p. 1
1.1. Sơ lược về 3 nền tảng văn
hóa Việt Nam
Kính Bạch Chư Tôn Đức Tăng - Ni, cùng các quý vị Phật tử Thiện
nam, Tín nữ. Hôm nay chúng tôi muốn trao đổi với các quý vị về một vài chủ đề liên
quan đến văn hóa Phật giáo.
Khi Phật giáo truyền đến mỗi một quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi
vùng miền, … thì nó luôn luôn kết hợp với văn hóa bản địa để tạo nên một sắc
thái riêng. Do đó, Phật giáo Việt Nam có bản sắc riêng, không giống như Phật
giáo Ấn Độ, cũng không giống Phật giáo Trung Quốc. Ngay trong đất nước Việt Nam
chúng ta thì từ Bắc chí Nam, mỗi vùng miền đều có bản sắc riêng. Phật giáo miền
Bắc, khác với Phật giáo miền Trung, và cũng khác với Phật giáo Miền Nam. Phật
giáo mỗi miền khác nhau từ lĩnh vực. kiến trúc, nghệ thuật, tư tưởng và cả
phương pháp tu hành. Chính vì sự kết hợp với văn hóa bản địa một các nhuần nhuyễn
ấy mà có thể nói Nói đến Phật giáo là nói đến một tôn giáo nằm trong cái dòng
chảy của văn hóa dân tộc Việt Nam, hay Văn hóa dân tộc Việt Nam có mối quan hệ
gắn liền không thể tách rời với văn hóa Phật giáo. Trong buổi bình minh dân tộc,
Phật giáo, mà trước hết là Phật giáo miền Bắc, là cái nôi nuôi dưỡng của nền
văn hóa dân tộc Việt Nam.
Chúng ta thường nói “xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản
sắc dân tộc”, hay trong Thiền môn thì mọi người hay thường nói: “mái chùa che
chở hồn dân tộc”. Vậy “văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc”, nó được biểu
hiện ở đâu? và “hồn dân tộc” ở trong “mái chùa” là cái gì?
Theo thiển nghĩ của tôi thì văn hóa Việt Nam được đặt trên
ba cái nền tảng, ba trụ cột chính. Đó là Hiếu đạo, Sư đạo, Vương đạo (diễn đạt
theo Nho giáo là Quân – Thân - Sư). Theo ngôn ngữ hiện đại, đó chính là 3 dạng
giáo dục: giáo dục gia đình. giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội.Trong bất kể
một làng quê cổ của người Việt, nhất là ở Bắc bộ, thì trong mỗi một ngôi làng
nó đều có ba trung tâm văn hóa đặc trưng bởi ba kiến trúc căn bản. Đó là Từ đường
của các dòng họ, ngôi chùa và đình làng.
1.2. Từ đường và văn hóa Hiếu/
Gia đạo cho đến văn hóa Cộng đồng, Dân tộc
Việt Nam cũng như các nước văn hóa Đồng Văn khác như Trung
Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, bất kể một dòng họ nào cũng có từ đường để thờ phụng
tổ tiên, trong mỗi một gia đình, không thiếu được một nơi trang trọng nhất để thờ
tổ tiên, thờ ông bà. Nhiều người cho rằng thờ cúng tổ tiên của người Việt, là ảnh
hưởng của văn hóa Nho giáo. Theo tôi thì ý kiến đó không đúng. Văn hóa thờ cúng
tổ tiên rất phổ biến trong nền Văn minh nhân loại. Người Việt Nam chúng ta có
văn hóa riêng, trước khi Nho giáo truyền sang Việt Nam, chúng ta đã có tín ngưỡng
về một ông tổ chung. Đó là Quốc tổ Lạc Long Quân. Người Việt có một từ mà chúng
ta thường dùng để gọi nhau, đó là: “đồng bào”, tức là sinh cùng một bọc. Hai tiếng
“đồng bào” của chúng ta rất văn hóa, rất quý trọng và rất đẹp. Năm 2012, UNESCO
đã công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại. Đây là một trong số ít di sản liên quan đến tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên trên thế giới được UNESCO công nhận. Ngoài Quốc tổ, các gia
đình đều có ông tổ của dòng họ mình, nhà nào cũng thờ cúng tổ tiên của mình. Có
thể nỏi thờ cúng tổ tiên là một trong các nền tảng văn hóa của Việt Nam. Trước
khi Phật giáo mà truyền đến Việt Nam chúng ta đã có văn hóa Hùng Vương, văn hóa
thờ cúng tổ tiên rồi. Nền tảng văn hóa ấy giáo dục truyền thống, cội nguồn.
Trong phạm vi gia đình, dòng họ thì thờ cúng tổ tiên, giáo dục Hiếu đạo, đạo lý
uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây. Trên mình thì có cha mẹ, có
ông bà tổ tiên, có cả cội nguồn của bản thân và dân tộc. Trong phạm vi cộng đồng,
chính nó tạo ra sức mạnh đoàn kết dân tộc. Gia đình là tế bào của xã hội, dân tộc
là suy rộng từ gia đình, nên không bất ngờ khi cội nguồn văn hóa dân tộc đầu
tiên đó là Hiếu đạo. Chính trong ý niệm về nhà – nước như vậy, cho nên chúng ta
mới có câu “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn”, hoặc là “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương
nhau cùng”. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử cũng thống nhất quan điểm rằng,
sở dĩ Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ cả ngàn năm, nhưng chưa bao giờ Trung Quốc đồng
hóa thành công toàn bộ người Việt, chưa bao giờ người Việt Nam bị đồng hóa trở
thành người Trung Quốc. Trung Quốc đã đồng hóa rất nhiều quốc gia và xác nhập
nó thành đất của Trung Quốc, biến các dân tộc khác thành người Trung Quốc. Một
trong những lý do học bị đồng hóa là bởi vì những các cái dân tộc bị Trung Quốc
đô hộ, bị Trung Quốc xâm chiếm không giữ được sức đề kháng văn hóa. Họ mất đi bản
sắc văn hóa dân tộc, và lập tức bị đồng hóa. Việt Nam chưa bao giờ bị đồng hóa
là vì chúng ta có văn hoá riêng, và thành công giữ gìn nền văn hóa ấy. Mặc dù
chúng ta dùng chữ viết của Trung Quốc, nhưng chúng ta không bao giờ nói bằng
ngôn ngữ của Trung Quốc. Chúng ta dùng chữ Hán nhưng mà là “Hán Việt”, nhưng âm
đọc bằng tiếng Việt, Chúng ta sử dụng chữ Hán của người Hán nhưng sử dụng theo
cách của người Việt, và chúng ta lại sáng tạo ra chữ Nôm - “Hán Nôm” để phục vụ
kí âm tiếng Việt. Nếu chúng ta dùng chữ Hán và nói bằng bằng tiếng Hán thì
chúng ta mất nước từ lâu rồi. Một số người không hiểu biết, ấu trĩ, cho không
nên dùng chữ Hán ở trong các chùa nữa, vì đó không phải là “chữ của người Việt”.
Nếu mà chúng ta bỏ các văn bản chữ Hán tức là chúng ta đã vô hình trung phế bỏ
mất hai nghìn năm lịch sử, hai ngàn năm văn hóa Việt, vì trên khía canh nào đó,
thứ “chữ Hán” ta đã sử dụng ấy chính cũng đã là tài sản trí tuệ của người Việt.
Trong nhà từ đường thường có bức hoành “Tiên tổ thị hoàng”,
tức là tổ tiên là bậc đã quá vãng, là bậc có công ơn to lớn, rạng rỡ, có thể ví
như “ông vua” ở trong nhà. Thần linh bản gia không lớn hơn tổ tiên. Ngày nay,
có một số người hiểu lầm cho rằng là thần linh thì lớn hơn tiên tổ - trong trường
hợp này không đúng. Trước kia, trong các gia đình truyền thống, bàn thờ tổ tiên
được đặt trang trọng ở gian giữa, người ta chỉ dùng duy nhất một bát hương,
theo quan niệm “Nhất đường hợp kính”. Lối thờ ở giữa là thần linh, một bên là tổ
tiên, rồi bên nữa là bà cô, … là không theo đúng với truyền thống thờ cúng Nho
giáo. Trong văn khấn Nho giáo truyền thống, bao giờ cũng khấn tổ tiên trước rồi
cuối cùng mới khấn đến đến Thần linh, Đông trù tư mệnh.
Thời xưa mà con cháu mà bất hiếu với cha mẹ thì không bao giờ
được bước chân vào nhà thờ của dòng họ. Một người con mà ngỗ nghịch với ông bà
tổ tiên thì người ta gọi là hạng “sổ ngôi”, tức là gì bị xóa tên khỏi sổ danh
sách của dòng họ. Đây là hình phạt cao nhất của nền giáo dục Hiếu đạo gia tộc. Hiếu
đạo là gốc làm người, là gốc văn hóa dân tộc Việt. Văn hóa Hiếu đạo dân tộc ấy
lại gặp văn hóa Hiếu đạo tôn giáo trong văn hóa Phật giáo tạo thành một nền Phật
giáo lấy Hiếu đạo làm gốc: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”
1.3. Ngôi chùa và văn hóa Sư đạo
– biểu tượng giáo dục toàn diện trong xã hội
Kế đến là ngôi chùa làng. Chúng ta thấy rằng, trong bất kể ngôi
làng cổ nào cũng có một ngôi chùa, chùa đó là biểu tượng của văn hóa “Sư đạo” –
văn hóa gắn liền với người thầy. Trong xã hội, luôn luôn người ta có ba hạng
người được tôn xưng làm Thầy, đó là thầy thuốc, thầy giáo và thầy chùa. Tâm lý
tôn sùng ấy cũng liên quan đến văn hóa Phật giáo. Trong chùa thờ rất nhiều tượng
Phật, nhưng có ba vị Phật mà ai cũng biết. Đó là Phật Dược Sư, Phật Thích Ca
Mâu Ni và Phật A Di Đà. Phật Dược sư là Phật thầy thuốc. Phật Thích Ca là Bản
sư – “thầy giáo của tôi”. Đức Phật Di Đà “tiếp dẫn đạo sư”, là bậc thầy tâm
linh. Những người làm nghề thuốc thực hiện
phương châm là cứu bệnh, cứu người cũng chính là những hóa thân của đức
Phật Dược Sư. Những người truyền dạy đạo lý, truyền bá tri thức, khai mở trí tuệ,
giúp cho con người phá mê khai ngộ, chính là hiện thân của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni. Những người hướng đạo, dẫn dắt còn người thăng hoa về mặt tinh thần, giải
thoát về mặt tâm linh, chính là hình ảnh của đức Phật Di đà
Không chỉ dừng lại ở mức độ biểu tượng, với tinh thần Bồ tát
đạo, Ngôi chùa Việt từ xưa đến nay luôn mang ba chức năng: y tế, giáo dục và
tâm linh tín ngưỡng.
Thứ nhất là chức năng y tế: Thời cổ các thiền sư kiêm luôn cả
thầy thuốc. Nước Việt chúng ta có một nhà văn hóa lớn, một vị đại danh y đó là
Tuệ Tĩnh. Các thiền sư đều có biết ít nhiều về thuốc, vườn chùa lại rộng, có thể
trồng thuốc, tự chế biến và khám bệnh cứu người nên với tinh thần từ bi cứu khổ,
muốn dùng thuốc Nam để chữa bệnh cho người Nam, nên trong chùa thường làm y –
dược.
Thứ hai là chức năng giáo dục, văn hóa: Trước thời Lý, Việt
Nam chưa có trường học, chưa có hệ thống giáo dục, không có những người chuyên
làm làm công tác giáo dục. Tầng lớp nho sĩ chưa ra đời hoặc chưa phát triển mạnh
mẽ. Đối với dân chúng ngày xưa, để học được, viết được chữ Hán là một chuyện xa
xỉ. Lúc bấy giờ, tầng lớp Tăng Sĩ vì nhu cầu học chữ nghĩa để đọc Kinh, nên có
khả năng đọc viết, được biết chữ nghĩa, biết nhiều sách vở, nắm nhiều tri thức,
vì thế nên nhà chùa trở thành một trung tâm giáo dục. Trong ngôi chùa có trường
học. Vì thế chúng ta xưa nay gọi chùa là “đạo trường”, “đạo tràng”, là trường
trường dạy đạo, trường của đạo, trường không chỉ dạy chữ, mà còn dạy đạo - giáo
dục đạo đức, giáo dục tâm linh. Bản thân Lý Công Uẩn cũng được nuôi dưỡng, giáo
dục, trưởng thành từ trong ngôi trường - chùa ấy. Một số các nước Phật giáo Nam
truyền hiện nay vẫn duy trì trường học ở ngay trong chùa, dạy chương trình giáo
dục phổ thông.
Thứ ba là chức năng tâm linh: đây là chức năng tất yếu và
quan trọng nhất.
Con người chúng ta có nhiều vốn quý, mà cái quý thứ nhất chính
là sức khỏe, là sự sống. Vì vậy, từ lúc ta chào đời cho đến khi kết thúc cuộc đời,
chúng ta đều gắn liền với người thầy thuốc. Sinh ra cần có thầy thuốc, có bà đỡ;
lúc bệnh tật, ốm đau cho đến khi tạ thế, cả cuộc đời này đều cần đến người thầy
thuốc. Sức khỏe chính là vốn quý hàng đầu. Dân gian có câu: "Ngũ phúc thọ
vi tiên", chính là muốn nói trong năm thứ phúc, sức khỏe là điều tiên quyết.
“Thọ” chính là biểu hiện của sức khỏe; không có sức khỏe, chẳng thể sống trường
thọ. Nếu anh có mọi thứ: sức khỏe, tiền tài, trí tuệ mà thiếu đi sức khỏe, thì anh
chẳng thể làm gì. Anh giàu sang phú quý mà không có sức khỏe, anh cũng chẳng thể
hưởng thụ. Đột ngột một phút buông tay vô thường, thì mọi vinh hoa phú quý ở đời
đều không thể thụ dụng được. Cho nên, điều đầu tiên người ta coi trọng chính là
sức khỏe. Thế nhưng, nếu chỉ có sức khỏe mà thiếu đi trí tuệ, thì đó chỉ là cái
khỏe của hạng trâu bò.
Do đó, con người lớn lên cần phải học hành, cần phải có tri
thức. Vì thế, Đạo Phật không đơn thuần là một tôn giáo, mà là một sự nghiệp
giáo dục. Đức Phật Thích Ca chính là bậc thầy giáo dục vĩ đại nhất của nhân loại
từ xưa đến nay, và đó là biểu tượng của người người thầy, nhân thiên chi sư, thầy
của trời người.
Khi người ta đã có sức khỏe, có trí tuệ, thì tất nhiên người
ta sẽ có khả năng lao động, phát triển, có thể đem lại kết quả cuộc sống vật chất,
ấm no hạnh phúc. Nhưng thiếu đi đời sống tinh thần, đặc biệt là đời sống tâm
linh thì cuộc sống ấy vẫn khủng hoảng. Trên trên thế giới hiện nay có những người,
những cộng đồng, những dân tộc khủng hoảng về mặt tinh thần rất trầm trọng. Vì
vậy cần phải có một nền tảng thứ ba, đó là nền tảng tâm linh, với một người thầy
tâm linh dẫn đường.
Giáo dục Phật giáo có năm cấp độ giáo dục. Năm cấp độ giáo dục,
này có thể so sánh với năm cấp độ giáo dục của thế gian: giáo dục cấp một, cấp
hai, cấp ba, đại học và sau đại học. Thứ nhất là giáo dục Nhân thừa để làm người,
phải sống xứng đáng là con người trong loài người; để giác ngộ, giải thoát được
thì người ta phải phải có tư cách làm người thì mới có tư cách làm đệ tử của Phật.
Thứ hai là giáo dục Thiên thừa, là giáo dục cao hơn để làm làm trời. Thứ ba là
Thanh Văn thừa, để để trở thành một vị La Hán, bất sinh bất diệt. Thứ tư là Bồ
Tát Thừa, để làm một vị Bồ Tát phục vụ chúng sinh. Và Đích cuối cùng là giác ngộ
thành Phật. Cho nên có thể hiểu chữ “đạo” trong Phật đạo là con đường thành Phật
– “thành Phật chi đạo”. Như vậy, ta thấy, Giáo dục Phật giáo hướng đến ba mục
tiêu: Mục tiêu thứ nhất chính là phá mê khai ngộ; tức là chuyển hóa sự mê mờ của
chúng sinh, xóa tan những nhầm lẫn về nhận thức đối với con người và thế giới để
chỉ rõ bản chất thực sự – điều mà trong kinh Phật gọi là "thật tướng".
Thứ hai, sau khi đã phá mê khai ngộ, con người thấu hiểu được nhân quả, từ đó
tác động của giáo dục sẽ giúp chuyển ác thành thiện. Đức Phật giáo dục, nhưng cốt
để giúp chúng ta chuyển hóa, nên gọi là “giáo hóa”. Chuyển hóa từ một con người
xấu ác, bất thiện trở thành một con người thiện lương, nhằm hoàn thiện nhân
cách con người. Thứ ba, mục tiêu giáo dục rốt ráo cuối cùng mà Đức Phật đề cập
tới là chuyển phàm thành thánh, tức là mục tiêu là giải thoát giác ngộ.
Cho nên có thể nói bản thân ngôi chùa nó mang nhiệm vụ giáo
dục tổng hợp, và là biểu tượng của Sư đạo với hình ảnh của 3 vị thầy gắn với đời
sống sức khỏe, tinh thần và tâm linh của con người. Cho người xưa nói là sư
nghiêm tử kính. Thầy có nghiêm, có giỏi thì mới có học trò hay được. Thầy mà
không nghiêm, thầy mà không giỏi thì không bao giờ có trò giỏi. Cho nên nền tảng
thứ hai mà chúng ta nói đến của văn hóa dân tộc Việt Nam nó nằm trong ngôi
chùa, đó chúng ta mới nói là mái chùa che chở hồn dân tộc. Toàn bộ hệ thống nền
tảng giáo dục sức khỏe, trí tuệ, đạo đức này, mà ngày nay chúng ta gọi là đức dục,
đức dục là giáo dục đạo đức chúng ta gọi là tâm linh đấy phải không? Thể dục, tức
là giáo dục về thể gì? Thể chất và trí dục tức là giáo dục về trí tuệ, nó là
giáo dục như vậy. Đấy mới là gốc của văn hóa Việt Nam.
1.4. Ngôi đình làng – không
gian tâm linh mang tính trung tâm kinh tế, hành chính gắn với văn hóa Vương đạo
Đình làng là một không gian tâm linh thường thấy trong các
ngôi làng gắn với nền tảng thứ ba của văn hóa Việt Nam - văn hóa Vương đạo. Các
thôn quê ở phía Bắc làng nào cũng có ngôi đình, có những làng quy mô đình rất lớn.
Các làng Miền Trung cũng có Đình, nhưng mà không phải làng nào cũng có, các
làng miền Nam thì lại càng hiếm nữa.
Theo các nhà nghiên cứu ngôi đình của người Việt xuất hiện
tương đối muộn, sớm nhất có lẽ là phải bắt đầu từ thời Lý. Đình thờ thành hoàng
của địa phương. Phạm vi quản hạt của các vị Thành hoàng có nhiều cấp độ khác
nhau như: Thiên hạ đô đại thành hoàng, châu phủ thành hoàng thủ thổ chi thần, bản
xứ, bản cảnh thành hoàng, … Vị đầu tiên được tôn làm Thành hoàng, tức là thần bảo
vệ của thành Thăng Long, chính là thần Bạch Mã. Truyền thuyết kể rằng, khi vua
Lý xây dựng thành Thăng Long, thành cứ đắp lên lại đổ. Nhà vua bèn lập đàn cầu
đảo thì thấy một con ngựa trắng xuất hiện, chạy một vòng quanh khu vực đó. Nhà
vua cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành thì thành không đổ nữa, nhờ vậy mà
xây dựng được thành Thăng Long. Cũng từ đó, nhà vua thờ phụng vị ấy làm thần bảo
vệ kinh thành, gọi là Thành hoàng. Sau đó, trải qua các thời kỳ Lý, Trần và đặc
biệt đến thời Lê, văn hóa Đình làng đã xuất hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn. Bất
cứ ngôi làng nào cũng hiện diện một ngôi Đình, và ngôi Đình ấy chính là biểu hiện
của văn hóa Vương đạo. Xét trên khía cạnh tâm linh, sở dĩ nói như vậy là bởi vị
Thành hoàng được thờ trong làng đều do triều đình ban sắc phong thần; trong phạm
vi làng xã, vị Thành hoàng ấy chính là ông “vua”. Ngoài ra, ngôi đình còn đóng
vai trò là trung tâm kinh tế, hành chính làng, là hình ảnh của triều đình thu
nhỏ, nên người xưa mới gọi là "hương ẩm tiểu triều đình". Văn hóa
Vương đạo tại đình làng được thể hiện qua việc tái hiện văn hóa cung đình ngay
trong không gian làng xã. Chính vì vậy, vị Thành hoàng được thờ phụng luôn ngự
trên ngai rồng, đầu đội mũ bình thiên, mình khoác áo triều phục. Trong những
ngày đại tế, người tham gia hành lễ được gọi là quan viên. Nghi lễ tế thần tại
đình thực chất là sự tái diễn nghi thức các quan vào chầu vua. Tương tự, nghi
thức rước thần cũng chính là sự tái hiện cảnh nhà vua đi du tuần; do đó luôn phải
có đầy đủ chiêng trống, tàn lọng, rước xách uy nghiêm. Đó chính là biểu hiện của
văn hóa Vương đạo. Điều đó càng có ý nghĩa khi xưa kia triều đình ở rất xa, dân
chúng vốn chẳng biết vua là thế nào.
