có
thể so sánh được!




0 Nhận xét