Một số cách đề bài vị thờ cúng
1. Chỉ ghi tên, chức vụ (Thiên tôn, Đại vương, tôn thần, ...) của người được thờ cúng
Trên Bài vị ghi trực tiếp tên, danh hiệu, tôn hiệu, (có thể cả chức vụ của người được thờ cúng, ...) mà không có bổ ngữ gì thêm
Ý nghĩa: Thấy bài vị này như thấy đối tượng được thờ cúng. Bài vị đã thay cho tượng thờ, mang tính cách "chân thân"




2. Tên của người được thờ cúng + từ chỉ đây là vị trí được thờ phụng ("chi vị", "thánh vị", "thần vị", "bảo vị", "Liên vị", "vãng sinh Liên vị", "Phật/ pháp vị", "liên tòa", "thần chủ", ...)Bài vị viết theo motype: Tên + chi vị (hoặc các từ tương đương)Ý nghĩa: Thể hiện nơi bài trí bài vị là nơi "tọa vị", bảo tòa của đối tượng được thờ cúng.




3. Tên của người được thờ cúng + danh từ tôn xưng trong khoa cúng ("Ngọc bệ hạ", "Thánh tiền", "vị tiền", ...)
Ý nghĩa tương tự như cách ghi danh xưng, tuy nhiên có kèm theo các mỹ từ để phân biệt "thứ bậc" của thần. Nếu "cao" thì có các từ như "Ngọc bệ hạ", "cũng khuyết hạ", ... "thấp" hơn thì có "thánh tiền", "vị tiền", ... Cách ghi này thường xuất hiện với việc thờ phụng thần thánh, có tính chất thiên về Phật - Đạo giáo, Tứ phủ, ... hơn là Nho giáo
4. "Phụng vi"/ "phục vì" + tên của người được thờ cúng + "Chi vị", "vị tiền", ...
Thường dùng để thờ nhân thần hay gia tiên, vong linh, ...
Ý nghĩa: Phụng/ Phục vi ... chi vị, vị tiền, thể hiện hành động cung kính thiết lập bảo tọa, bài vị để thờ cúng. Nếu các cách đề trên mang tính cách cụm danh từ thì cách đề này mang tính chất cụm động từ, hay danh từ có bổ ngữ là động từ. Cách ghi này gần với cách viết "cung thỉnh" dưới đây
5. "Cung thỉnh/ duy" + tên của người được thờ cúng + "ngự tiền", "an tọa", "bảo tọa", ...
Ý nghĩa: Xin mời đối tượng thờ cúng giáng ứng vào bảo tòa, linh vị đã được thiết lập
6. Bài vị Phật giáo: "Nam mô" + tên Phật hoặc Bồ tát, thánh tăng, tổ sư, ... + "Liên tòa hạ", "thiền tọa hạ" ...
Đây là lối thể hiện sự tiếp biến văn hóa độc đáo giữa 2 nền văn hóa Ấn độ - Hoa hạ
Nếu bài vị viết theo cung cách: Tên Phật + liên tòa hạ như trên thì xem ra còn thiếu "bản sắc" Phật giáo. Vậy nên chư tổ thêm chữ "Nam mô" vào, vừa cung kính, vừa có bản sắc, lại vừa cộng thông với pháp môn trì danh niệm Phật
7. Bài vị kết hợp
Có nhiều cách kết hợp khác nhau như:
Cung thỉnh + Nam mô: Thêm phần đầy đủ, vừa thỉnh, vừa quy mệnh lễ
Tây phương/ Huyền môn tiếp triệu + phục vì, Nam mô A di đà Phật + phục vì: Thể hiện Tôn giáo của người được thờ cúng, nương nhờ pháp lực để việc thờ cúng được viên mãn. (nhất là đối với trường hợp người mới mất, gia chủ tin rằng có nhiều ma quái, nghiệp chướng gây chướng ngại khiến vong linh không "về" được)
8. Bài vị đề trống
Một số bài vị được để trống.
Có một số bài vị đã bị mờ mất thánh hiệu, nhưng có một số chỗ cố tình để trống để thờ phụng mang ý nghĩa phi cá nhân. Một số bài vị nữa được thư bằng hương hoặc bằng nước, nên thực chất là bài vị có chữ, nhưng mang hình dạng bài vị không có chữ (!). Khi điền dã nên cẩn thận, tránh nhầm bài vị để trống với bài vị có tấm che hộ tâm và bài vị bị mờ mất chữ.
9. Tóm lại
Có rất nhiều kiểu ghi bài vị, mỗi cách ghi có ý nghĩa khác nhau, do những đối tượng khác nhau nghĩ ra và thực hành tại những không gian, cộng đồng khác nhau, ... Trong quá trình vận động phức tạp chúng lại sản sinh ra nhiều hình thức mới. Đây là điểm cần chú ý nghiên cứu kỹ hơn để nắm bắt được các tầng ý nghĩa, văn hóa, tích tụ trong mỗi cách hành trì!

0 Nhận xét