Ngôi đình đảm nhận hai chức năng chính. Chức năng thứ nhất
là thờ phụng vị thần bảo vệ làng; gắn liền với việc phụng thờ ấy là các hoạt động
tế lễ và lễ hội, từ đó sản sinh ra văn hóa làng. Chức năng chính thứ hai là vai
trò của một cơ quan hành chính cấp thôn, làng, xã tại địa phương. Đình xưa là
nơi làm việc của quan chức sở tại, nơi giải quyết mọi vấn đề giống như Ủy ban
nhân dân ngày nay. Tại đây, các bậc hương hào, kỳ mục, lý trưởng, chánh tổng
cùng bàn bạc “việc dân việc nước”, từ chuyện thuế má, phu phen tạp dịch đến mọi
công việc chung; tất cả đều được định đoạt tại đình.
Giá trị văn hóa Vương đạo nằm ở nội dung giáo dục: “quân thần
trung”, “minh quân thần trung”, “minh quân lương tể” - vua phải sáng thì mới có
bề tôi hiền. Xưa nay các cụ vẫn nói: "Người trên ở chẳng chính ngôi, để
cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào". Vua mà chẳng ra vua thì dân sẽ loạn. Một đất
nước thịnh trị thì phải có ông vua sáng suốt, chính trị tốt đẹp thì dân chúng mới
hết lòng trung thành. Muốn bề tôi trung được với vua thì vua phải sáng; vua mà
bất minh thì làm sao đòi hỏi người ta trung được. Đây là giáo dục về mối quan hệ:
trong xã hội xưa đó là quan hệ giữa vua và bề tôi, ngày nay chúng ta gọi là
quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân.
Mọi hoạt động văn hóa của làng xã chính là hình ảnh thu nhỏ
của cả một đất nước, một dân tộc. Tại đây hội tụ đầy đủ ba mối quan hệ căn bản
mà người xưa đúc kết trong ba chữ: "Quân - Thân - Sư". Quân là vua,
Thân là cha mẹ, Sư là thầy. Thứ nhất là Hiếu đạo, tức quan hệ cha con: "phụ
từ tử hiếu". Thứ hai là Sư đạo, tức quan hệ thầy trò: "sư nghiêm tử
kính". Và thứ ba là Vương đạo: "quân minh thần trung". Nhìn từ
khía cạnh khác, ba trụ cột văn hóa chính trị Hiếu – Sư – Vương đạo cũng chính
là ba trụ cột của nền giáo dục: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo
dục cộng đồng. Do đó, có thể thấy mô hình xã hội thu nhỏ nằm trọn trong một
ngôi làng, gắn liền với hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình, mái
chùa". Đây chính là biểu tượng trường tồn của văn hóa Việt Nam. Người xưa
ví ba nền tảng văn hóa này tựa như chiếc "đỉnh ba chân": thiếu một
thì nghiêng, thiếu hai thì đổ, thiếu cả ba thì diệt vong. Đã có lúc người ta nhầm
lẫn, cho rằng việc thờ cúng gia miếu, Thành hoàng hay lễ chùa là mê tín, dẫn đến
những hành động ấu trĩ muốn phá bỏ. Nhưng phá bỏ nó là phá bỏ cả một nền tảng
văn hóa dân tộc. Họ chưa thấu hiểu rằng, thờ cúng chỉ là hình thức biểu hiện
bên ngoài, còn mục đích cốt lõi bên trong là giáo dục: giáo dục đạo làm con, đạo
làm thầy trò và đạo làm vua tôi. Vì vậy, cần nhận thức đúng vấn đề để đưa những
giá trị này trở lại đúng vị trí vốn có.
Ngôi chùa cũng nằm trong hệ thống các biểu tượng ấy, là một
không gian quan trọng của nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, đối với người xuất gia,
chúng ta cần phải hiểu rõ vị trí văn hóa của Phật giáo, hiểu rõ lý do tại sao tổ
tiên xưa kia đã chọn Phật giáo làm tôn giáo nền tảng, thậm chí có những giai đoạn
tôn sùng làm quốc giáo của Việt Nam.
1.5. Bài trí hệ thống tượng
pháp trong chùa Việt
Như trước cũng đã từng nói, hiện nay trong ngôi chùa miền Bắc
có thờ rất nhiều tượng Phật, và bên cạnh đó còn có cả những tôn tượng có nguồn
gốc từ tôn giáo khác cũng được phối thờ. Chùa miền Bắc có những điểm khác biệt
với miền Nam, miền Trung; khiến cho nhiều khi chư Tôn đức miền Nam, miền Trung
ra Bắc cũng rất thắc mắc, cảm thấy khó hiểu rằng tại sao trong chùa lại thờ nhiều
tượng đến thế. Ví dụ, ngoài thờ Phật thì còn có hệ thống tượng Ngọc Hoàng, Nam
Tào, Bắc Đẩu, rồi có cả điện Mẫu... Đó là sự kết hợp giữa văn hóa Phật giáo với
văn hóa bản địa để tạo nên một nền văn hóa chung. Chính điều đó đã tạo nên một
bản sắc riêng mà không nước nào, không địa phương nào có. Mặc dù Phật giáo Việt
Nam với Phật giáo Trung Quốc thoạt nhìn giống như anh em sinh đôi, nhưng nếu đi
sâu vào thì sẽ thấy khác hẳn: từ kiến trúc, cách thờ phụng và kể cả phương pháp
hành trì. Phật giáo Việt Nam có chỗ đứng riêng, có bản sắc riêng.
Tại các ngôi chùa Trung Quốc, điện thờ đầu tiên là điện Tứ
Thiên Vương. Ở phía ngoài, vị trí trung tâm điện thờ đức Di Lặc; phía sau cùng
một ban đó, ngoảnh mặt vào nội điện là tượng Hộ pháp Vi Đà, bốn góc thờ Tứ
Thiên Vương. Tiếp đến là Đại Hùng Bảo Điện, nơi chỉ thờ riêng đức Thích Ca và
hai vị đại đệ tử là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (hoặc ngài A Nan và Ca Diếp đối
với các chùa theo Thiền tông). Mỗi vị Phật, Bồ tát đều có điện thờ riêng biệt
như: Quan Âm các, Từ Hàng điện, Phổ Hiền điện.
Ngược lại, tại Việt Nam, tất cả các vị tôn tượng đều được tập
trung tại một ngôi chính điện. Đây là nơi hội tụ đầy đủ các vị Phật, Bồ tát, Hộ
pháp, chư Thiên và thiện thần. Điện thờ của Phật giáo Việt Nam được chư Tổ đúc
kết qua bốn chữ "Chư Phật hải hội" – nơi hội họp của chư Phật và Bồ
tát. Tuy mỗi thời kỳ và mỗi tông phái có cách bài trí khác nhau, nhưng nhìn
chung, cách thức bài trí tượng Phật tại các ngôi chùa miền Bắc hiện nay có những
điểm căn bản sau đây.
Lớp đầu tiên ở vị trí
cao nhất là bộ tượng Tam thế chư Phật hoặc Tam thân Phật. Nếu là tượng Tam thế
(tượng trưng cho quá khứ, hiện tại và vị lai), cả ba pho tượng này đều được tạc
giống nhau về cả hình thức lẫn nội dung: các Ngài đều bắt ấn Đại định, ngồi xếp
bằng trên tòa sen; bởi lẽ Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai đều đồng
nhất thể. Tuy nhiên, nếu là bộ tượng Tam thân Phật (bao gồm Pháp thân, Báo thân
và Hóa thân) thì thủ ấn sẽ có sự khác biệt. Pho tượng ở giữa là Phật Pháp thân,
tọa thiền trong tư thế bắt ấn Đại định. Phật Báo thân tọa bên tay phải của Pháp
thân, cánh tay phải đưa lên bắt ấn Cát tường. Phật Hóa thân tọa bên tay trái,
tay trái đưa lên bắt ấn Chuyển pháp luân. Trên thực tế, ngay cả các nhà nghiên
cứu văn hóa, Tăng Ni và các Phật tử chúng ta đôi khi vẫn nhầm lẫn giữa hai bộ
tượng này. Cần phân biệt rõ: "Tam thế" và "Tam thân". Tại một
số ngôi chùa cổ, người ta thờ cả hai bộ tượng: lớp trên thờ Tam thế Phật, lớp
dưới thờ Tam thân Phật; song thông thường hiện nay các chùa chỉ thờ một bộ.
Lớp tượng thứ hai là bộ tượng Phật Di Đà Tam Tôn (Tây Phương
Tam Thánh), tượng trưng cho phương Tây Cực Lạc. Từ thời Lý - Trần trở về sau,
pháp môn Tịnh Độ đã trở nên phổ biến; minh chứng là những di tích còn lại như
pho tượng Phật A Di Đà bằng đá tại chùa Phật Tích, hiện là Bảo vật Quốc gia.
Pháp môn Tịnh Độ truyền vào Việt Nam từ rất sớm, có lẽ đến thời Lý - Trần đã trở
thành một pháp môn tu chủ đạo. Do đó, lớp tượng thứ hai từ trên xuống, vị trí
trung tâm bao giờ cũng là đức Phật A Di Đà – bậc Đạo sư tiếp dẫn tâm linh. Từ
dưới nhìn lên, bên tay phải của chúng ta (tức bên tay trái của đức Phật A Di Đà
nhìn ra) là tượng đức Quán Thế Âm. Pho tượng này thường được tạc tay cầm tịnh
bình, trên mũ hoa quan có hình tượng Phật A Di Đà. Còn tượng đức Đại Thế Chí đứng
bên tay trái chúng ta nhìn vào (tức bên tay phải của đức Phật A Di Đà), tay
Ngài thường cầm hoa sen hoặc cuốn kinh, trên mũ có hình tịnh bình chứ không có
tượng Phật A Di Đà. Đây là đặc điểm căn bản để phân biệt giữa hai pho tượng
Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.
Lớp tượng thứ ba thông thường thờ đức Bản Sư Thích Ca Mâu
Ni. Tại đây thường có hai bộ tượng khác nhau. Thứ nhất là bộ tượng Hoa Nghiêm
Tam Thánh, thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa (cũng chính là đức Pháp thân Tỳ
Lô Giá Na). Pho tượng này là sự hợp nhất của Tam thân (Pháp, Báo, Hóa thân là một)
nên Ngài không cầm hoa sen mà kết ấn Chuyển pháp luân. Hai bên là hai vị Bồ
tát: bên tay phải chúng ta nhìn vào là đức Văn Thù Sư Lợi cưỡi sư tử xanh, bên tay
trái là đức Phổ Hiền cưỡi voi trắng. Hai vị Bồ tát biểu hiện cho Trí tuệ và Hạnh
nguyện. Thứ hai, đối với những chùa theo quan điểm Thiền tông, sẽ thờ bộ tượng
Linh Sơn Tam Thánh: vị trí trung tâm vẫn là đức Bản Sư nhưng tay phải Ngài cầm
nhành hoa sen giơ lên, hai bên có A Nan và Ca Diếp đứng thị giả. Đây là hình ảnh
tái hiện điển tích đức Thế Tôn tại Linh Sơn hội thượng giơ đóa hoa sen, tôn giả
Ca Diếp "phá nhan vi tiếu" và được đức Thế Tôn thụ ký, truyền trao
Chính pháp nhãn tạng. Do đó, bên tay phải chúng ta nhìn vào là tượng ngài Ca Diếp;
tiếp đó, ngài Ca Diếp truyền tâm ấn lại cho ngài A Nan – vị đứng bên tay trái
chúng ta nhìn vào. Đây chính là bộ tượng đức Thích Ca cùng hai tôn giả Ca Diếp
và A Nan theo quan điểm của Thiền tông.
Lớp tượng thứ tư thường thấy tại các chùa cổ từ thời Mạc trở
về sau là bộ tượng Quan Âm Chuẩn Đề hoặc Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn tọa giữa.
Bên tay phải chúng ta nhìn vào là Thiện Tài Đồng Tử, bên tay trái là Long Nữ Bồ
Tát. Tuy nhiên, tại các ngôi chùa có niên đại từ thời Mạc, thời Lê trở về trước,
hai pho tượng đứng hai bên có hình dạng mặc triều phục, mà không phải là hai vị
Kim Đồng - Ngọc Nữ hay hai vị Thiện Tài Đồng Tử (kinh Hoa Nghiêm) - Long Nữ Bồ
Tát (kinh Pháp Hoa). Ở những ngôi chùa cổ hơn, hai pho tượng này chính là Thánh
Phụ và Thánh Mẫu – thân phụ và thân mẫu của Bồ Tát Quan Thế Âm. Cụ thể, bên tay
phải nhìn vào là tượng Thánh Phụ (tức vua Diệu Trang Vương), bên tay trái nhìn
vào là tượng Thánh Mẫu (Bảo Đức Hoàng hậu). Bộ tượng này được tạc theo tích
Quan Âm Diệu Thiện. Do ít nơi còn thờ nên nhiều người không nhận diện được hai
tượng này là ai; thực chất, đó chính là song thân của Bồ Tát Quan Thế Âm.
Lớp tượng thứ năm, nằm dưới lớp tượng Quan Âm, từ thời Lê phần
lớn các chùa bổ sung thêm một bộ tượng: vị trí trung tâm là tượng Ngọc Hoàng,
bên tay phải nhìn vào là tượng Nam Tào, bên tay trái là tượng Bắc Đẩu. Một số
ngôi chùa chư Tổ không thờ tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu mà thờ tượng Nhị
chủ, tức là hai pho tượng Phạm Thiên và Đế Thích (Đại Phạm Thiên Vương và Đế
Thích Thiên) nhưng hình dáng bên ngoài vẫn mang cốt cách của Ngọc Hoàng Đại Đế.
Đây là những bộ tượng thể hiện sự kết hợp văn hóa Tam giáo đồng nguyên. Bởi đến
thời Lê, Phật giáo không còn là quốc giáo, vị thế này đã được chuyển sang Nho
giáo. Chính vì vậy, để duy trì Phật pháp, chư Tổ đã khéo léo đưa cả Nho giáo và
Lão giáo vào trong ngôi chùa. Đây chính là điểm tinh hoa trong tư duy của chư Tổ.
Khổng giáo chủ trương quan điểm "Thiên mệnh", Ngọc Hoàng lại là Thiên
chân của Đạo giáo; chỉ một bộ tượng nhưng đại diện cho cả hai tôn giáo bản địa.
Đối với Phật giáo, chư Tổ giải thích rằng: khi Đức Phật ra đời, tại Ấn Độ đã có
văn hóa thờ thiên chủ Phạm Thiên, Đế Thích (tức là thờ các vị Trời). Tuy nhiên,
Phạm Thiên có cao đến đâu đi chăng nữa thì Ngài cũng là đệ tử của Phật, vẫn quy
y Phật. Đại Phạm Thiên Vương và Đế Thích là những vị có công thỉnh Phật thuyết
pháp, thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân; đồng thời cũng là những người đầu
tiên hầu cận Đức Phật khi Ngài đản sinh, thành đạo và Niết bàn. Vì vậy, thờ Ngọc
Hoàng cũng chính là thờ Phạm Vương, Đế Thích, bát bộ Hộ pháp Long Thiên chúng,
hay thờ Phạm – Thích cũng chính là thờ Ngọc Hoàng của tôn giáo bản địa. Đây
chính là sự khéo léo của văn hóa và của chư Tổ Việt Nam nhằm duy trì Đạo Phật
trong thời điểm Phật giáo không còn vị trí độc tôn. Đây là điểm mà chúng ta cần
phải hiểu rõ.
Có người nói: “Nếu Tam giáo đồng nguyên, tại sao trong chùa
không thờ Khổng Tử, Lão Tử?”. Đó là lối thờ tự đã được chư Tổ suy tư chọn lọc.
Các Tổ vừa lựa chọn những vị có trong thần hệ Tam giáo, nhưng đồng thời vẫn có
thể lý giải được sự xuất hiện của họ theo kinh Phật như các vị Hộ pháp đã quy y
với Phật. Chúng ta thờ Tam phủ thánh đế, Thờ Tam phủ thánh mẫu của Lão giáo
nhưng không thờ Thái Thượng Lão Quân; thờ Khổng Tử nhưng không thờ Tứ phối, Thất
thập nhị hiền. Lối thờ ấy khiến cho người dân vừa có cảm giác quen thuộc, vừa
hướng họ đến Phật pháp (hướng hạ môn và hướng thượng môn). Một số ngôi chùa có
thờ tượng Khổng Tử nhưng đều có lý do riêng. Tại chùa Bổ Đà, Khổng Tử được thờ ở
tiền đường, thay cho gian thờ đức Thánh Hiền; tượng ngài A Nan được thờ chính
giữa Tam Bảo (thể hiện chùa thuộc Giáo tông, trọng in kinh, thuyết pháp, viết
sách); còn vị trí ban Đức Ông được thay bằng tượng Lão Tử. Sở dĩ chùa Bổ Đà có
lối thờ đặc biệt này là vì vị Tổ sư trụ trì tên là Phạm Kim Hưng vốn là quan giữ
sách nhà Lê trong triều. Thời bấy giờ, triều đình cho phép người dân theo tín
ngưỡng của ba đạo chính là Thích - Khổng - Lão. Trong cung đình nhà Lê, cứ một
tuần lại có một buổi giảng về các thuyết Tam giáo. Bên cạnh đó, có một số ngôi
chùa được cải chuyển từ Đạo quán (cơ sở của Lão giáo) sang thành chùa nên vẫn
thờ Tam Thanh, ví dụ như Linh Dương quán, Lâm Dương quán, Linh Tiên quán, Hội
Linh quán. Về sau, thời Nguyễn còn xuất hiện một số chùa Tam giáo, chùa Đại đạo...
thờ Tam giáo Thánh nhân. Như vậy, việc các ngôi chùa có thờ Khổng - Lão là do
những yếu tố lịch sử đặc thù và cụ thể.
p. 2
Dưới các lớp tượng đó, một số ngôi chùa có thể thờ thêm lớp
tượng đức Phật Dược Sư (như các chùa Hòe Nhai, Bà Đá, …), tuy nhiên trường hợp
này tương đối hiếm. Nếu bộ tượng này được tôn trí, đức Phật Dược Sư sẽ tọa ở vị
trí trung tâm; bên tay phải chúng ta nhìn vào là đức Nhật Quang Biến Chiếu Bồ
tát và bên tay trái là đức Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ tát.
Dưới các lớp tượng trên là một lớp tượng đặc biệt quan trọng:
tòa Cửu Long, tức hình tượng Đức Phật sơ sinh. Tại tòa Cửu Long này, hai bên tả
hữu thường có ba cách bài trí. Cách thứ nhất là đặt hai pho tượng Nhị chủ (Phạm
Thiên và Đế Thích) ngồi hai bên. Cách thứ hai là đặt hai pho tượng Thánh Tăng
và Thổ Địa. Cách thứ ba là đặt hai pho tượng Bồ tát Tuyết Sơn và Bồ tát Di Lặc.
Thông thường, các chùa đặt tượng Tuyết Sơn ở bên tay phải chúng ta nhìn vào và
tượng đức Di Lặc ở bên tay trái; 2 tượng ngồi ngang hàng bởi lẽ đây đều là các
vị Bồ tát đang tu hành ở ngôi Nhất sinh Bổ xứ. Hệ thống tượng này được chư Tổ
giải thích bao hàm ý nghĩa giáo lý sâu sắc. Tòa đầu tiên chúng ta chiêm bái khi
bước vào chùa là cảnh Đức Thế Tôn đản sinh với chín rồng phun nước. Đức Phật sơ
sinh đứng ở giữa tuy có kích thước nhỏ nhất nhưng lại là Phật tổ - có vị trí to
lớn nhất. Sự hiện diện của hai pho tượng Tuyết Sơn và Di Lặc biểu thị cho hai hạnh
nguyện mà người mới bước chân vào đạo, mới được sinh ra trong Phật pháp cần phải
tu tập, đó là: Khắc kỷ - Khoan nhân. Hình tượng Đức Thích Ca Mâu Ni tu khổ hạnh
sáu năm (tượng Tuyết Sơn) biểu thị cho ý nghĩa "Khắc kỷ": đối với bản
thân phải nghiêm túc, khắc khổ. Ngược lại, tượng đức Di Lặc với nụ cười hỷ xả
và bụng lớn biểu thị cho sự "Khoan nhân": đối với người phải khoan
dung, độ lượng. Tựu trung lại, đối với mình thì nghiêm túc tiết kiệm, đối với
người thì rộng rãi bao dung; đó mới chính là Phật pháp. Phương châm "Khắc
kỷ - Khoan nhân" từ xưa đến nay luôn là nền tảng căn bản cho các bậc tu
hành khi vào đạo.
Nhìn theo chiều dọc từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong,
sau tòa Cửu Long là lớp tượng Phật Dược Sư – biểu trưng cho việc con người sau
khi ra đời gắn liền với vị thầy thuốc, cần đến sự trị liệu và giữ gìn sức khỏe
- thọ mệnh. Tiếp đến là lớp tượng đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni – biểu trưng cho vị
Thầy giáo truyền trao tri thức và đạo đức trên bước đường trưởng thành. Sau đó
là lớp tượng đức Phật A Di Đà – vị Thầy tâm linh tiếp dẫn chúng chúng sinh đến
với cái đích giải thoát giác ngộ. Hệ thống này được gọi là "Tam Thế dọc"
(khác với Phật giáo Trung Quốc thường thờ ba vị Giáo chủ Đông phương - Trung
thiên - Tây phương thành bộ "Tam Thế ngang"). Khi hành giả bước đi
trên lộ trình từ sức khỏe, trí tuệ đến tâm linh, đích đến cuối cùng là thể nhập
vào Tam thân, Tam thế của chư Phật; tức là trở về với Thể - Tướng - Dụng, đạt đến
cảnh giới Niết bàn tối thượng. Toàn bộ hệ thống tượng thờ như vậy biểu thị cho
một quá trình tu học và giáo dục đạo đức xuyên suốt: bắt đầu từ khi bước chân
vào đạo, tiến dần lên các cấp bậc giải thoát, giác ngộ và cuối cùng là thành Phật.
Đó chính là sự biểu hiện sinh động của những giáo lý căn bản nhất trong Phật
giáo.
Hai bên chính điện tại các ngôi chùa lớn thường có hệ thống
tượng Thập Điện Diêm Vương. Theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, mười vị Diêm Vương
cai quản mười nghiệp của chúng sinh bao gồm: sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
nói lưỡi hai chiều, nói thêu dệt, nói ác khẩu, tham, sân và si (đó chính là mười
ác nghiệp). Theo lý nhân quả, kẻ làm ác sẽ phải chịu sự trừng trị của mười vị
Diêm Vương tại các tầng địa ngục; ngược lại, người tu tập Thập thiện sẽ từng bước
tiến lên con đường Thánh đạo. Mười pho tượng này mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc
về việc chuyển ác thành thiện, chuyển Thập ác thành Thập thiện. Người học Phật
phải chuyển hóa Thập ác này thành Thập thiện nghiệp. Đó chính là ý nghĩa cốt
lõi của việc tôn thờ hệ thống tượng Thập Điện Diêm Vương trong chùa.
Ở tiền đường, thông thường có các gian thờ bốn vị tượng: Đức
Thánh, Đức Chúa và hai vị Hộ pháp. Trước hết, nói về hai vị Hộ pháp. Phật giáo
Trung Quốc không thờ hai vị Hộ pháp như Việt Nam mà chỉ thờ tôn tượng Vi Đà ở
điện Tứ Thiên Vương và hai vị Kim Cương Môn Thần ở Tam quan; tượng Vi Đà ngoảnh
mặt vào chính điện và ngoảnh lưng ra cửa. Ngược lại, tại Việt Nam, chúng ta thờ
hai vị Hộ pháp. Trước nay trong thiền môn vẫn truyền tụng lai lịch của hai Ngài
là theo tích trong kinh Hiền Ngu. Đó là câu chuyện về tiền thân của Đức Phật –
Thái tử Thiện Hữu và tiền thân của Đề Bà Đạt Đa – Thái tử Ác Hữu; do đó dân
gian thường gọi là ông Thiện và ông Ác. Vì muốn giúp chúng sinh thoát khổ, Ngài
Thiện Hữu đã vào biển tìm ngọc Minh Châu Như Ý để thỏa mãn mọi nguyện vọng vật
chất cho muôn loài. Tuy nhiên, khi tìm được ngọc và lên bờ, Ngài bị người anh
là Ác Hữu dùng đoản đao đâm mù hai mắt để cướp ngọc. Vì tích đó nên hình dáng của
hai tượng được thể hiện là: vị mặt trắng, tay cầm viên ngọc là Thái tử Thiện Hữu;
Thái tử Ác Hữu là tiền thân của Đề Bà Đạt Đa nên tượng được tạc mặt đỏ, tay cầm
thanh kiếm. Tuy nhiên, sách Duyên Quang Tam Muội lại cho rằng: “Tích rằng thời
Đức Phật Thích Ca có hai huynh đệ, một người tên Thiện Hữu thái tử, một người
tên Ác Hữu thái tử. Trong kinh Báo Ân và các kinh chỉ nói về chuyện hai vị xuống
biển lấy ngọc tế độ quần sinh mà không nói hai vị cũng chính là hai vị Hộ pháp.
Chư kinh chép rằng ông Thiện Hữu đã thành Phật hiệu là Thích Ca; ông Ác Hữu
cũng thành Phật hiệu là Đức Thiên Vương. Từ vô thủy kiếp tới nay, hai Ngài luôn
hóa hiện nơi nơi thuyết pháp độ sinh. Sau các chùa làm tượng Hộ pháp lấy luôn
hiệu của hai Ngài mà yểm tâm – đó là điều lầm tưởng bởi hai Ngài đều đã thành
Phật. Đến như chỉ thấy trong các kinh nói tới Vi Đà Thiên Tướng, Kiền Đạt Thần
Vương mà không thấy kinh nào nhắc tới Thiện Hữu, Ác Hữu cả”. Trên phương diện
giáo dục, hai vị Hộ pháp đại diện cho nền tảng căn bản của Phật giáo là lý Nhân
quả: thiện có thiện báo, ác có ác báo. Vị bên phải là Khuyến Thiện Hộ pháp,
khuyến khích con người làm điều lành. Phần thưởng cho người tu thiện, tích thiện
chính là viên Minh Châu Như Ý trên tay Ngài, tượng trưng cho cuộc đời như ý cát
tường. Vị bên trái là Trừng Ác Hộ pháp, tượng trưng cho sự công bằng của nhân
quả: kẻ làm ác tất bị trừng trị, và "phần thưởng" dành cho họ chính
là thanh gươm hành hình. Hộ pháp nghĩa là bảo vệ Phật pháp. Để chỉ rõ lực lượng
bảo vệ phải đủ mạnh thì đạo pháp mới hưng thịnh, tượng Hộ pháp thường có kích
thước lớn nhất trong chùa, thân mặc giáp trụ, cưỡi trên con sấu hoặc kỳ lân uy
dũng nhằm "hàng ma phục ngoại" – hàng phục tà ma, nhiếp phục ngoại đạo.
Tựu trung lại, hình tượng Khuyến Thiện và Trừng Ác không nằm ngoài đạo lý nhân
quả mà Đức Phật đã chỉ dạy.
Bên tay phải chính điện, phần lớn các chùa miền Bắc có gian
thờ Đức Ông, hay còn gọi là Già Lam. Có lẽ chỉ chùa miền Bắc mới có lối thờ
này; còn miền Trung, miền Nam hay các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đều
không có. Đây là nét đặc trưng văn hóa riêng biệt của Phật giáo Việt Nam. Đức
Ông được chư Tổ tôn xưng là Thập Bát Long Thần Già Lam Chân Tể, dựa theo hình ảnh
và huyền tích về Trưởng giả Cấp Cô Độc – một vị đại hộ pháp và là cư sĩ thuần
thành của Đức Phật. Ngài chính là người đã bỏ tiền trải vàng mua đất của Thái tử
Kỳ Đà để xây dựng tịnh xá Kỳ Hoàn cúng dàng cho Đức Phật. Trong 45 năm thuyết
pháp, Đức Phật đã có tới hơn nửa thời gian (khoảng 25 đến 30 năm) an cư tại tịnh
xá này. Sở dĩ các chùa thờ tượng Đức Ông vì ngài Cấp Cô Độc từng phát nguyện với
Đức Thế Tôn rằng: "Con nguyện đời đời kiếp kiếp làm người trông chùa cho
Phật". Do đó, Đức Ông mang ý nghĩa là người quản lý tự viện, trông nom
chùa chiền và hộ trì Phật pháp. Tuy nhiên, ý nghĩa sâu thẳm hơn nằm ở biểu tướng
của Ngài: không phải hình dáng một vị trưởng giả bình thường mà ngồi trên long
ngai, mặc áo long cổn, đội mũ xung thiên, uy phong lẫm liệt như một vị Đế
vương. Vì sao lại như vậy? Bởi chư Tổ có ngầm ý rằng: Người có khả năng bảo vệ
được Phật pháp phải là quốc vương đại thần. Trong kinh Hộ Quốc Nhân Vương, Đức
Phật cũng đã từng phó chúc cho quốc vương đại thần hộ trì Phật pháp. Ngài Đường
Huyền Trang cũng từng nói: "Bất y quốc chủ, Phật pháp nan hưng". Nếu
không dựa vào quốc chủ thì Phật pháp khó lòng hưng thịnh. Dù chúng ta có nội lực,
có tăng tài nhưng nếu không được nhà nước bảo vệ và ủng hộ thì Phật giáo không
thể phát triển bền vững. Do đó, các thời kỳ Phật giáo hưng thịnh luôn dựa trên
yếu tố tiên quyết là chính sách và sự quan tâm của quốc gia. Chư Tổ thờ vị trưởng
giả đệ tử Cấp Cô Độc nhưng lại cho mang biểu tướng của quốc vương đại thần để
khi các bậc quyền biến vào chùa, họ nhìn thấy hình ảnh của chính mình tại đó.
Khi đã thấy hình ảnh của mình được tôn thờ, họ sẽ phát tâm hộ trì, không dám phỉ
báng Phật pháp hay phá hoại chùa chiền. Hình ảnh bộ tượng Ngọc Hoàng Đại Đế
cũng mang ý nghĩa tương tự. Đó chính là sự khéo léo và trí tuệ bậc thầy của chư
Tổ chúng ta.
Đối diện với ban Đức Chúa Ông, bên tay trái chúng ta nhìn
vào là tượng ngài A Nan, được tôn xưng là Đức Thánh Hiền. Ngài A Nan không chỉ
được biết đến là vị "Đa văn đệ nhất" mà còn được Phật giáo Bắc truyền
coi là người mở đầu pháp môn chẩn tế cứu độ u hồn. Theo tích của kinh Cứu Bạt
Diệm Khẩu, câu chuyện giữa Ngài và Diệm Khẩu Quỷ Vương chính là duyên khởi khiến
Đức Thế Tôn thuyết ra pháp môn thí thực; do đó Ngài được gọi là Đại Thánh Khải
Giáo – bậc Đại Thánh mở ra pháp môn chẩn tế để cứu độ cô hồn. Vì vậy, tôn tượng
ngài A Nan ngồi trên tòa thường được tạc đắp cà sa, đầu đội mũ Ngũ Phật (hay mũ
Thất Phật), tay trái cầm chén nước, tay phải bắt ấn Thí Cam Lộ, giống như hình ảnh
các vị sư khi đăng đàn Mông Sơn để bố thí chẩn tế cô hồn.
Xét về tổng thể, một ngôi chùa giống như một cơ thể hoàn chỉnh: phần đầu và thân tương ứng với lớp tượng Tam Thế chư Phật và các vị Phật, Bồ tát khác; trong khi đó, đôi cánh tay chính là yếu tố cốt lõi để cơ thể vận hành. Cánh tay phải (từ trong nhìn ra) là ngài A Nan – biểu tượng cho người xuất gia; cánh tay trái là ngài Cấp Cô Độc (Đức Chúa Ông) – biểu tượng cho Phật tử tại gia. Điều này nói lên rằng Phật pháp muốn vận hành được thì phải có cả hai tay, tức là phải có người xuất gia đạt đến trình độ "Đa văn đệ nhất" như ngài A Nan, đồng thời phải có người tại gia có tâm hộ pháp kiên cố như Trưởng giả Cấp Cô Độc. Thêm vào đó, để Phật pháp có thể vận hành và truyền bá rộng rãi thì phải có hệ thống Hộ pháp đóng vai trò giống như đôi chân vững chãi. Đây chính là tinh túy của văn hóa Việt Nam và là tinh hoa mà chư Tổ Việt Nam đã lưu lại trong một ngôi chùa.
1.1. Kiến trúc, cảnh quan chùa
Bắc bộ
Phàm khi vào chùa, chúng ta thường chỉ quan sát được hình thức
bên ngoài na ná nhau mà chưa hiểu rõ nguyên do; tuy nhiên, ẩn chứa bên trong sự
tương đồng đó là cả một nền văn hóa, một câu chuyện về trí tuệ. Đó là sự kết hợp
giữa Phật giáo truyền thống và văn hóa bản địa để tạo nên một bản sắc văn hóa
Việt Nam khác biệt. Do không thấu hiểu điều này nên gần đây, việc xây dựng một
số ngôi chùa mới với quy mô lớn đã không xét đến gốc rễ văn hóa, dẫn đến việc
làm mai một giá trị truyền thống. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền đã từng
phát biểu rằng: "Gần đây tôi thấy nhiều ngôi chùa xây ở Việt Nam Tây cũng
không ra Tây, Tàu cũng không ra Tàu, mà hẳn nhiên không phải là văn hóa Việt".
Giới nghiên cứu nhận định như vậy bởi những ngôi chùa ấy: Ấn Độ không ra Ấn Độ,
Tàu không ra Tàu, Tây không ra Tây, hoàn toàn không mang bản sắc văn hóa Việt. Điều
đó chứng tỏ, họ đã vô tình đánh mất gốc văn hóa Việt Nam để chạy theo những văn
hóa ngoại lai bên ngoài.
Một ngôi chùa Việt thuần túy luôn mang nét thâm trầm đặc
trưng. Về màu sắc, chư Tổ không bao giờ sơn vẽ chùa sặc sỡ, bởi lẽ sự rực rỡ
quá mức không chỉ gây chói mắt mà còn dễ khiến tâm người chiêm bái bị dao động.
Một ngôi chùa Việt cổ bao giờ cũng mang vẻ thâm trầm rêu
phong, nằm giữa một vùng đất rộng lớn với cây cối um tùm. Khi bước chân vào
chùa, người ta lập tức cảm nhận được không khí Thiền vị, sự hợp nhất giữa tâm
và cảnh, tạo nên sự tĩnh lặng trong tâm hồn. Đức Phật luôn ưa thích trụ nơi A
Lan Nhã, tức là nơi vắng lặng giữa rừng cây. Xuyên suốt cuộc đời Đức Phật,
chúng ta đều thấy dấu ấn của thiên nhiên: Ngài sinh ra dưới gốc cây, tu hành
trong rừng, thành đạo dưới gốc cây, giảng kinh thuyết pháp đều ở trong rừng và
cuối cùng nhập Niết bàn cũng tại rừng cây. Theo quan điểm của Đức Phật, tịnh xá
và tịnh thất phải hòa nhập với thiên nhiên, không được quá gần dân nhưng cũng
không quá xa. Vì vậy Chư Tổ khi xây dựng Phật giáo Việt Nam đã không rời xa
nguyên lý gốc này. Vì vậy, tại các đại tùng lâm hay những ngôi chùa cổ, chúng
ta luôn thấy những cây cổ thụ cao lớn, tán lá rộng mở, không gian thâm u tịch mịch.
Khi bước qua cổng chùa, một không gian tâm linh khác biệt mở ra, khiến tâm hồn
vốn đang rộn ràng, náo động ở thế giới bên ngoài lập tức trở nên tĩnh lặng.
Tuy nhiên, không phải loại cây nào cũng được chư Tổ lựa chọn
để trồng trong khuôn viên chùa; mỗi loài cây đều mang những đặc trưng và ý
nghĩa riêng biệt. Những cây này thì có gắn liền với lịch sử đức Phật và văn hóa
Việt Nam.
Trước hết là cây bồ đề, loài cây gắn liền với sự kiện giác
ngộ trong cuộc đời Đức Phật. Thứ hai là cây muỗm, hay còn gọi là cây xoài.
Trong lịch sử, Đức Phật từng thọ nhận một tịnh xá vườn xoài do một kỹ nữ dâng
cúng, do đó loài cây này có sự gắn kết mật thiết với Ngài.
Loại cây thứ ba thường thấy là cây đa. Hình bóng cây đa nó gắn
liền với bến nước, sân đình, mái chùa. Theo các Tổ, đây chính là cây Ni câu luật
thường được nhắc đến trong kinh, luật và luận. Cây đa có tán lá rộng, rễ ăn sâu
và vươn cao, được xem là cây vũ trụ với khả năng thu hút nguồn năng lượng của
trời đất và tỏa bóng mát che chở. Hình ảnh vị thần cây đa còn gắn liền với sự
kiện Đức Phật hàng phục ma quân
Bên cạnh đó, các chùa thường trồng cây hoa đại ở hai bên lối
đi. Hoa đại không chỉ đẹp, có thể dùng làm thuốc mà việc chư Tổ trồng loài cây
này còn mang ý nghĩa biểu thị cho sự "đại đại tương truyền", tức là sự
kế thừa và nối tiếp đạo mạch qua nhiều thế hệ.
Có một cây nữa mà trong chùa thường trồng đó cây đại, cây
hoa đại thì biểu tượng thường hay trồng ở hai bên chùa. Hoa của nó cũng đẹp và
có thể làm thuốc, nhưng các tổ trồng cây đại để biểu thị cho đại đại tương truyền,
đời đời nối tiếp,
Một loài cây đặc trưng nữa không thể thiếu trong các chùa cổ
ngày xưa chính là cây mít. Trong tiếng Phạn, tên gọi của cây mít được đọc là Ba
La Mật; chính là Bát Nhã Ba La Mật, nghĩa là độ vô cực hay đáo bỉ ngạn (trí tuệ
đưa người sang bờ bên kia). Xưa kia, khi dịch âm chữ "Mật", tiếng Việt
đọc chệch thành chữ "Mít". Điều này tương tự như cách chúng ta gọi chữ
Phật đà (Buddha) là Bụt, hay chữ Tăng già (Sangha) được dịch âm cổ là Sãi
(trong từ Sư Sãi). Như vậy, Mít chính là cách gọi tắt từ chữ Ba La Mật; tuy
nhiên, chư Tổ đã khéo léo Việt hóa loài cây này thông qua một câu chuyện mang
tính giáo dục sâu sắc để giải thích cho các phong tục như dùng lá mít đóng oản,
dùng gỗ mít làm chùa, tạc tượng. Chuyện kể rằng ngày xưa có hai người phụ nữ
tên là bà Đa và bà Mít. Bà Đa vốn rất giàu có, tiền nhiều như lá đa, nhưng khi
đến chùa lễ Phật lại luôn cậy của khinh người. Ngược lại, bà Mít là kẻ ăn người
ở cho bà Đa, hằng ngày phải gánh lễ vật lên chùa cho chủ. Vì nghèo khó, bà Mít
rất tủi thân; sau bao ngày làm lụng, bà chỉ tích cóp được một đồng tiền nhỏ để
cúng dàng Phật. Khi bà thành tâm đặt đồng tiền lên ban thờ, bà Đa khinh rẻ dâng
cả gánh lễ rồi gạt văng đồng tiền của bà Mít ra ngoài. Nhờ lòng thành kính tuyệt
đối, khi kết thúc cuộc đời, bà Mít đã “đắc đạo” hóa thành cây mít được trồng
trong chùa. Vì bà Mít thành tâm nên gỗ cây mít được dùng tạc tượng Phật, làm
chùa, ngay đến lá cũng không bỏ đi mà dùng để đóng oản cúng dàng lên Phật. Còn
bà Đa cậy tiền của nhưng tâm địa bất chính, tuy nhờ công tu phúc nên cũng hóa
thành cây đa được trồng trong chùa nhưng cây đa dù to lớn nhưng thường bị rỗng
tâm, mục nát, chỉ được trồng ngoài cổng; thân và lá của nó đều không dùng vào
việc gì được. Qua câu chuyện này, chư Tổ muốn răn dạy rằng đến với Phật không cốt
ở nhiều hay ít, giàu hay nghèo mà quan trọng nhất là ở tâm thành.
Ngoài ra, tại các ngôi chùa trên núi cao, người ta thường trồng
thông, tùng, bách và trúc. Đây là những loài cây trường tồn, biểu thị cho cốt
cách người quân tử. Trúc tượng trưng cho "hư tâm học đạo" (tâm trống
rỗng để tiếp nhận đạo pháp); tùng tượng trưng cho bản lĩnh kiên cường, dù mưa
rét hay tuyết rơi vẫn luôn xanh tốt. Tất cả những loài cây được trồng trong
khuôn viên chùa đều mang ý nghĩa biểu tượng gắn liền với Phật pháp và tạo nên
không gian văn hóa đặc thù của một ngôi chùa Việt.
Kiến trúc và không gian văn hóa đặc trưng tiếp theo của ngôi
chùa chính là cổng Tam quan. Tam quan trong Phật giáo tượng trưng cho không, vô
tướng, vô tác. Ở miền Bắc thì Tam quan được xây dựng với các biển đề mang ý
nghĩa: Không môn, Tùy Duyên - Từ Bi môn, Trí Tuệ - Phương Tiện môn (chữ đề ở 2
mặt của cổng). Tam quan không phải khi đến Việt Nam mới có, vì chùa ở các quốc
gia khác đều có cổng vào, nhưng cổng chùa của chúng ta mang một sắc thái văn
hóa và ý nghĩa giáo dục hoàn toàn riêng biệt. Ngày xưa, chư Tổ không cho mở cửa
lớn ở giữa mà thường đóng quanh năm, chỉ khi có đại lễ đón các bậc cao tăng mới
được mở; thông thường mọi người đều đi cửa nách. Ở những ngôi chùa cổ ngày xưa,
cửa hai bên thường được xây rất thấp, khiến người đi vào phải hơi cúi đầu xuống.
Các Tổ không phải không có khả năng xây được cao, mà thâm ý là để những kẻ dù
ngang ngược, mũ cao áo rộng đến đâu thì khi vào chùa cũng đều phải cúi đầu. Nếu
chiều cao trung bình của người Việt là 1m65, các Tổ chỉ để cửa cao khoảng 1m55,
khiến ai đi vào cũng phải cúi xuống. Điều đó có nghĩa là dù anh có cứng đầu cứng
cổ đến đâu, ngay từ cửa chùa anh đã phải học cách cúi đầu. Thậm chí, mái hiên
chùa ngày xưa cũng được xây rất thấp; kẻ nào nghênh ngang không cẩn thận sẽ đập
đầu vào cột. Đây chính là một phương cách giáo dục thâm thúy. Ngày trước khi
chúng tôi ở chùa cũng từng thắc mắc tại sao không làm cửa cao hơn, chư Tổ chỉ
đáp rằng: "Các Tổ có ý cả". Sau này chiêm nghiệm lại mới hiểu được
thâm ý của các Ngài: vào chùa phải cẩn trọng từng bước đi, thận trọng từ cách
đi lại cho đến thái độ ứng xử. Tuy nhiên, ngày nay nhiều nơi cho rằng thời đại
mới phải xây cổng thật lớn cho thoải mái, nhưng đó không phải là dụng ý nguyên
bản.
Kiến trúc chùa Việt Nam sở hữu những cách thức và quy phạm
riêng biệt, tựu trung lại có ba dạng thức căn bản phản ánh rõ nét đặc trưng văn
hóa và lịch sử.Dạng thức thứ nhất là các ngôi Quốc tự xưa kia, thường được sự
tài trợ và xây dựng bởi triều đình (Trong Nam thường gọi là Sắc tứ tự hay Sắc
kiến tự - chùa do triều đình ra lệnh xây, ban sắc phong). Kiến trúc tiêu chuẩn
của dạng này là "nội công ngoại quốc": bên trong tòa Tam Bảo được xây
theo hình chữ Công (工), bao quanh bốn mặt là hệ thống
hành lang khép kín dạng chữ vi, tạo thành hình chữ Quốc (國)). Những ngôi chùa lớn mới có đủ quy mô để dựng
theo lối này. Hiện nay, các ngôi Quốc tự tiêu biểu từ thời Lý còn tồn tại có thể
kể đến như chùa Trấn Quốc, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích; hay như chùa Phổ Minh
ở Nam Định – một Quốc tự quy mô lớn từ thời Trần với sự kết hợp độc đáo giữa
chùa và tháp. Riêng về Tổ đình, ngôi chùa cổ nhất và được coi là nôi đệ nhất Tổ
đình của Phật giáo Việt Nam phải kể đến chùa Dâu (Luy Lâu). Dạng thức thứ hai
là chùa làng, phần lớn được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn sau này với lối
chữ Đinh (丁). Đây là sự kết hợp giữa tòa
Tiền đường nằm ngang và tòa Thượng điện (Tam Bảo) nằm dọc phía sau. Một số ngôi
chùa có quy mô mở rộng hơn theo lối "tiền Nhất hậu Đinh", tức là bên
ngoài có thêm một lớp Tiền đường nữa nhưng về tổng thể vẫn thuộc hệ thống chùa
chữ Đinh. Dạng thức thứ ba là một loại hình đặc sắc và hiếm gặp hơn, tiêu biểu
là chùa Kim Liên và chùa Tây Phương với kiến trúc hình chữ Tam (三). Thực tế, nếu xét kỹ thì đây là kiến trúc hình chữ
Vương (王) với ba tòa song song nối thẳng
vào nhau. Đây chính là nét kiến trúc đặc trưng, mang đậm dấu ấn của thời Tây
Sơn.
Phần lớn đằng sau các ngôi chùa thường là nhà Tổ; nếu không
xây ở phía sau, chư Tổ sẽ xây nhà Tổ ở phía bên tay phải từ ngoài bước vào. Việc
này dựa trên kiến thức phong thủy: phía bên tay phải là phương Thanh Long thuộc
Dương, phù hợp làm nơi ở cho chư Tăng (nam) và thờ tự các bậc Tổ sư. Ngược lại,
nhà Mẫu (nữ) thuộc Âm nên thường được xây ở phía bên tay trái để biểu thị sự
hài hòa âm dương rõ ràng; đây là một nguyên tắc trật tự về mặt phong thủy trong
kiến trúc chùa chiền. Đối với các chùa Ni, nhà ở sẽ được xây bên tay trái để
phù hợp với đặc tính riêng. Việc mở cổng cũng tuân theo nguyên tắc này, phần lớn
cổng chùa được mở thuận về bên tay phải, tức phía Thanh Long (thẳng hướng ban Đức
Chúa để mọi người vào chùa trình diện ngài trước). Tuy nhiên, nếu địa thế ngôi
chùa không thuận về hướng Thanh Long, chư Tổ sẽ linh hoạt thay đổi bằng cách thờ
đảo ngược vị trí tượng Đức Chúa Ông và mở cổng sang bên tay trái. Đó chính là
những kiến thức tinh tế về cách bài trí tượng pháp và bố cục đặc trưng, tạo nên
diện mạo riêng biệt của một ngôi chùa Việt.
Chùa Việt Nam tuy được xây dựng theo nhiều hướng khác nhau,
nhưng phổ biến nhất vẫn là hướng Tây và hướng Nam. Theo quan niệm dân gian, Phật
ở Tây Trúc nên chùa ngoảnh mặt về phương Tây để hướng về đất Phật. Tuy nhiên,
dưới góc nhìn âm dương, chư Tổ cho rằng hướng Đông thuộc Mộc (Dương), còn hướng
Tây thuộc Kim (Âm). Khi ngôi chùa ngoảnh mặt về hướng Tây, tức là lưng tựa hướng
Đông, sẽ đạt được sự cân bằng âm dương; khi đó khí tụ và thần tại, giúp ngôi
chùa trở nên linh thiêng. Dạng thức phổ biến thứ hai là chùa quay mặt về hướng
Nam, bởi theo phong thủy địa lý, "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ"
(Bậc Thánh nhân ngồi nhìn về hướng Nam mà nghe thiên hạ). Đây được coi là hướng
Cát Tường, hướng thuận lợi nhất cho việc xây dựng nhà cửa và công trình tâm
linh. Ngược lại, rất ít ngôi chùa Bắc truyền quay mặt về hướng Đông; hướng này
chủ yếu dành cho Phật giáo Nam truyền. Thời Đức Phật, cửa Hương Thất của Ngài
bao giờ cũng quay về hướng Đông – hướng của trí tuệ, ánh sáng và mặt trời mọc.
Khi giảng kinh thuyết pháp, Ngài cũng xoay mặt về hướng Đông. Tuy nhiên, khi nằm
ngủ theo tư thế hữu hiếp, đầu Ngài quay về hướng Bắc, chân hướng về hướng Nam,
nên mặt phải xoay về hướng Tây – hướng mặt trời lặn. Do đó, đạo Phật quan niệm
khi sinh ra hướng về phía Đông, khi Niết bàn ngoảnh mặt về phương Tây. Riêng hướng
Bắc thì rất hiếm khi được lựa chọn để xây chùa. Do đặc điểm địa lý nước ta nằm ở
phương Nam, khí hậu nóng ẩm, nếu nhà quay hướng Bắc sẽ rất lạnh lẽo; vả lại hướng
Bắc thuộc Thủy, không thuận lợi cho việc cư ngụ. Những ngôi chùa hướng Bắc chỉ
tồn tại khi có địa thế địa lý đặc biệt, hoặc ngày xưa được xây dựng gần các khu
mộ địa (tha ma) nhằm ngoảnh mặt ra đó để cứu độ vong linh. Theo lời chư Tổ dạy
lại, chùa hướng Bắc là nơi rất khó ở, phần lớn không có người trụ trì lâu dài
trừ những trường hợp đặc biệt về địa lý.
Như vậy, có thể thấy vào trong một ngôi chùa, nhìn đâu cũng thấy Phật, thấy Pháp, thấy giáo lý của Phật, và nhìn đâu cũng toát lên vẻ thanh thản, giải thoát của Phật pháp. Khi chúng ta hiểu được những giá trị đó, chúng ta mới thấy yêu ngôi chùa cổ của dân tộc, mới thấy rõ đó chính là tinh hoa văn hóa và trí tuệ của tiền nhân, tinh hoa mà chư Tổ đã dày công qua nhiều đời đúc kết để truyền lại cho hậu thế. Mong rằng khi hiểu được những điều này, chúng ta sẽ càng yêu mến, trân trọng và biết phát huy một cách tốt đẹp để duy trì bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam trên cả ba phương diện: Hiếu đạo, Sư đạo và Vương đạo.
p. 3
1.1. Bài trí hệ thống tượng
pháp trong chùa Việt (tiếp)
Kính thưa chư Tôn đức Tăng Ni và các quý vị Phật tử, hôm nay
chúng tôi tiếp tục bàn về các biểu tượng ở trong chùa cũng như ý nghĩa của
chúng. Như đã trình bày trước đây về hệ thống tượng thờ chính trên Tam Bảo; tại
một số ngôi chùa lớn khác, quý vị Phật tử và chúng ta đều biết rằng còn có hệ
thống tượng Bát Bộ Kim Cương, Tứ Bồ Tát và Thập Bát La Hán được bài trí ở hai
bên.
Thông thường, hệ thống tượng Bát Bộ Kim Cương được đặt ở hai
bên hồi của tiền đường. Bộ tượng này thường đi kèm với tượng Tứ Bồ Tát. Bát Bộ
Kim Cương là hệ thống các vị Hộ pháp Thần vương, trong đó danh hiệu "Kim
Cương", ngoài việc thể hiện vũ khí tùy thân của các Ngài là chày kim cương
(theo các kinh A Hàm), còn là biểu trưng cho trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật. Chính
vì vậy, trước khi trì tụng kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, người ta thường
cung thỉnh danh hiệu của tám vị Kim Cương này. Theo kinh Bát Nhã Phóng Quang,
người trì tụng Bát Nhã sẽ được tám vị Hộ pháp Thần vương bảo vệ, giúp khu trừ
tà ma ngoại đạo và đạt đến trí tuệ giải thoát. Theo truyền thuyết được chư Tôn
đức truyền lại, tám vị Kim Cương này vốn xuất thân từ tám thủ lĩnh tướng cướp.
Khi Đề Bà Đạt Đa tìm cách hại Phật, ông đã thuê một nhóm gồm 500 tên cướp để
hành thích Ngài. Nhóm này chia thành các tốp nhỏ nhằm giết hại lẫn nhau để bịt
đầu mối sau khi xong việc. Tuy nhiên, một điều kỳ lạ đã xảy ra: khi tám tên tướng
cướp bắn tên tẩm độc vào Đức Thế Tôn, tất cả mũi tên đều rơi xuống đất trước
khi chạm vào thân Ngài. Kinh sợ trước thần lực của Đức Phật, họ đã phủ phục đỉnh
lễ. Đức Phật khuyến hóa và họ đã phát tâm quy y Tam Bảo, trở thành đệ tử của
Ngài. Năm trăm người trong nhóm cướp theo Phật xuất gia và sau này đều chứng quả
A La Hán, trở thành Ngũ Bách La Hán. Đó là lý do tại sao ở Trung Quốc hay tại
chùa Bái Đính của Việt Nam lại thờ năm trăm vị La Hán ở hai dãy hành lang. Câu
chuyện này minh chứng cho khả năng chuyển ác thành thiện, chuyển hóa tâm tính
chúng sinh thành Hộ pháp Thần vương, thành La Hán và Bồ Tát. Nhóm tượng Bát Bộ
Kim Cương thường được chia làm hai dãy, mỗi bên bốn pho, kết hợp cùng hai pho Bồ
Tát mỗi bên. Tám vị Kim Cương là: Thanh Trừ Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu,
Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Định Trừ Tai, Tử Hiền Thần và Đại Thần Lực. Tượng
Tứ Đại Bồ Tát là: Quyến Bồ Tát (tay nắm lại đặt trước ngực), Sách Bồ Tát (tay cầm
cái cây), Ái Bồ Tát (tay cầm cung tên) và Ngữ Bồ Tát (tay cầm cái lưỡi). Về mặt
Phật học, bộ tượng này mang thâm ý sâu sắc là "chuyển Bát thức thành Tứ
trí". Con người có tám thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại
da) vốn tạo nên luân hồi sinh tử. Người tu hành cần chuyển hóa tám thức này
thành bốn trí tuệ của Đức Phật. Bộ tượng Bát Bộ Kim Cương cùng Tứ Bồ Tát chính
là biểu tượng cho tiến trình tu tập đó.
Ngoài ra, tại các ngôi chùa lớn, hai dãy hành lang thường thờ
Thập Bát La Hán. Hệ thống tượng Thập Bát La Hán ở Việt Nam rất phong phú, thường
được chia làm hai phong cách chính với 2 hệ thống đại biểu. Hệ thống thứ nhất
là bộ tượng tại chùa Tây Phương. Thực chất, đây là hệ thống tượng Lịch đại Tổ
sư của thiền tông Đại thừa, là hệ thống tượng truyền đăng kế tổ, vì các pho tượng
này được chọn ra từ hệ thống Nhị Thập Bát Tổ (28 vị Tổ ở Tây Thiên). Tại tòa
Tam Bảo thượng của chùa Tây Phương chỉ có 16 pho, phải tính thêm hai pho tượng
A Nan và Ca Diếp hầu Đức Phật ở tòa Tam Bảo trung thì mới đủ 18 vị. Hệ thống thứ
hai là 18 vị La Hán có thể tạc theo tích giống Trung Quốc, hoặc theo cách thức
của chùa người Việt (Phật Thích Ca thành đạo hiển căn trần thành 18 vị La hán).
Mười tám vị La Hán này biểu thị cho sự tổng hòa của sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý), sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và sáu thức (nhãn thức,
nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức), hợp lại thành Thập bát giới.
Ý nghĩa này được rút tỉa từ kinh Lăng Nghiêm khi Đức Phật hỏi về các pháp tu
viên thông. Trong số 25 vị Bồ Tát trả lời, có 18 pháp tu liên quan trực tiếp đến
sáu căn, sáu trần và sáu thức. Có người dùng nhãn căn để tu chứng, có người
dùng nhĩ căn hay sắc trần để ngộ đạo. Điều này giải thích vì sao trong các pho
tượng La Hán, ta thấy có vị cầm gậy gãi lưng (thuộc xúc trần) hay vị cầm que
ngoáy tai (thuộc nhĩ căn) mà vẫn khoát nhiên đại ngộ. Những hình ảnh này chỉ dẫn
rằng mọi thứ đều có thể là phương tiện tu hành và giác ngộ. Trong Phật pháp,
các pháp tu đều bình đẳng; không riêng gì thiền, tịnh, luật hay mật mà bất cứ
pháp nào cũng có thể đạt đến kết quả thành Phật như nhau. Đối với thế gian, sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp được gọi là ngũ dục, còn mắt, tai, mũi, lưỡi bị coi
là lục tặc. Nhưng với người biết tu, họ biến những thứ ấy thành phương tiện chứng
đạo, chuyển vọng thức thành chân trí. Đó chính là ý nghĩa "tá giả thành
chân", mượn cái giả tạm bên ngoài để trở về với đạo chân chính. Đây là nội
hàm sâu sắc của bộ tượng Thập Bát La Hán.
Ngoài ra, trong hệ thống các chùa còn có một hệ thống tượng
nữa mà hầu như nơi nào cũng có, hoặc dưới hình thức tượng, hoặc dưới hình thức
bia, đó là tượng Hậu. "Hậu" có nghĩa là sau, “Hậu Phật”, tức là được
thờ tự phía sau Phật để hưởng thừa lộc của Đức Thế Tôn. Những người có công xây
dựng chùa, những người đã phát tâm cúng dàng tiền của để tạo tác tượng Pháp,
chùa chiền, đúc chuông, tiến ruộng, … được nhân dân đồng thuận tôn thờ sẽ được
thờ ở phía sau hoặc ngay bên cạnh chùa; khi thiện nam tín nữ dâng lễ lên Tam Bảo,
những vị này cũng được hưởng một phần hương hỏa của Phật, nên gọi là “Hậu Phật”.
Đặc biệt, tại các Quốc tự thời Lê, tượng Hậu Phật phần lớn là các hoàng hậu,
công chúa, phi tần hoặc các quan chức có đại công đức trong việc tạo tác chùa.
Những vị này thậm chí còn được tạc tượng và thờ ngay trong không gian Tam Bảo.
Tại các ngôi chùa quy mô nhỏ hơn, nếu không có điều kiện tạc tượng thì sẽ có
bia Hậu. Trên bia khắc tên những người đã cúng tiền và được thờ cúng phối hưởng
trong chùa. Nếu một người cúng tiền vào đình hoặc đền thì sẽ được gọi là “Hậu
Thần”, tức là được hưởng phúc cùng với vị Thần nơi đó
Ngoài hệ thống tượng ở Tam Bảo như trên, trong các chùa ở Việt
Nam, ngôi nhà Tổ có vị trí đặc biệt quan trọng. Tổ đường vừa là nơi thờ phụng,
vừa là nơi sinh hoạt; hai bên nhà Tổ cổ truyền đều có phòng Tăng, trong đó
phòng bên phải thường là phòng của Phương trượng, Trụ trì, còn ba gian chính giữa
dùng vào việc thờ Tổ. Ở Việt Nam, phần lớn các chùa đều thờ Ngài Bồ Đề Đạt Ma
làm Tổ sư. Pháp môn căn bản của Phật giáo là tu Thiền, nên các bậc tu hành đều
gọi là Thiền sư. Các dòng thiền lớn ở Việt Nam như Trúc Lâm, Lâm – Tào, … đều
có gốc rễ với tổ Bồ đề đạt ma, nên đều tôn vinh Tổ Bồ Đề Đạt Ma là người truyền
pháp sang Đông Độ. Một số chùa ni thường tôn A nan làm tổ vì đã giúp bà Đại ái
đạo và người nữ xuất gia. Phía dưới tượng Tổ truyền đăng, người ta thờ tượng Lịch
đại Tổ sư là những vị trụ trì tiền bối có công lao với chùa. Tại các nước Phật
giáo khác như Trung Quốc, rất ít chùa thờ tượng Tổ Đạt Ma và các vị Tổ sư cũng
không có điện thờ riêng, họ chỉ có một phòng thờ bài vị Lịch đại trụ trì chứ
không tạc tượng. Ở miền Trung và miền Nam, các ở chùa Huế cổ xưa đều thờ bài vị,
chân dung; đến cuối thời Nguyễn và đầu thời Pháp thuộc mới bắt đầu xuất hiện ảnh
truyền thần hoặc ảnh chụp, rất ít chùa tạc tượng Tổ sư. Gần đây, do ảnh hưởng từ
phía Bắc, một số chùa miền Nam cũng có tạc tượng. Còn tại miền Bắc, truyền thống
tạc tượng trong nhà Tổ đã có từ lâu đời. Điển hình như Tổ đình Hòe Nhai ở Hà Nội
có nhà Tổ quy mô bảy gian, trong đó năm gian thờ Lịch đại Tổ sư rất uy nghiêm. Truyền
thống thờ Lịch đại Tổ sư của Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ truyền thống dân tộc,
đó là sự tiếp nối của đạo thờ phụng tổ tiên trong gia đình. Chư Tôn đức miền Bắc
xưa nay vẫn thường dạy người xuất gia rằng: "Xuất gia thì sư trưởng, tại
gia thì phụ mẫu". Người xuất gia hiếu kính với Thầy, thờ phụng Thiền Tổ để
duy trì cội gốc; cũng như người tại gia hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ tiên tổ để
giữ gìn gốc rễ, và đó chính là biểu thị cho Hiếu đạo. Vì vậy, trong hầu hết các
chùa, nhà Tổ là vị trí quan trọng thứ hai sau điện Phật. Bởi lẽ Phật pháp có hoằng
truyền được hay không đều nhờ công lao của các vị Tổ sư. Phật là bậc khai đạo,
nhưng Lịch đại Tổ sư là những người "truyền đăng tục diệm" – tức là
truyền ngọn đèn trí tuệ của Phật từ đời này sang đời khác để ánh sáng Phật pháp
nối tiếp mãi mãi. Vì vậy, chúng ta phải tri ân các bậc đã khai đạo và duy trì đạo.
Đi kèm với truyền thống đó, tại miền Bắc, ngày kỵ giỗ Lịch đại Tổ sư thường được
tổ chức rất lớn để con cháu xuất gia trở về Tổ đình, đồng thời cũng để nhân dân
tri ân, báo ân các bậc tiền nhân đã có công dựng chùa, tạo tượng và làm các việc
Phật pháp lợi đạo ích đời.
Ngoài hệ thống Phật tượng, Phật giáo miền Bắc còn có hệ thống
tượng thờ Tam giáo. Trên Tam Bảo có tượng thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu;
ngoài ra trong chùa còn có điện Mẫu hay phủ Mẫu, là nơi thờ Tam tòa Tứ phủ
Thánh Mẫu. Đây là tín ngưỡng dân gian của Việt Nam, dung hội với tín ngưỡng thần
tiên và phù lục của Lão giáo. Ngoại trừ vùng đất Nam Định là nơi phát tích đạo
Mẫu, dân gian cũng khá ít nơi dựng đền điện tư có quy mô để thờ Mẫu, nhưng tại
sao chùa chiền khắp miền Bắc hầu như nơi nào cũng có điện Mẫu? Điều này có lý
do liên quan đến lịch sử. Thời nhà Lê lấy Nho giáo làm nền tảng căn bản, đồng
thời cũng tin vào Lão giáo. Do đó, để duy trì chỗ đứng trong xã hội, chư Tổ
chúng ta đã khéo léo đưa Nho giáo và Lão giáo vào trong chùa. Có một câu chuyện
thú vị giải thích việc thờ Mẫu trong chùa được ghi lại trong cả sử sách lẫn
truyền thuyết. Chuyện kể rằng Mẫu Liễu Hạnh khi hiển thánh lần thứ ba đã xuống
trần gian, lập quán bán hàng ở Phố Cát, Đèo Ngang. Bấy giờ, một vị hoàng tử nhà
Lê đi kinh lý qua đó, thấy cô hàng nước xinh đẹp nên đã ngỏ lời trêu chọc. Sau
khi về cung, vị hoàng tử lâm bệnh nặng, không thuốc nào chữa khỏi. Các thầy
pháp được mời đến cầu đảo nhưng đều bất lực. Khi biết duyên cớ từ việc trêu chọc
người bán hàng ở Đèo Ngang, triều đình cho rằng đó là yêu tà nên sai người đến
hàng phục. Tuy nhiên, không thầy pháp nào địch nổi thần thông của Thánh Mẫu. Cuối
cùng, triều đình phải cầu cứu đến Phật pháp. Lúc bấy giờ, vị Đại sư tên là Pháp
Hải đã dùng Phật pháp hàng phục được Mẫu Liễu Hạnh. Khi Mẫu bị đày ra biển
Đông, Bồ Tát Quán Thế Âm hiển linh, thu phục Mẫu làm đệ tử và cho thụ Bồ tát giới.
Vì vậy, chư Tổ nói rằng việc thờ Mẫu trong chùa thực chất là thờ các vị Hộ
pháp, lấy đó làm lực lượng hộ trì Phật pháp. Điều này cũng giải thích vì sao
trong tất cả các khoa cúng Mẫu, thỉnh Mẫu, bao giờ cũng phải thỉnh Bồ Tát Quán
Âm trước nhất, vì Ngài là thầy của các Thánh Mẫu. Ngoài danh hiệu Liễu Hạnh
Công chúa, Mẫu còn có đạo hiệu nhà Phật là Mã Vàng Bồ Tát; danh hiệu này đã được
các triều đình phong kiến thống nhất sắc phong và sử liệu đều ghi chép lại. Đây
là một nét văn hóa riêng biệt của người Việt, thể hiện sự khéo léo của chư Tổ
khi kết hợp Lão giáo, Nho giáo vào trong Đạo Phật và quy hướng tất cả làm thần
Hộ pháp.
Người xưa thường có câu "Trẻ vui nhà, già vui
chùa". Nhiều người hiện nay cho rằng quan niệm đó không còn phù hợp, nhưng
thực tế nó có nguồn gốc lịch sử rất sâu xa. Vào thời nhà Lê, dù không ngăn cấm
hoàn toàn đạo Phật nhưng triều đình có những quy định hạn chế rất nghiêm ngặt.
Trong "Quốc triều hình luật" (luật Hồng Đức) quy định: người dân phải
từ 50 tuổi trở lên mới được phép xuất gia. Việc thi tuyển xuất gia thời Lê cũng
rất khó khăn, thí sinh phải thi kiến thức của cả Tam giáo (Nho - Phật - Lão).
Thời kỳ này gọi là "Cư Nho mộ Thích", phần lớn người xuất gia là hàng
ngũ quan lại đã học Nho, sau khi về hưu mới đi thi để làm Tăng, làm Sư. Lý do
được đưa ra là: người trẻ cần phải phục vụ đất nước và khi sức lực còn cường
tráng thì khó hàng phục được dục vọng. Về mặt văn hóa xã hội lúc bấy giờ, quan
niệm "nam nữ thụ thụ bất thân" dẫn đến việc phân chia không gian sinh
hoạt tâm linh: đàn ông ra đình, phụ nữ ra chùa. Tuy nhiên, cũng giống như việc đàn
ông 50 tuổi mới được vào hàng "lão", phụ nữ cũng phải đến tuổi 50 mới
được đi quy y. Vì không có lực lượng tín đồ trẻ, chư Tổ đã khéo léo đưa đạo Mẫu
vào chùa để giải quyết vấn đề này. Đối với trẻ nhỏ, để đưa các cháu đến với
chùa, chư Tổ đã tạo ra phong tục "bán khoán" cho Đức Ông. Những người
trẻ sẽ đội bát nhang làm con nhang của Mẫu, mà khi đã lễ Mẫu thì tất yếu phải lễ
Phật. Riêng về tục bán khoán cho Đức Ông, đây là nét văn hóa đặc thù của miền Bắc
vì miền Trung và miền Nam không thờ Ngài. Đức Ông chính là Trưởng giả Cấp Cô Độc
(tên thật là Tu Đạt). Ngài được gọi là Cấp Cô Độc vì sau khi quy y Phật, Ngài
đã thiết lập hệ thống từ thiện, nuôi dưỡng người già cô đơn, trẻ em lang thang
cơ nhỡ, giúp họ khôn lớn và ổn định cuộc sống. Chư Tổ cho rằng Ngài rất khéo
nuôi dạy và bảo vệ trẻ nhỏ, nên trẻ em khó nuôi thường được cha mẹ mang lên bán
khoán cho Ngài. Trong văn bán khoán ghi rõ: "Tình nguyện tương thử đồng tử,
quy y Tam Bảo, mại dữ Đại Bi Bồ Tát, cập bản tự Thập bát Long thần". Nghĩa
là tình nguyện đem đứa trẻ này quy y Tam Bảo, bán cho Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ
cứu nạn, nương nhờ uy đức của Thập bát Long thần (Đức Ông) để bảo vệ cháu khôn
lớn. Vì vậy, tiến trình một người Phật tử miền Bắc thường là: nhỏ thì bán
khoán, lớn lên làm con nhang, già thì làm vãi. Đây chính là cách chư Tổ uyển
chuyển, khéo léo để duy trì lực lượng Phật tử từ nhỏ đến lớn mà không vi phạm
luật lệ khắt khe của triều đình ngày xưa.
1.2. Công phu tạo tượng
Công phu, nghệ thuật tạo tượng thời xưa cũng có những nét rất
đặc biệt. Các pho tượng thường được chế tác từ bốn chất liệu chính. Thứ nhất là
đồng, tuy nhiên tượng đúc đồng tại Việt Nam xưa khá hiếm và không còn lại nhiều.
Thứ hai là tượng đá, tiêu biểu như pho tượng A Di Đà tại chùa Phật Tích; số lượng
tượng đá thời Lý - Trần hiện còn lưu giữ được cũng rất ít ỏi. Thứ ba và cũng là
chất liệu phổ biến nhất là gỗ. Phần lớn tượng được tạc bằng gỗ mít, về sau có
thêm một số tượng nhỏ được làm bằng gỗ vàng tâm. Chất liệu thứ tư là đất, hay
còn gọi là tượng thổ. Người xưa có câu "Hòn đất cất lên làm ông Bụt",
ý nói từ hòn đất thô sơ, qua bàn tay nghệ nhân nặn thành hình Phật thì trở nên
linh thiêng, khiến ai nấy đều cung kính.
Quá trình chế tác diễn ra vô cùng nghiêm cẩn, bởi pho tượng
là biểu tượng của Đức Phật. Một bộ tượng được chế tác kỹ lưỡng có thể mất vài
năm mới hoàn thành. Cách thức làm tượng
ngày xưa hoàn toàn khác biệt so với hiện nay. Ngày nay việc chế tác thường diễn
ra tại các xưởng hoặc tư gia. Trước kia, việc tạo tượng Phật tuyệt đối không được
phép thực hiện tại nhà riêng. Nếu chùa muốn tạc tượng, thợ phải đến làm việc
ngay tại chùa, không được về nhà. Họ phải dựng nhà, làm lán trong chùa. Người
thợ phải giữ mình chay tịnh, dùng cơm chay do nhà chùa nấu. Người thợ phải ăn
chay, niệm Phật, tụng kinh như người tu hành mới có thể làm tượng. Họ theo các
Sư lên chùa hành trì như một hành giả tập sự. Quy trình làm tượng tại chùa đòi
hỏi sự nghiêm cẩn tuyệt đối. Không có chuyện thợ thuyền cư xử bừa bãi hay bất
kính với tôn tượng; càng không được phép ăn mặn, uống rượu hay sinh hoạt vợ chồng
rồi đến làm việc. Chính vì vậy mà những người thợ tượng cổ xưa đều thuộc làu
các thời khóa tụng niệm sáng trưa tối, biết thỉnh chuông, cúng cháo; các bậc
cao niên biết chữ Nho còn thông thạo nghi thức cúng Phật, cúng Thánh. Mọi vật
liệu từ sơn, vàng bạc đều do nhà chùa chi trả, thợ chỉ góp công, vật liệu thừa
đều hoàn lại cho chùa. Thù lao chủ yếu là công đức, được nhà chùa nuôi ăn là đủ,
tiền thưởng chỉ là phụ. Quá trình làm tượng được giữ kín đáo, biệt lập, người
dân không được phép ngó nghiêng, chỉ có Chư Tăng mới được lui tới. Tượng làm ra
phải đúng tiêu chuẩn mới mang lại sự linh thiêng trong thờ phụng. Xưa kia, Chư
Tổ có soạn những bộ kinh, sách hướng dẫn phương pháp làm tượng. Đến thời vua Tự
Đức, Tổ Xiển Pháp đã in bộ Phật thuyết độ lượng tạc tượng kinh (lời Đức Phật dạy
về quy chuẩn làm tượng), cùng với kinh nói về công đức làm tượng và nghi thức
khánh thành. Hằng ngày các Hòa thượng, Chư Tăng đều trực tiếp giám sát, góp ý từng
đường nét từ khuôn mặt, sống mũi đến nếp áo để pho tượng toát lên thần thái. Nhiều
khi, các Tổ còn trực tiếp làm mẫu, chỉ dẫn từng thế tay bắt ấn, dáng áo, hình
tướng, nét mặt... Thậm chí, các Ngài còn kể lại sự tích của pho tượng để người
thợ nhập tâm. Chính nhờ quy trình nghiêm ngặt đó, tượng cổ mỗi chùa tuy mỗi vẻ
nhưng đều có thần thái đặc biệt. Nhờ vậy, họ mới tạc nên những tác phẩm sống động,
trở thành những kiệt tác nghệ thuật để đời mà cách làm mang tính thương mại,
giao khoán tại nhà như hiện nay khó lòng sánh kịp. Ý nghĩa tâm linh vì thế mà
hoàn toàn khác biệt.
Sau khi hoàn thành việc chế tác tượng, theo truyền thống miền
Bắc, phải thực hiện nghi lễ "khai quang yên vị hô thần nhập tượng"
(hay còn gọi là lễ khánh tán, khánh thành tượng) – nghi lễ này đóng vai trò đặc
biệt quan trọng. Chư Tổ giải thích rằng, dù người thợ có giữ giới, ăn chay niệm
Phật nghiêm mật đến đâu thì vẫn khó tránh khỏi việc còn lưu lại "trược
khí". Hơn nữa, các vật liệu chế tác như đồng, sắt, đá, gỗ, đất... theo
quan niệm xưa thường là nơi trú ngụ của các loại tinh mị (mộc tinh, thạch tinh,
thổ tinh...). Nếu không thực hiện nghi thức tẩy tịnh, các tinh mị này sẽ chiếm
cứ pho tượng và hưởng sự cúng tế của nhân gian. Do đó, cần phải nhờ uy lực của
thần chú và Phật pháp để tẩy tịnh pháp giới, khu trừ tà khí, xua đuổi tinh mị
ra khỏi tôn tượng. Khi ấy, mới cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát quang giáng chứng
minh (“nhập tượng”) thì pho tượng mới đầy đủ sự linh thiêng. Về hình thức, nghi
lễ này thường được cử hành vào buổi tối với nhiều ý nghĩa biểu pháp sâu sắc.
Ban đầu, không gian được giữ trong bóng tối hoặc tắt đèn, tượng trưng cho thế
gian đen tối, vô minh, mất phương hướng khi chư Phật chưa xuất thế. Khoảnh khắc
mở khăn phủ tượng và ánh sáng bừng lên biểu thị cho sự kiện Đức Phật đản sinh,
ánh sáng trí tuệ của Ngài chiếu soi khắp mười phương, xua tan màn vô minh tăm tối
trong tâm thức chúng sinh. Nghi thức tung các hạt ngũ cốc, kim tiền mang hàm ý:
khi tâm chúng sinh được ánh sáng Phật pháp chiếu soi thì đất trời mưa thuận gió
hòa, mùa màng bội thu, thế giới hòa bình. Đây hoàn toàn không phải là mê tín,
mà là phương tiện biểu diễn giáo pháp để chúng sinh thấu hiểu những triết lý
thâm sâu bên trong. Dù pho tượng chỉ là hòn đất, nhưng khi đã mang hình tướng Đức
Phật thì đó là biểu tượng của Phật pháp, đủ giá trị tâm linh để chúng sinh đỉnh
lễ. Về ý nghĩa của hai chữ "khai quang": "Khai" là mở,
"quang" là ánh sáng; nghĩa là khai mở trí tuệ. Thực chất, nghi thức
này không phải là "khai quang cho Phật" (vì Phật đã giác ngộ viên
mãn, không cần ai khai quang), mà là khai quang cho chính chúng sinh. Khi mắt
trần chiêm bái tượng Phật, tâm thức của chúng sinh phải bừng sáng trí tuệ.
Trong nghi lễ, các Sư thường dùng gương (minh kính) để thực hiện nghi thức. Tấm
gương này biểu trưng cho "Đại viên trí kính" của Phật. Dùng trí tuệ
viên mãn ấy soi chiếu khắp mười phương; soi đến đâu, tâm chúng sinh sáng đến
đó, xua tan mọi mê lầm. Do đó, nhiều người thắc mắc khi thỉnh tượng Phật về tư
gia có cần làm lễ khai quang không? Về mặt lý, nếu tâm không vướng bận thì
không bắt buộc. Tuy nhiên, về mặt sự, việc này rất cần thiết để khởi phát lòng
cung kính. Nghi lễ biến một vật chất vô tri (đất, gỗ) trở thành một biểu tượng
thiêng liêng - là "hình bóng" của Đức Phật. Nhờ sự gia trì đó, chúng
sinh mới không coi đó chỉ là cục đất, khúc gỗ, mà khởi tâm kính ngưỡng, cúi đầu
cung kính và tu tập.
Tôi xin kể một câu chuyện vui để giải thích lý do tại sao
chúng ta phải lễ Phật, tại sao đứng trước một pho tượng bằng đất, bằng gỗ mà
người ta lại cúi đầu đỉnh lễ. Có một cậu sinh viên đại học mang tư tưởng vô thần
đến chùa và hỏi Hòa thượng với thái độ thiếu thiện cảm rằng tại sao ai đến cũng
dập đầu xì xụp lễ Phật trong khi Phật chẳng đem lại lợi ích gì. Hòa thượng vẫn
ôn tồn mời nước và hỏi cậu về việc chơi thể thao; Ngài chỉ ra rằng mục đích của
việc tranh nhau quả bóng không phải vì quả bóng mà là để rèn luyện sức khỏe. Từ
đó, Ngài dẫn dắt rằng thân thể cần rèn luyện thì tâm linh cũng vậy, và lễ Phật
chính là phương pháp rèn luyện tâm linh. Ngài lấy ví dụ về lá cờ Tổ quốc: tuy
chỉ là vài thước vải nhưng nó linh thiêng vì là biểu tượng của quốc gia dân tộc,
ai xúc phạm sẽ bị trừng phạt, nếu ai xúc phạm đến lá cờ của tổ quốc thì người
dân ai cũng sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để bảo vệ quốc thể; tương tự, pho tượng
dù là đất hay gỗ nhưng là biểu tượng của Từ bi và Trí tuệ, nên người ta đỉnh lễ
là đỉnh lễ biểu tượng cao quý ấy, đó là sự "tập thể dục" về trí tuệ
và tinh thần. Sau khi nghe giải thích, cậu sinh viên đã hiểu ra và phát tâm quy
y. Câu chuyện cho thấy việc lễ Phật là cách giáo dục về tinh thần, đạo đức;
cũng như chư Tổ thiết lập các nghi lễ nhằm "biểu diễn" Phật pháp để
người đời hiểu rõ giá trị mà khởi tâm cung kính, biến một vật chất vô tri thành
biểu tượng tâm linh cứu cánh để chúng sinh nương tựa tu tập, nếu không có sự
khai thị khéo léo thì người đời dễ lầm lạc mà trở thành kẻ phá đạo.
Nhiều người thường băn khoăn rằng làm sao có thể thỉnh Phật “nhập”
vào tượng được; Phật có “nhập” hay không là việc của Ngài, còn việc thỉnh mời
là tâm nguyện của chúng ta. Hơn nữa, Pháp thân Phật vốn "biến nhất thiết xứ",
không nơi nào là không hiện hữu; núi sông, đại địa đều là pháp thân Phật, vậy tại
sao tượng Phật lại không phải là Phật? Tựu trung, tôn tượng chính là biểu tượng
thiêng liêng của Từ bi và Trí tuệ. Vì thế, khi chúng ta đem hết lòng thành kính
đối trước tượng Phật như đang đối diện với Đức Thế Tôn, tâm cung kính sẽ phát
khởi. Từ tâm thành kính sinh ra phúc đức, trí tuệ, từ trí tuệ sinh ra công đức,
mang lại niềm an lạc và hạnh phúc cho người Phật tử.
Trong kinh tạc tượng có dạy về nguyên tắc chế tác: pho tượng
cần thể hiện đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Sự thành công của việc tạo tượng
là làm sao để khi chiêm bái, chúng sinh khởi sinh được tâm cung kính và niềm
hoan hỷ. Tuy nhiên, hiện nay có một số Tăng Ni, Phật tử khi thấy tượng chế tác
chưa đạt chuẩn liền buông lời chê bai: "Tượng Phật này xấu quá". Xin
khẳng định rằng: tuyệt đối người xuất gia hay tại gia không bao giờ được nói “Phật
xấu”. Đức Phật trọn lành, không bao giờ xấu; cái "xấu" đó là do tay
nghề người thợ chưa tới. Nếu buông lời chê "Phật xấu" là chúng ta đã
vô tình xúc phạm đến Ngài. Dù pho tượng chỉ là cục đất hay có hình tướng thế
nào, nếu ta quán tưởng đó là Phật thì đó chính là Phật. Phật có hiện hữu trong
tâm ta hay không, công đức có phát sinh hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào sự
thành kính tột cùng của chính chúng ta đối với biểu tượng ấy.
Về tỷ lệ độ lượng trong sách tạo tượng, đây chính là những
quy chuẩn nghiêm ngặt về hình thể học mà ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị. Diện
mạo của một pho tượng được sách quy định theo nguyên tắc "nhất diện tam
trùng". Kiểm tra lại các pho tượng cổ đều tuân thủ đúng quy tắc này. Trong
khi đó, nhiều người thợ hiện nay do không hiểu rõ nên thường làm sai lệch. Lỗi
điển hình là thợ tạc trán tượng Phật rất thấp, tóc sát ngay mi mắt. Điều này
không thể hiện được tướng tốt của Phật, bởi Ngài là biểu tượng của trí tuệ nên
trán phải cao và rộng. Theo nguyên tắc cổ, một diện tượng chuẩn được chia làm
ba khoảng bằng nhau: từ chân tóc đến ngang lông mày, từ lông mày đến đầu mũi và
từ đầu mũi đến cằm. Ba khoảng này phải bằng nhau, gọi là "nhất diện tam
trùng". Khuôn mặt Đức Phật phải đầy đặn, tròn trịa, được mô tả là "Phật
diện do như tịnh mãn nguyệt" (mặt Phật tựa như mặt trăng sáng sạch, tròn đầy).
Từ kích thước của diện, người ta suy ra kích thước của vai theo quy tắc
"nhất diện phân lưỡng kiên", tức là một khuôn diện tính làm hai vai
(từ giữa ức ngực sang hai đầu vai tương ứng với hai phần chiều dài của diện tượng).
Về chiều cao tổng thể, nếu là tượng đứng thì chiều cao bằng bảy lần kích thước
diện tượng (lập thất); nếu là tượng ngồi thì chiều cao bằng bốn lần diện tượng
(tọa tứ). Tổng hợp lại ta có khẩu quyết: "Nhất diện tam trùng, tọa tứ, lập
thất". Đây là thước đo chuẩn mực, tương đương với khái niệm "tỷ lệ
vàng" ngày nay, giúp pho tượng đạt được sự cân đối hoàn hảo. Nếu không nắm
vững nguyên lý này mà chỉ áp dụng giải phẫu học hiện đại một cách máy móc, pho
tượng khi đặt lên bệ cao sẽ mất đi vẻ đẹp và sự uy nghiêm cần thiết. Về thần
thái, tượng Phật thường được làm diện thiếp vàng (Kim dung), mắt khép hờ trong
tư thế thiền định. Khóe miệng bao giờ cũng được đục sâu để tạo thành nụ cười mỉm,
gọi là "phá nhan vi tiếu", mang lại cảm giác rất hoan hỷ. Một kỹ thuật
khó là xử lý phối cảnh không gian: vì tượng thường đặt trên bệ cao, nên tỷ lệ
thân phải điều chỉnh, vai và diện tượng phải hơi cúi xuống. Mục đích là để khi
người chiêm bái đứng đỉnh lễ ở dưới ngước lên sẽ bắt gặp ngay ánh mắt của Phật
đang nhìn thẳng vào mình. Đó là ánh mắt của từ bi, của yêu thương. Ngược lại, nếu
thợ không khéo, tạc mắt nhìn ngang thì khi đặt tượng lên cao, ánh mắt đó sẽ
thành nhìn lên trần nhà hoặc nhìn trừng trừng (mắt trợn), không còn thần thái từ
bi ái kính nữa. Chính vì thế, điểm nhãn là khâu khó nhất, ngày xưa chỉ những
người thợ giỏi bậc nhất mới được thực hiện vào đúng lễ khai quang. Ngày nay dù
thường điểm nhãn trước, người thợ cũng phải thật am hiểu nguyên tắc thì mới làm
cho đôi mắt trở nên sống động như thật. Việc tuân thủ các quy chuẩn này không
chỉ đảm bảo yếu tố thẩm mỹ, cân đối mà còn đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về
mặt không gian và tâm linh trong thờ cúng.
p. 4
1.1. Bài trí đồ thờ, tự khí
trong chùa
Tất cả các vật dụng thờ cúng đều mang ý nghĩa biểu tượng. Tại
các chùa cổ, chính giữa Tam Bảo bao giờ cũng có hai án: bên trong là án nội,
bên ngoài là án ngoại. Án ngoại thường bày bát hương, một đôi cây đèn, một đôi
mâm bồng và một đôi lọ hoa. Án nội cũng được bài trí tương tự. Nhưng ngoài những
vật dụng như án ngoại, ở giữa còn đặt thêm hòm kinh. Ngay dưới tượng Phật bao
giờ cũng đặt hai hòm kinh ở hai bên hoặc một hòm kinh Pháp Hoa ở giữa để biểu
thị cho Pháp thân của Phật. Việc bài trí này nhằm biểu thị trọn vẹn ý nghĩa của
Tam Bảo: trên cùng thờ tượng Phật là Phật Bảo; kế đến là hòm kinh biểu thị cho
Pháp Bảo; dưới cùng là tòa tụng kinh của chư Tăng là Tăng Bảo. Phía sau hòm
kinh là một mâm xà, trên đó tôn trí một bát nước. Mâm xà này được dùng để đặt
phẩm vật dâng cúng mỗi khi có trai soạn cúng cỗ. Phía ngoài cùng mới là vị trí
đặt bát hương.
Trước mỗi ban thờ đều có một án thờ. Trên án thờ đó bao giờ
cũng phải có bát hương, đôi cây đèn, mâm bồng và lọ hoa. Thông thường, dù là thờ
tại gia hay nơi đình, chùa cũng đều như vậy.
Bát hương ở chính giữa án thờ giữ vai trò vô cùng quan trọng,
bất kể ban thờ nào cũng phải có. Tại Tam Bảo, dù thờ bao nhiêu vị Phật cũng chỉ
quy về một bát hương duy nhất. Theo nguyên lý, bên trong bát hương bao giờ cũng
làm cốt thất bảo đặt ở dưới đáy, rồi phủ tro lên trên. Ở giữa có một trụ cắm
hương vòng. Ngày xưa, trụ này bắt buộc phải làm bằng tre hoặc gỗ chứ không làm
bằng đồng, bởi nó tuân theo nguyên lý âm dương và ngũ hành tương sinh. Hương
vòng khi thắp sẽ cháy theo chiều kim đồng hồ, thuận theo chiều vận hành của vũ
trụ. Bản thân nén hương và trụ cắm đều làm từ thảo mộc, thuộc Mộc. Khi đốt lên,
Mộc sinh Hỏa. Hương cháy thành tàn rơi xuống lớp tro; tàn và tro thuộc Thổ (Hỏa
sinh Thổ). Thổ sinh Kim, ứng với cốt thất bảo (bảy thứ báu sinh từ lòng đất) đặt
bên trong. Trong Phật pháp, thất bảo còn tượng trưng cho "Thất thánh
tài". Kim sinh Thủy, ứng với tờ trang kim đặt dưới đáy để sinh Thủy. Thủy
lại dưỡng Mộc (nuôi dưỡng cây). Đó là vòng tròn ngũ hành tương sinh khép kín: Mộc
sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy. Đây chính là nguyên lý vận
hành của vũ trụ; ngũ hành thuận thì mưa thuận gió hòa, mang lại điều tốt lành.
Về hình tướng, nén hương vòng biểu thị cho vòng quay của vũ trụ. Ba nén hương
thắp lên biểu thị cho tinh tú, tạo thành hình chữ Tâm (心).
Người xưa luận về chữ Tâm rằng: "Tam điểm như tinh tượng, hoành câu tự
nguyệt tà" (ba chấm như sao sáng, móc câu tựa trăng tà). Ba nén hương thẳng
đứng giống như ba ngôi sao (tam điểm), kết hợp với nén hương vòng tròn bên dưới
(tượng trưng cho nét móc hoành câu) tạo thành kết cấu chữ Tâm trọn vẹn. Ai học
chữ Nho sẽ hiểu ngay đạo lý này, vì thế mới gọi là "tâm hương". Mượn
nén hương bên ngoài để biểu thị tâm thành đối trước Phật. Trong một bát hương
thu nhỏ là toàn bộ vũ trụ: có Nhật Nguyệt tinh tú, có sự vận hành của trời đất,
có vạn vật cỏ cây sinh sôi. Đó chính là ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của bát
hương.
Hai cây đèn ở hai bên án thờ là biểu tượng cho Nhật và Nguyệt
(mặt trời và mặt trăng), gọi là "Nhật Nguyệt sáng soi". Tuy nhiên,
theo lời dạy của chư Tổ xưa, ngoài hai ngọn đèn này, tại vị trí chính giữa án
thờ (trước bát hương) bắt buộc phải thắp thêm một ngọn đèn nữa. Nếu ai về thăm
tổ đình Viên Minh Quang Lãng của Đức Đệ Tam Pháp Chủ sẽ thấy: tại bát hương
chính giữa Tam Bảo ngoài hai ngọn đèn hai bên, bao giờ cũng có một ngọn đèn nữa.
Ban thờ Tổ ngày xưa cũng vậy, ở giữa luôn có một ngọn đèn. đèn trên Tam Bảo là
đèn Phật, còn đèn trên ban tổ gọi là đèn Tổ. Ngọn đèn đó biểu thị cho Tuệ Đăng
(đèn trí tuệ) hay Phật Tuệ. Trong kinh Pháp Cú có câu: "Mặt trời chiếu ban
ngày, mặt trăng chiếu ban đêm, hào quang của chư Phật, soi sáng cả ngày
đêm". Hai đèn bên cạnh tượng trưng cho Nhật - Nguyệt, ánh sáng vốn có giới
hạn theo thời khắc. Chỉ có ngọn đèn ở giữa gọi là "Phật nhật" hay
"Tuệ đăng" mới biểu hiện cho trí tuệ của Phật soi sáng thường hằng.
Vì vậy, Khi xưa hầu cận chư Tổ, Ngài thường dạy rằng đèn hai bên có thể không
thắp, nhưng ngọn đèn ở giữa thì tuyệt đối không bao giờ được để tắt. Dù ngày
xưa dầu đèn khan hiếm, phải vặn bấc thật nhỏ, nhưng vẫn phải giữ lửa. Duy trì
ngọn đèn ấy chính là duy trì Chính pháp, để ánh sáng của chư Phật không bao giờ
tắt. Tại bàn thờ Tổ cũng vậy, ngọn đèn ở giữa phải thắp suốt ngày đêm để biểu
thị ý nghĩa "liên đăng tục diệm" (đèn này tiếp lửa đèn kia), truyền
đăng nối tiếp. Ngọn đèn ở giữa Tam Bảo là Phật đăng phổ chiếu, dưới nhà Tổ là Tổ
đăng viên chiếu. Ngày nay do ít người am hiểu điều này nên nhiều chùa chỉ thờ
hai ngọn đèn hai bên biểu thị cho Nhật Nguyệt mà thiếu đi ngọn đèn Tuệ Đăng
quan trọng ở giữa.
Ngoài lối bày cân đối thường thấy ngày nay là hai bên đều đặt
mâm bồng, hai bên đều đặt lọ hoa, thì ngày xưa còn có một quy định là
"Đông bình Tây quả". Phía Đông (tức bên tay phải chúng ta nhìn vào)
là vị trí đặt lọ hoa; phía Tây là vị trí đặt phẩm quả dâng cúng. Sở dĩ như vậy
vì phương Đông thuộc Mộc, chủ về sinh trưởng nên có cỏ cây hoa lá; phương Tây
thuộc Kim, chủ về thu hoạch nên phải có hoa trái. Vì thế mới gọi là Đông bình,
Tây quả. Chiếc lọ cắm hoa ấy được gọi là "lộc bình" (bình chứa lộc),
bởi hoa bao giờ cũng đi liền với cành, ngọn, biểu trưng cho sự đâm chồi nảy lộc.
Hơn nữa, hình dáng lọ thường có bụng to để chứa đựng tài lộc bên trong. Cần hiểu
đúng đây là lộc bình theo ý nghĩa phong thủy, chứ không đơn thuần là "độc
bình" – tức một chiếc bình đơn lẻ đặt không đối xứng.
Văn hóa thắp hương đã có từ lâu đời, và theo tôi, tập tục
này đã hiện hữu ngay từ thời Đức Phật. Gần đây, một số Phật tử có kể lại rằng,
một vị Thượng tọa cho rằng thời Đức Phật không có tục thắp hương. Vị này khẳng
định đã "đọc hết kinh Phật" nhưng không thấy chỗ nào nhắc đến việc
này, nên khuyên Phật tử cần bỏ đi để tránh ô nhiễm môi trường. Để giải thích tường
tận vấn đề thì cần nhiều thời gian, nhưng để đáp lại ngay lúc đó, tôi đã dùng một
ví dụ vui. Tôi hỏi vị Phật tử: "Các vị đến thăm tôi có thắp hương trước mặt
tôi không?". Họ đáp: "Không, Thầy còn sống, ai lại thắp hương".
Quả thực, nếu tôi đang còn sống mà các vị đến thăm lại đem vàng mã, hương nến
ra thắp thì chắc chắn sẽ bị mời ra khỏi nhà. Sự tình đối với Đức Phật cũng như
vậy. Ngày nay Ngài đã viên tịch, việc chúng sinh thắp hương tưởng niệm là lẽ tự
nhiên. Tuy nhiên, đó chỉ là ví dụ thế gian; muốn thấy rõ lý lẽ thì cần phải
nghiên cứu kinh điển. Về việc vị Thượng tọa kia nói rằng đã đọc hết kinh Phật
nhưng không thấy chỗ nào nhắc đến thắp hương, tôi xin dẫn chứng từ kinh Tạp A
Hàm. Câu chuyện trong kinh này liên quan trực tiếp đến bài Hương lô tán (Tán lư
hương) mà Tăng Ni, Phật tử thường tụng mở đầu thời kinh:
"Lư hương xạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất dao văn,
Tùy xứ kết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân."
(Lò hương vừa đốt,
Pháp giới thơm lừng,
Xa nghe hải hội Phật đều mừng,
Đâu đâu cũng thấy kết tường vân,
Thành ý ân cần,
Chư Phật hiện toàn thân).
Ý nghĩa bài tán là chư Phật từ xa cảm ứng mùi hương thắp lên
liền ứng thân hiện tiền ngay trước mặt. Toàn bộ câu tán tụng này đều bắt nguồn
từ bản kinh đó.
Câu chuyện vắn tắt
như sau: Ông trưởng giả Cấp Cô Độc, khi chưa trở thành đệ tử của Đức Phật, thì
có một mối hôn ước với một ông bạn ngoại quốc. Từ lúc hai bên còn nhỏ, chơi với
nhau, đã hứa rằng: nếu mà một bên sinh con trai, một bên sinh con gái thì sẽ kết
làm thông gia. Sau này, khi trưởng thành, Ông trưởng giả Cấp Cô độc đã làm đệ tử của đức Phật và ông bạn kia thì đi
theo ngoại đạo lõa thể (Kỳ na giáo). Trớ trêu thay ông Cấp cô độc lại sinh được con gái còn nhà người bạn
lại sinh được người con trai, dẫn đến mối hôn nhân tương lai đầy ngang trái giữa
2 gia đình khác tôn giáo! Đến năm
người con trai ông bạn ấy trưởng thành, thì ông ta có cho người đến để cầu hôn
với con gái của trưởng giả Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn từ
chối mối hôn nhân này, bởi vì ông cho rằng gia đình kia là ngoại đạo, mà bản thân ông lại là
đệ tử thân tín của Phật, không thể gả con gái mình cho gia đình ngoại đạo được.
Mặt khác, con gái của trưởng giả Cấp Cô Độc cũng là Phật tử tại gia, không muốn lấy chồng xa và không muốn lấy
người ngoại đạo. Gia đình kia thờ ngoại đạo lõa thể. (Hiện nay ngoại đạo Lõa thể vẫn còn ở Ấn Độ, đi
chiêm bái Ấn Độ chúng ta vẫn thấy những người ngoại đạo lõa thể đi ở đường.
2600 năm nay đạo ấy vẫn còn tồn tại, với vai trò là tín ngưỡng, là tôn giáo bản
địa của Ấn độ). Gia đình họ
thuộc gia đình có quyền thế và họ hối thúc nên gia đình ông trưởng giả Cấp Cô Độc
rất khó từ chối. Hôn sự này, không những là sự giao hảo của của hai Ông trưởng
giả, mà nó còn liên quan đến cả sự an ninh của hai quốc gia. Bởi cả hai vị trưởng
giả đều là hạng tài phiệt, là người giàu có, có thế lực với Đế Vương. Ông trưởng
giả nghĩ rằng mình là đệ tử của Phật, nếu từ chối cuộc hôn nhân này thì vi phạm
vào giới vọng ngữ, hứa rồi mà không làm. Trong khi chưa biết quyết định thế nào
thì, Ông Cấp Cô Độc đến thỉnh thị ý kiến của Đức Phật. Đức Phật nói phải giữ lời
hứa, đã là đệ tử của Đức Phật thì đã hứa phải làm, không thể vì lý do này hay
lý do khác mà từ chối được. (Qua đây, chúng ta thấy được một điểm quan trọng
trong Phật pháp, đó là nói là phải làm, đã hứa dù có chết thì cũng phải làm. Đã
hứa hôn thì phải gả vào gia đình ngoại đạo cũng vẫn phải gả, không thể vì lý do
khác biệt tôn giáo mà từ chối được. Đây là tinh thần của giới luật, thuộc về đạo
đức Phật giáo). Sau khi thỉnh thị Phật, Ông trưởng giả về nói với cô con gái là
đã xin ý kiến Đức Phật và Đức Phật nói nên thực hiện cuộc hôn nhân này. Cô con
gái tuy rất buồn, và không cam chịu, nhưng cũng đành chấp thuận mối hôn sự đó.
Trước khi ra đi thì cô có đến gặp Đức Thế tôn một lần và Đức Thế tôn động viên
rằng: “Biết đâu lần này con
ra đi, có thể làm vẻ vang cho Phật pháp”. Cô bèn cầu xin Đức Phật: “nếu con gặp
khó khăn gì thì xin Đức Thế tôn hãy trợ giúp con”. Đức Thế tôn đồng ý. Gia đình
ngoại đạo được tin, đã cho sứ giả mang sính lễ đến và cuộc hôn nhân đó đã được
tiến hành. Ông trưởng giả tiễn cô con gái về nhà chồng và cho một số tùy tùng
đi theo. Vì ngày xưa đi đường bộ giữa hai nước tương đối xa, nên đoàn đưa dâu đi 3 tháng mới về đến quê
hương nhà chồng và khi về đến nơi mới cử hành hôn lễ. Về đến nơi, hai bên đã có
những chuyện khúc mắc trong việc cử hành hôn lễ. Bởi vì, theo phong tục của họ,
nếu muốn cử hành hôn lễ, thì hôm trước gia đình phải cúng dàng đến các vị thầy
ngoại đạo của gia đình nhà chồng và con dâu phải dâng cơm, rửa chân cho họ. Cô
con gái, với lý do là: quy Phật là không được quy tà ma ngoài đạo, cự tuyệt,
không làm theo phong tục nhà chồng. Giữa cô và gia đình người chồng không thỏa
hiệp được về vấn đề lễ nghi, hai bên đều không biết làm thế nào. Sau hồi
lâu phân giải, cô này đưa ra yêu cầu
là nếu muốn cô thực hiện theo nghi thức ấy, thì phải chấp nhận yêu cầu của cô: phải để
cô dâng cơm cúng dàng đến bậc
Thầy của cô trước tiên (tức là sẽ làm lễ cúng dàng Đức Phật và Chư Tăng
trước). Gia đình kia nghĩ rằng, cô không thể thỉnh được Đức Phật từ xa xôi như
thế tới được, nên họ đồng ý
ngay. Họ dự liệu ngày thứ nhất là cúng dàng Đức Phật, thì thứ hai sẽ cúng dàng các ngoại đạo sư và ngày thứ ba là tổ chức hôn lễ. Tức là hôn lễ hoàn thành trong
ba ngày. Cô con gái đồng ý, và yêu cầu sửa soạn trai nghi cúng dàng cho 500 người;
gia đình họ cũng chuẩn bị theo ý cô. Chiều hôm trước khi trai tăng, cô lên trên
lầu đốt hương, quỳ xuống hướng về Tịnh xá Kỳ Hoàn nơi Đức Phật đang ở và khấn
nguyện, ngày mai con xin thành tâm sửa soạn trai tăng cúng dàng Đức Thế tôn và
500 vị A la hán, xin thỉnh Đức Thế tôn và các vị tới dự. Cô chỉ đốt hương và khấn
nguyện như vậy, mà lúc bấy giờ Đức Thế tôn đang ở trong hương thất, thì ngay lập
tức có mùi hương trầm thơm đặc biệt, xông khắp cả Tịnh xá. Ngài Át Nan lúc bây
giờ cũng ngửi thấy mùi hương ấy. Thấy Đức Phật mỉm cười, ngài Át Nan hỏi: “Bạch
Thế tôn Sao có mùi hương lạ như vậy? Tại sao Đức Thế tôn lại mỉm cười?”. Đức Thế
tôn nói rằng: “Sứ giả ta đã tới!”, và nói ông Át Nan đi thông báo cho Chư tăng
sáng mai tập hợp sớm ở đây để đi dự trai tăng. Ngài Át Nan không thấy ai đến thỉnh,
mà Đức Thế tôn lại nói là “sứ
giả đã đến, có người thỉnh ta”, nên ngài cũng rất phân vân, chỉ biết đi thông báo. Sáng hôm sau khi Chư
tăng tập hợp đông đủ, Đức Thế tôn yêu cầu mọi người dùng thần túc để đi dự đám
trai tăng đặc biệt này. Bên gia đình kia, khi chuẩn bị sắp cơm xong xuôi, cô
gái lại đốt hương một lần nữa, đứng từ xa bạch, xin thỉnh Đức Phật và Chư tăng
đến thụ trai. Lúc bấy giờ, có cảnh tượng đặc biệt xuất hiện: người ta ngước mắt lên trên hư không thì
thấy Đức Phật và Chư tăng dùng thần túc từ trên hư không đi xuống pháp hội. Cảnh
tượng kỳ lạ và đặc biệt đó khiến cho tất cả dân chúng trong khu vực, cả thành
này phải sửng sốt. Họ sửng sốt vì họ chưa được nhìn thấy hiện tượng kì lạ như
thế bao giờ và cũng chưa từng nhìn thấy Phật và Chư Tăng bao giờ. Sau khi dùng
cơm và các nghi thức đã xong thì Đức Phật thuyết một bài pháp. Sau bài pháp của
Đức Phật, cả gia đình ngoại đạo và rất đông nhân dân trong thành cải đạo và quy
y Tam bảo. Đồng thời, gia đình kia tỏ ý muốn hủy luôn lễ cúng dàng ngoại đạo của
ngày hôm sau. Tuy nghiên, Đức Phật khuyên họ vẫn phải tiến hành. Vì, mặc dù đã
quy Phật rồi, nhưng họ đã hứa là cúng dàng các thầy ngoại đạo thì vẫn phải giữ
lời hứa. Chính vì có câu chuyện này, cho nên, bài tán hương mới có câu: “Lư
hương vừa đốt, Pháp giới thơm lừng …”. Đó chính là nói về sự kiện mà cô
con gái của trưởng giả Cấp cô độc đã đốt lò hương, nguyện hướng về Chư Phật.
Cho nên, khi chúng ta thực hiện nghi lễ đều phải Niêm Hương, bạch Phật là đều
có nguyên do, một phần nào là để tái thực hiện nghi thức đã được nói trong kinh
điển này.
Tại sao hương có
thể truyền cảm được giữa chúng ta với với Phật? Tại sao hương lại được Phật gọi
là “tín sứ” – sứ giả tin cậy của Chư Phật? Trong Lăng Nghiêm giải thích: “tâm
lô tính hỏa, hỏa biến thập phương”. Hương thuộc về tính hỏa, mà trong hư không
cũng có tính hỏa. Khi tính hoả trong lư hương bốc lên thì nó làm cho tác động
vào hỏa đại ở trong hư không và tạo thành “làn sóng” để dẫn lời nguyện của
chúng ta đi xa. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó cũng giống như là nguyên tắc của
việc truyền thông tin liên lạc bằng sóng vô tuyến. Khi chúng ta muốn phát tín
hiệu bằng sóng vô tuyến, phải lấy sóng có năng lượng (tần số) cao, để làm “sóng
mang”. Sóng vô tuyến năng lượng cao ấy kết hợp với sóng âm thanh thì truyền được
tin tức của chúng ta từ nơi này đến nơi khác. Cho nên, trong việc cầu nguyện, để
truyền tải âm thanh cầu nguyện của chúng ta đi xa, thì phải dựa vào cái năng lượng
của hỏa đại. Sau này, nhiều người không hiểu về mặt nguyên lý, họ cho rằng là lời
nguyện cầu theo khói bay lên theo trời, nhờ đó mà ”thấu cửu thiên”. Trên
khía cạnh nào đó, thì ý kiến đó cũng không sai, nhưng về mặt nguyên lý thì chưa
chuẩn xác. Sự truyền tin dựa trên nguyên lý của tính hỏa trong hư không, chứ
không chỉ là khói thông thường. Khi hỏa của hương, “tâm lô tính hỏa”, kết hợp với
cái hỏa của hư không, rồi quyện vào lời ước nguyện (tức là lời thỉnh cầu) thì
làm cho âm thanh, tín nguyện của chúng ta được truyền tải từ nơi bản thân người
cầu, hướng nguyện đến thế giới của Chư Phật. Do đó mà “hương nguyện ước” mới
xông khắp Pháp giới. Trong văn tán gọi đó là “Pháp giới mông huân”. (“Huân” là xông khắp). “Chư Phật Hải hội tất dao văn”, tức
là Chư Phật mênh mông như biển cả ở khắp tam thiên đại thiên thế giới từ xa đã
có thể nghe được, cũng giống như Đức Phật từ Tịnh Xá Kỳ Hoàn mà có thể biết được
lời khấn nguyện của con gái Trưởng Giả Cấp Cô Độc. Ngày nay nhiều người cho rằng
bây giờ đốt hương nhiều khói bụi, ảnh hưởng môi trường, lễ nghi không nên thắp
hương nữa (hoặc chuyển qua hương điện, hương máy, …). Như vậy là sai, không có
tín hương ấy, chúng ta gần như không truyền tải được tâm nguyện chúng ta đến với
Chư Phật. Giống như việc chúng ta chỉ nói bình thường, không dùng các thiết bị
phóng to âm thanh lên, thì âm thanh đi rất gần, không thể đi xa, và chúng ta chỉ
truyền âm thanh được đến với rất ít người. Cũng như vậy, nếu khi cầu nguyện,
chúng ta chỉ dùng sức âm thanh mà không có năng lượng để truyền tải của hỏa đại
trong hương thì không thể gửi được âm thanh đến cõi Phật. Theo như câu chuyện
trong kinh đã dẫn ở trên, sử dụng năng lượng của hương truyền tải thông tin thì
làn khói hương ấy “tùy xứ kết tường vân” - đến chỗ nào kết lại thành những đám
mây lành (liên tưởng như là điện toán đám mây hiện đại, các cái “đám mây” về
năng lượng, thông tin, về sóng vô tuyến, …). “Thành ý Phương Ân” thì “Chư Phật
hiện toàn thân” - do “thành ý ân cần” cho nên lập tức “Chư Phật hiện thân
ngay”, như khi cô gái vừa dứt lời hướng đến thỉnh Phật và Chư tăng thì đã thấy
Phật và Chư tăng xuất hiện ngay lập tức từ trên hư không.
Ngày nay, nhiều loại hương sử dụng nguyên liệu không tốt, chứa
hóa chất, nếu đốt quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến môi trường. Do đó, chúng ta nên giảm
bớt số lượng khi thắp chứ không phải bỏ hẳn; không thể nói rằng hương không có
trong đạo Phật để rồi loại bỏ. Bởi lẽ, việc dâng hương thuộc về tín nguyện.
Thời Đức Phật, người ta cúng dàng bốn thứ, gọi là "tứ sự
cúng dàng", bao gồm: ẩm thực (đồ ăn uống), y phục (quần áo), ngọa cụ (đồ
dùng để nằm) và dược (thuốc chữa bệnh). Về sau, trong quá trình phát triển nghi
lễ, Phật giáo Đại thừa hay Bắc truyền lại phổ biến "lục chủng cúng
dàng" (sáu món). Về sáu món này, có hai quan điểm khác nhau: một là Hương,
Hoa, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc; hai là Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực (thay Đồ bằng
Trà, thay Nhạc bằng Thực).
Quan điểm thứ nhất (Hương, Hoa, Đăng, Đồ, Quả, Nhạc) biểu thị
cho sự cúng dàng Lục trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Trong đó: Hoa thuộc
về Sắc trần; Hương thuộc về Hương trần; Đồ (hương xông, hương bôi) thuộc về Xúc
trần; Quả (thức ăn) thuộc về Vị trần; Nhạc thuộc về Thanh trần.
Tuy nhiên, Phật giáo miền Bắc thường theo quan điểm thứ hai:
Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực. Chư Tổ không giải thích theo hướng Lục trần
(vì gọi là "lục trần cúng dàng" hay "lục vị cúng dàng" thì
nghĩa hơi thô), mà đưa ra những ý nghĩa biểu pháp đặc biệt hơn:
Thứ nhất là Hương: Cúng Phật thường thắp số lẻ (một
hoặc ba nén), dù tại gia hay ở chùa. Số lẻ là số dương, tượng trưng cho sự phát
triển; số chẵn là số âm, biểu thị sự tròn đầy, ngừng phát triển. Số một là
"nhất", “nhất tức nhất thiết" (một là tất cả), biểu thị cho toàn
thể Pháp giới hoặc "nhất tâm". Hương biểu hiện cho Tín nguyện (niềm
tin). Khi thắp hương là gửi gắm ước nguyện, để khói hương đưa tâm nguyện của
chúng ta bay khắp pháp giới. Tín cũng là “đạo nguyên”, là “công đức mẫu”, thể
hiện cho sự khởi đầu của mọi thành tựu
Thứ hai là Hoa: Biểu hiện cho sự tốt đẹp và
"nhân lành". Hoa có tươi thì quả mới tốt. Khi chúng ta khởi tín nguyện
tốt, gieo nhân lành với Tam Bảo thì đó chính là ý nghĩa của cúng Hoa. Tuy
nhiên, từ hoa muốn thành quả phải nhờ các yếu tố nuôi dưỡng là ánh sáng (Đăng)
và nước (Trà).
Thứ ba là Đăng (đèn): Tượng trưng cho ánh sáng, tức
là Trí tuệ (Tuệ đăng). Thứ tư là Trà: Tượng trưng cho nước (Thủy), tức
là Từ bi. Giống như trồng cây cần ánh sáng và nguồn nước, người tu hành phải
dùng hai chất liệu Từ bi và Trí tuệ để tưới tẩm, soi sáng cho nhân lành thì mới
thu được kết quả tốt đẹp.
Thứ năm là Quả: Biểu thị cho kết quả. Quả thường có
hình tròn, tượng trưng cho sự viên mãn, "nhân thành quả mãn".
Thứ sáu là Thực (thay cho Nhạc): Thực là ăn, biểu thị
cho sự chân thật, no đủ và sung mãn.
Như vậy, sáu vật phẩm cúng dàng của Phật giáo miền Bắc (Hương,
Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực) mang trọn vẹn ý nghĩa về quá trình tu nhân chứng quả,
có chiều sâu hơn so với quan niệm lục trần.
Khi bày biện lễ vật, thường bày cân đối hai mâm bồng đựng quả.
Theo lối cổ ngày xưa, trên ban thờ còn 2 bộ đài nhỏ: một bên đặt bát nước, một
bên đặt đĩa trầu cau. Theo quy tắc, đĩa trầu phải đặt ở phía tay phải (theo hướng
chúng ta nhìn vào), còn bát nước phải đặt ở phía tay trái theo quy tắc Tả Long
hữu Hổ đã nói ở trên. Phía tay phải thuộc về Dương, ứng với hành Mộc (trầu cau
thuộc thảo mộc); phía tay trái thuộc về Âm, ứng với hành Kim, mà theo ngũ hành
tương sinh thì Kim sinh Thủy, nên đặt bát nước ở bên này. Về đĩa trầu cau, nhiều
người thắc mắc rằng Phật đâu có dùng trầu mà lại dâng cúng? Thực ra, đây là biểu
hiện đặc sắc trong văn hóa của dân tộc ta. Sự tích trầu cau vốn biểu thị cho
tình huynh đệ thắm thiết, nghĩa vợ chồng thủy chung và lòng thành kính sâu sắc.
Cho nên, mặc dù kinh điển không ghi chép việc Đức Phật dùng trầu cau, nhưng
trong nghi thức cúng lễ từ xưa đến nay của người Việt thì không thể thiếu phẩm
vật này.
Tại các chùa cổ, phía trong bao giờ cũng có hai chóe đựng nước
cúng; ở những ngôi chùa cổ xưa hơn nữa, các cụ thường đựng bằng chum. Nước này
bắt buộc phải là nước mưa rào tháng Năm, tháng Sáu. Người xưa dùng chậu sạch hứng
trực tiếp giữa trời chứ không hứng qua máng xối, các cụ gọi đó là "nước
không rễ". Nước sau đó được lọc kỹ, trữ trong chum để chuyên dùng cúng Phật.
Vào ngày 30 và 14 hàng tháng, khi thực hiện nghi thức bao sái, phất thức, nhà
chùa mới thay nước mới lên các ban và hạ nước cũ xuống. Nước đã dâng cúng Phật
rất linh thiêng, nên có thể dùng để pha trà cúng Phật, hoặc cho người ốm đau bệnh
tật uống. Điều này trong kinh Dược Sư
đã dạy: nếu dùng một bát nước thanh tịnh, trì chú Dược Sư rồi cho người bệnh uống
thì có thể tiêu trừ được bệnh tật. Ngay cả khoa học ngày nay cũng có phần lý giải
được điều này. Bởi lẽ, bát nước đó đã tiếp nhận và kết tụ biết bao tâm ý thiện
nguyện của người hành lễ. Khi uống dòng nước chứa đựng năng lượng thiện nguyện ấy,
con người có khả năng chuyển hóa được những ác nghiệp.
Ngày xưa, trong nghi
thức cúng Phật còn có hai thứ là Trà và Thang. Tại các đàn tràng, pháp hội hay
một số ngôi chùa, bên tay phải thường treo bảng Trà, bên tay trái treo bảng
Thang. Ngày nay, hầu hết các chùa không còn biết "thang" là gì. Thang
chính là tám vị thuốc Bắc, được pha vào chiếc bát có nắp (bát thang) để dâng
cúng. Đây là phẩm vật thuộc về "dược" (thuốc) trong "tứ sự cúng
dàng". Theo lối cổ, vào ngày rằm, mùng một, ngày Tết hay ngày giỗ Tổ đều bắt
buộc phải cúng trà đi kèm với thang, không bao giờ cúng trà riêng lẻ. Trà và
Thang biểu hiện hai ý nghĩa khác nhau. Về Trà, trong Thiền tông có công án nổi
tiếng của Tổ Triệu Châu. Bất kể ai đến hỏi đạo, Ngài đều hỏi: "Uống trà
chưa?". Người đáp "Chưa", Ngài bảo: "Uống đi". Người
đáp "Rồi", Ngài cũng bảo: "Uống đi". Một hôm, chú thị giả đứng
bên cạnh thắc mắc: "Sao người chưa uống Tổ cũng bảo uống đi, người uống rồi
Tổ cũng bảo uống đi?". Chú định hỏi cho ra lẽ thì Tổ liền vả vào miệng. Xưa
kia, "Sư và trà là bạn". Khác với các loại thức uống gây nghiện, trà
giúp người uống sinh tâm tỉnh thức. Câu hỏi "Uống trà chưa?" hàm ý
"Đã tỉnh chưa, đã giác ngộ chưa?". Chưa uống thì uống đi cho tỉnh, uống
rồi thì cũng phải tỉnh thêm nữa. Vì vậy, tại các chùa truyền thống, mỗi sáng đều
phải pha trà cúng dàng Phật, cúng Tổ rồi mới rót trà mời Thầy. Đây là
truyền thống tốt đẹp của chốn thiền gia mà nay nhiều nơi đã mai một. Nếu Trà biểu
thị cho sự tỉnh thức của Trí tuệ, thì Thang (vốn là thuốc chữa bệnh cứu người)
biểu thị cho lòng Từ bi. Đức Phật là bậc đầy đủ Từ bi và Trí tuệ. Do đó, thờ Phật,
lạy Phật là ngưỡng vọng biểu tượng cao nhất của Từ bi và Trí tuệ. Vì vậy, khi
cúng Phật, cúng trà kèm với thang chính là biểu hiện cho Từ bi và Trí tuệ. Điều
này cũng tương đồng với ý nghĩa của Thủy (nước - Từ bi) và Đăng (đèn - Trí tuệ)
trong nghi thức Lục cúng, nhưng được thể hiện qua một hình thức khác biệt và
sâu sắc.
Từng vật phẩm dù nhỏ nhất cúng dàng chư Phật, khi được bài
trí trên ban thờ đều hội tụ đầy đủ cả vũ trụ, Nhật Nguyệt và Trí tuệ của Phật.
Sáu vật phẩm cúng dàng đều mang những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, gói trọn cả ước
nguyện, nhân lành, từ bi, trí tuệ, quả tốt và sự chân thật.
1.2. Âm nhạc pháp khí
Dưới bàn thờ Phật là tòa tụng kinh của vị trụ trì. Trên tòa
này, bao giờ bên tay phải cũng đặt mõ, bên tay trái đặt chuông. Tại miền Bắc,
việc bài trí này tuân thủ nguyên tắc "Đông Mộc Tây Kim" (Mõ làm bằng
gỗ thuộc Mộc đặt bên phải; Chuông làm bằng đồng thuộc Kim đặt bên trái). Tôi thấy
một số nơi tại miền Nam, miền Trung bài trí ngược lại (mõ trái, chuông phải),
có lẽ do tập quán tụng kinh đứng nên sắp xếp như vậy cho thuận tay.
Tại các ngôi chùa miền Bắc, ở hiên nhà Tổ thường treo hai
pháp khí: Mộc bản (hoặc mõ cá) và Chuông báo. Mộc bản treo bên tay phải (theo
hướng từ ngoài nhìn vào), ứng với hành Mộc (phương Đông); Chuông báo treo bên
tay trái, ứng với hành Kim (phương Tây). Tương tự, nếu chùa có lầu chuông lầu
trống thì lầu trống nằm bên phải, lầu chuông nằm bên trái. Tại gian thờ Đức Ông
và Đức Thánh Hiền cũng vậy: trống đặt bên Đức Ông, chuông đặt bên Đức Thánh
(“trống Đức Ông, chuông Đức Thánh”). Nếu không dùng trống mà dùng khánh thì
tuân theo nguyên tắc "Chuông Đức Thánh, Khánh Đức Ông". Bài trí như vậy
mới đúng nguyên lý vận hành âm dương ngũ hành.
Về hình dáng, mõ bao giờ cũng chạm hình con cá, gọi là
"mõ cá". Tuy là đầu cá nhưng thân lại hóa long (chạm vảy rồng), hàm ý
"cá vượt vũ môn hóa rồng", người tu hành đắc đạo sẽ chuyển phàm thành
thánh. Các cụ ngày xưa quan sát rất tinh tế, thấy loài cá không bao giờ nhắm mắt
(kể cả khi ngủ), nên lấy hình tượng con cá để biểu thị cho sự tỉnh táo thường
trực của người tu hành.
Đối với Đại hồng chung (chuông lớn) còn gọi là "chuông
kình" (kình chung). Quai chuông đúc hình con Bồ Lao, chày đánh chuông đẽo
hình con cá kình. Tích xưa có câu: "Kình ngư nhất phóng, Bồ Lao đại hống"
(Cá kình dâng sóng đánh vào thì Bồ Lao sợ hãi rống to). Khi đánh chuông, tiếng
kêu vang rền như tiếng sư tử hống, mang năng lực cảnh tỉnh chúng sinh. Về ý
nghĩa âm thanh: Tiếng chuông ngân lên "Bong... Bong...", ấy là
nhắc nhở hãy "Buông... Buông... Buông xuống". Tiếng mõ vang
lên "Cốc... Cốc...", nghe như tiếng gọi "Ngốc... Ngốc...
Ngộ chưa?". Chỉ có buông xuống mới ngộ được. Tiếng trống vang lên cùng
tiếng chuông "Thùng... Thùng... Boong", chữ Hán đọc trại là "Thủng
ma?" (懂吗?), nghĩa là "Đã hiểu
chưa? Đã thông chưa?". Từng tiếng chuông, tiếng trống trong chùa đều
mang những tầng nghĩa sâu sắc, nhắc nhở hành giả phải buông xả để giác ngộ.
Xưa nay, nhiều người thường nhầm lẫn khi đánh chuông trống,
cho rằng trống phải đánh trước, chuông đánh sau. Tuy nhiên, quy tắc chuẩn mực
là "Chuông trước, Trống sau". Chuông phải dẫn dắt, trống nương theo
đó mà điểm nhịp. Đúng như lý "Buông - Thủng" đã nói ở trên: phải có
"Buông" (chuông) thì mới "Thủng" (trống) được; chưa buông
thì làm sao mà thủng? Tiếc rằng ngày nay nhiều nơi làm ngược lại, để trống dắt
chuông.
Miền Nam sử dụng "Chuông trống Bát Nhã", trong khi
miền Bắc truyền thống dùng "Chuông trống Thượng Đường". Dù tên gọi
khác nhau, nhưng vẫn theo quy tắc "Chuông trước Trống sau". Đối với
miền Bắc, theo xu thế giao lưu văn hóa thì cũng gọi là "Chuông trống Bát
Nhã". Tuy nhiên truyền thống của miền Bắc là đánh trống Thượng Đường. Nghi thức này dùng trong
ba trường hợp: thỉnh Phật thượng đường, thỉnh Tăng thượng đường và thỉnh Tăng
thăng tòa thuyết pháp. Ba trường hợp này có cách đánh khác nhau về nhịp, về hồi
và về thế chuyển, nhưng hiện nay ít người còn tường tận.
Đối với chuông trống Bát Nhã, cách đánh của miền Trung và miền
Nam cũng có sự khác biệt. Tuy nhiên, nguyên lý chung là dựa theo câu chú
"Ma ha Bát Nhã Ba la mật đa", tức là nhịp 8 tiếng. Cứ dứt một tiếng
chuông điểm thì đánh một hồi trống 8 nhịp ứng với câu chú trên. Âm hưởng đặc
trưng của Thượng Đường miền Bắc phải là nhịp "Lanh tanh các, lanh tanh
tùng". Hiện nay, tôi thấy nhiều nơi đánh trống Bát Nhã theo kiểu tùy hứng,
tự phát, không tuân thủ bài bản, niêm luật.
Thứ nhất là quả chuông lớn gọi là Hồng Chung. Chữ "Hồng" nghĩa là lớn rồi, nhưng người Việt
Nam quen gọi là Đại Hồng Chung.
Đại Hồng Chung là quả chuông rất lớn. Ngày xưa trong văn bản, các cụ chỉ viết
chữ "Hồng Chung" thôi.
Cổ đức có câu: "Chung
triêu mộ cổ" (Chuông sáng, Trống chiều). Đại Hồng Chung một ngày
đánh hai buổi. Buổi sáng thường đánh vào lúc 4 giờ (giờ Dần), nhằm cảnh tỉnh
hôn trầm, nhắc nhở nhân sinh thức dậy sau đêm dài mê mộng để đón một ngày mới.
Tiếng chuông buổi sáng mang ý nghĩa thức tỉnh nhân loại. Còn buổi chiều đánh
vào lúc hoàng hôn (giờ Mộ), khi mặt trời gác núi; tiếng chuông lúc này mang ý
nghĩa siêu độ u hồn.
Nguyên tắc thỉnh Đại Hồng Chung là bao giờ cũng phải đánh
"tam thông tam hạ" (ba hồi ba tiếng). Cụ thể: khởi đầu rung 7 tiếng,
trung gian đánh 20 tiếng, dứt hồi 8 tiếng. Ba hồi tổng cộng là 105 tiếng, cộng
với ba tiếng cuối (biểu thị Tam tự quy y) là tròn 108 tiếng. Không được đánh
hơn, cũng không được đánh kém. Con số này nhằm đối trị với 108 phiền não; khi
diệt trừ được 108 phiền não sẽ sinh ra 108 điều cát tường. Vì vậy, 108 là con số
biểu trưng cho sự tốt lành.
Về phần đánh trống chiều (Mộ cổ), kỹ thuật ngày xưa rất khó
và nay ít người còn giữ được. Đánh trống chiều là phải đánh làm sao để tạo ra
được bốn loại âm thanh của tự nhiên: Phong
- Vũ - Lôi - Điện. Đánh tiếng trống thế nào để nghe như gió thổi
(Phong), như mưa rơi (Vũ), như sấm rền (Lôi), như chớp giật (Điện). Mục đích mô
phỏng bốn hiện tượng này là để cầu nguyện mưa thuận gió hòa. Trống này thường
được thỉnh vào buổi chiều tối, ngay sau khi dứt hồi chuông, kết thúc thời khóa
chiều.
Quả chuông thứ hai thường treo ở nhà Tổ, gọi là Chuông thức chúng (hay chuông báo
chúng). Chuông này dùng để báo hiệu các giờ giấc sinh hoạt như: giờ khai tĩnh,
các thời công phu sáng - trưa - chiều - tối, hoặc các việc cúng Tổ, Trai
tăng... Chúng ta hiểu nôm na là chuông báo giờ.
Quả chuông thứ ba đặt cạnh mõ trên ban Tam Bảo gọi là Gia trì chung. "Gia trì"
nghĩa là trợ giúp cho việc tụng niệm. Nhịp điệu nhanh hay chậm, chỗ nào cần ngắt,
chỗ nào cần nghỉ đều phụ thuộc vào sự điều khiển của tiếng chuông gia trì này.
Đó là một số pháp khí thông dụng và cũng là những biểu tượng
văn hóa đặc sắc trong Phật pháp mà tôi muốn chia sẻ cùng quý vị. Còn rất nhiều
vấn đề thú vị khác, xin hẹn gặp lại vào kỳ sau.
A Di Đà Phật!
p. 5
1.3. Vật phẩm cúng dàng
Kính thưa Chư Tôn Đức Tăng Ni, thưa quý vị, hôm nay chúng
tôi xin kể tiếp câu chuyện về những nét đẹp trong văn hóa chùa Việt. Kỳ trước,
chúng tôi đã bàn về ý nghĩa của sáu vật phẩm cúng dàng chư Phật: Hương, Hoa,
Đăng, Trà, Quả, Thực. Tuy nhiên, riêng tại các ngôi chùa miền Bắc, trong phần
Quả và Thực có hai vật phẩm vô cùng đặc biệt, mang đậm bản sắc văn hóa cổ truyền,
đó là phẩm Oản và Chuối.
Trong các nghi lễ xưa, luôn xuất hiện oản và chuối; nét văn
hóa này thậm chí còn lan tỏa sang cả hội đình và nghi thức cúng giỗ gia tiên.
Tuy khó xác định chính xác thời điểm ra đời, nhưng theo các tài liệu cổ, có lẽ
oản và chuối đã xuất hiện từ thời Lý - Trần. Một số văn bia tại các ngôi chùa
thời Lý đã ghi chép rất rõ quy định về số lượng phẩm oản và chuối cần thiết để
dâng cúng Phật. Có thể khẳng định, văn hóa dùng oản và chuối có lịch sử lâu đời
và là nét đặc trưng riêng biệt của Phật giáo miền Bắc. Tập tục này hầu như
không thấy xuất hiện tại miền Trung, miền Nam, cũng như tại các quốc gia lân cận
như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Hình ảnh oản và chuối đã đi sâu vào tâm
thức người Việt,đi vào ca dao, dân ca. Trong chèo Quan Âm Thị Kính có câu: “Hôm
nay mười bốn mai rằm,Ai muốn ăn oản thì năng lên chùa.” Hay như ca dao có
câu:“Muốn ăn oản Bụt cho thơm,Ba đồng gạo nếp thì đơm chín chùa.”. Thực ra đây
là hai vật phẩm nông nghiệp và tương đối sẵn có. Chuối Sở dĩ là dùng để cúng Phật,
theo ý nghĩa thông thường thì nó là sản phẩm của nông nghiệp và nó có quanh
năm. Thứ hai nữa là nó cũng dễ kiếm. Ba nữa là nó dễ chia, và thứ tư là nó cũng
ngon, bổ dưỡng. Gạo nếp làm oản thì cũng là đặc sản của nông nghiệp và đó là những
thứ gạo ngon nhất, ngày xưa gọi là gạo nếp hương để cúng Phật. Nhưng về Phật học,
các tổ ngày xưa có có chỉ dậy, thì ý nghĩa của oản chuối nó sâu xa hơn nhiều
theo cách mà chúng ta hiểu như đã nói ở trên
Chuối trong chữ Hán được dịch từ Phạm ngữ là "Ba
tiêu", nên dân gian thường gọi tắt là chuối tiêu. Đặc tính của cây chuối
là loài cây có thân giả. Nếu chúng ta bóc tách từng lớp bẹ, lớp lá ra thì cuối
cùng bên trong hoàn toàn rỗng không. Về phần quả, tuy cây ra quả nhưng quả chuối
lại không có hạt để gieo trồng thành cây mới. Đặc tính này hàm chứa một đạo lý
thâm sâu. Cũng như cây chuối, nếu bóc tách bốn yếu tố cấu thành nên thân xác là
Địa, Thủy, Hỏa, Phong thì không tìm đâu thấy cái gì là "Ngã" (cái
tôi) thực sự cả. Như vậy, cây chuối biểu thị cho nghĩa "vô ngã", tượng
trưng cho sự giả tạm của thân xác con người. Tuy nhiên, chính từ thân giả tạm ấy,
con người vẫn có thể nương vào để tu hành chứng quả chân lý - quả Vô sinh (quả
vị A La Hán). Các loài quả khác thường có hạt, gieo xuống đất lại mọc mầm,
nghĩa là còn "sinh", mà còn sinh thì sẽ còn lão - tử (còn luân hồi).
Ngược lại, quả chuối không có hạt, không thể gieo mầm tái sinh, nên nó biểu thị
cho nghĩa "Vô sinh". Vì vậy, trong sáu phẩm vật "Hương, Hoa,
Đăng, Trà, Quả, Thực", chữ "Thực" ở đây mang ý nghĩa quả chân thật.
Từ thân cây chuối giả tạm (vô ngã) sinh ra quả chuối không hạt (vô sinh), cũng
giống như từ giả thân của con người có thể tu tập để chứng đắc thật quả A La Hán.
Đó chính là ý nghĩa biểu pháp sâu sắc của việc dùng chuối cúng Phật.
Phẩm oản thường được
đóng thành hình trụ tròn. Khi sắp đặt dâng cúng, người ta thường xếp bốn phẩm ở
dưới, một phẩm ở trên, tạo thành hình dáng một ngôi bảo tháp. Hình tròn của oản
biểu thị cho sự viên mãn, vô thủy vô chung. Trên vòng tròn ấy, không thể tìm thấy
điểm khởi đầu hay kết thúc, tượng trưng cho Phật pháp viên mãn, Phật tính hằng
thường, trọn vẹn. Ngoài ra, phẩm oản chính là biểu tượng thu nhỏ của tháp Phật.
Trong quy trình làm oản cúng Phật, có một nguyên tắc bất di bất dịch mà Ngày
xưa, khi dạy chúng tôi đóng oản, các bậc Tôn túc luôn nhắc nhở điều này là:
không được cho muối vào khi thổi xôi. Xôi thường không có muối ăn sẽ nhạt,
nhưng oản không muối khi thụ lộc cùng chuối lại rất thơm ngon. Về lý do kiêng kỵ
này, các Ngài giải thích rằng: Muối kết tinh từ nước biển; mà vị mặn của biển cả
theo quan niệm xưa là do thân xác của cá tôm chết tích tụ mà thành. Do đó, để
giữ trọn sự thanh tịnh cho vật phẩm dâng cúng, phẩm oản tuyệt đối không dùng muối.
Trong các vật phẩm
dâng cúng, xưa nay có những thứ kiêng kỵ tuyệt đối không được cúng dàng Phật,
đó là ngô, đỗ đen và các món chế biến từ đỗ đen. Các Tổ giải thích rằng ngô vốn
là một loại ngũ cốc nhưng không phải giống bản địa mà xuất phát từ nước Ngô
(Trung Quốc). Tương truyền, khi tổ tiên ta đi sứ đã tìm cách mang giống ngô và
đỗ đen về nước, nhưng do sự kiểm soát gắt gao tại biên giới, vị sứ thần buộc phải
giấu các hạt giống ấy vào hậu môn để qua mặt lính canh. Nhờ đó, nhân dân ta mới
có thêm giống cây lương thực để gieo trồng, sinh sống; tuy nhiên, vì hạt giống
từng được giấu ở nơi bất tịnh nên các Tổ dạy rằng chỉ dùng để ăn chứ không được
dâng cúng lên Tam Bảo. Do vậy, ngô và đỗ đen (kể cả chè đỗ đen trong Tết Đoan
Ngọ) có thể dùng dâng cúng Tổ tiên, ông bà để ghi nhớ công lao tiền nhân, nhưng
với chư Phật thì tuyệt đối kiêng kỵ. Cái tên "ngô" mà chúng ta gọi
hàng ngày cũng chính là nhắc nhớ về nguồn gốc xuất xứ từ nước Ngô của Trung Quốc
vậy.
Vào những ngày trai hay dịp cúng kỵ, bên cạnh lễ phẩm oản và
chuối, nhà chùa còn làm mâm cỗ cúng Phật. Mâm cỗ cổ truyền dâng cúng Phật tại
miền Bắc bao giờ cũng tuân thủ quy tắc "bốn bát, sáu đĩa", không hơn
không kém. Bốn bát chủ đạo gồm một bát mọc, một bát nem, một bát kho và một bát
nấu; trong đó bát nấu thường là chuối xanh nấu, còn bát kho thì tùy nghi theo
mùa, có thức gì kho thức ấy như sung hoặc chuối. Sáu đĩa gồm giò phù trúc, chả
đậu, đậu rán, nộm chua ngọt, rau xào và dưa muối. Sự sắp đặt này không chỉ là ẩm
thực đơn thuần mà còn mang ý nghĩa biểu pháp sâu sắc: bốn bát biểu trưng cho Tứ
Diệu Đế (bốn chân lý diệu kỳ), còn sáu đĩa biểu trưng cho Lục độ Ba La Mật (sáu
phép tu để đáo bỉ ngạn).
Vâng, bản chốt này đã rất đầy đủ, sâu sắc và chặt chẽ. Việc
bổ sung chi tiết về "thất tình lục dục" và ý nghĩa của việc
"quán tưởng ăn rau như ăn thịt con mình" trong kinh Lăng Nghiêm làm
cho đoạn văn thêm sức nặng về mặt giáo lý.
Đây là văn bản chính thức để đưa vào sách:
[VĂN BẢN CHÍNH THỨC]
Trong khoa nghi cúng Phật, khi dâng lễ thường nhắc đến câu
"Tam đức Lục vị cúng Phật cập Tăng", nghĩa là mâm cỗ cúng dàng phải đảm
bảo đầy đủ ba đức và sáu vị. Tam đức bao gồm: thứ nhất là Nhu nhuyễn, tức các
món ăn phải được nấu chín, mềm, nhừ; thứ hai là Thanh tịnh, yêu cầu sự tinh sạch,
kỹ lưỡng trong chế biến; thứ ba là Như pháp, đòi hỏi vật phẩm phải đúng đắn từ
nguồn gốc, màu sắc đến cách thức thực hiện và thọ dụng. Về yếu tố Như pháp, có
mấy điểm cốt yếu: thứ nhất, theo quan điểm Phật giáo Bắc truyền, vật phẩm dâng
cúng bắt buộc phải là cỗ chay. Thứ hai, quy trình chế biến phải tinh nghiêm;
Kinh Địa Tạng dạy rằng từ nước vo gạo đến nước rửa rau không được đổ vào nơi ô
uế, người nấu phải tự liệu lượng gia giảm, tuyệt đối không được nếm trước khi
dâng cúng. Thứ ba, luật quy định không được dùng gia vị để giả làm món mặn; việc
cố tình chế biến cỗ chay sao cho giống mùi vị thế gian (như tôm, cá, gà...) là
phi pháp, bởi nó vẫn khơi dậy tập khí tham muốn hương vị mặn trong tiềm thức
người ăn. Kinh Lăng Nghiêm đã dạy dù trong thời đói kém cũng phải khởi tâm từ
bi, ăn rau còn phải quán tưởng như ăn thịt con mình, huống hồ lại làm món giả mặn
để thỏa mãn khẩu vị. Bên cạnh Tam đức là Lục vị, gồm sáu vị: mặn, nhạt, chua,
ngọt, đắng, cay phải hài hòa trong một mâm cỗ. Vị mặn có trong các món kho; vị
nhạt hiện diện ở bát canh suông thanh đạm; vị chua và ngọt hòa quyện trong món
nộm hoặc canh chua; vị ngọt đậm đà hơn ở món xôi vò, chè đường hay bánh ngọt; vị
cay điểm xuyết qua chút ớt gia giảm; và vị đắng thường thấy ở món mướp đắng. Sự
điều hòa sáu vị này không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn mang ý nghĩa biểu trưng
cho nhân sinh: tâm con người vốn đủ thất tình lục dục, cuộc đời cũng nếm đủ mặn,
nhạt, chua, ngọt, đắng, cay của thế thái nhân tình; chính từ việc trải nghiệm
sáu vị thế gian ấy mà hành giả chuyển hóa, nuôi dưỡng được Tam đức (Nhu nhuyễn,
Thanh tịnh và Như pháp).
Tựu trung lại, từ hương, hoa, đăng, trà, quả, thực, đến oản
chuối, trà thang hay mâm cỗ bốn bát sáu đĩa, từng vật phẩm dâng cúng trong chùa
không chỉ là lễ vật thông thường mà đều mang trọn vẹn ý nghĩa biểu tượng cao cả
của Phật pháp.
Nói tiếp về việc cúng dàng phải như pháp, đối với Phật tử có
những vật phẩm tuyệt đối không được mang vào chùa. Ngày nay, lễ vật tuy phong
phú nhưng nhiều người hiểu lầm, mang cả bia, rượu, thuốc lá dâng cúng Đức Ông
vì thấy tượng Ngài mặt đỏ nên nghĩ Ngài thích dùng rượu. Nhưng thực tế không phải
vậy, chúng ta đều biết Đức Ông chính là Trưởng giả Cấp Cô Độc - bậc đại đệ tử tại
gia của Đức Phật. Đã là người giữ gìn năm giới thì đâu thể dùng rượu, cũng đâu
thể hút thuốc. Ngay cả các loại nước ngọt bày biện trên đàn tràng hiện nay, thiết
nghĩ nếu Đức Phật còn tại thế, chắc Ngài cũng không dùng; chỉ những gì gọi là
như Pháp mới nên dâng cúng.
Thứ nhất là tiền vàng mã là thứ không bao giờ được mang vào
chùa cúng Phật. Xưa nay có câu: "Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo
giấy". Bụt không phải là ma, nên Bụt không tiêu tiền giấy. Thậm chí ngay cả
tiền thật, Phật cũng không tiêu. Đức Phật xưa kia đã từ bỏ địa vị đế vương,
vinh hoa phú quý tột bậc để xuất gia học đạo; những thứ Ngài đã quyết buông bỏ
thì lẽ nào nay lại tiếp nhận? Vì vậy, trong các vật phẩm cúng dàng đã quy định
rõ chỉ có hương, hoa, đăng, trà, quả, thực; hoàn toàn không có chỗ cho tiền bạc
hay vàng mã. Cần khẳng định rằng văn hóa này vốn không hiện hữu trong Phật pháp
mà chỉ là tập tục của thế gian bên ngoài. Việc mang vàng mã vào chùa đốt với
suy nghĩ rằng cứ hóa tiền giả sẽ được Phật phù hộ, biến thành tiền thật là một
sự hoang đường, mê tín, đó là hành động cúng dàng phi pháp. Một khi đã là mê
tín, trái đạo và phi pháp thì không thể nào thành tựu được công đức, hay theo
cách gọi của thế gian là phúc đức cho người cúng dàng; chính vì vậy, đây là điều
mà các Phật tử cần phải hết sức lưu ý.
Thứ hai là vấn đề tiền bạc. Vàng mã chúng ta đã không cúng rồi,
thì ngay kể cả tiền thật cũng chưa phù hợp. Vài năm trước, có nhiều ý kiến về
việc đi chùa lễ Phật lại để tiền lẻ lên ban thờ, nhiều người còn dắt vào cả tay
tượng Phật; đó là điều hết sức sai lầm và tổn phúc. Những thứ Phật không dùng
thì đừng mang cúng; chúng ta cũng vậy, thứ mình không ăn được mà người khác đưa
cho thì mình cũng không hoan hỷ, nên những vật phẩm không như Pháp thì đừng
mang cúng Phật. Vậy muốn cúng dàng Tam Bảo theo lối "giọt dầu" thì làm
thế nào? Ngày xưa, muốn cúng dàng trước hết phải bạch với Sư trụ trì. Cách đây
chừng 30-40 năm, hầu như không có chùa nào có hòm công đức cả. Trong các lễ phẩm
dâng cúng không bao giờ đặt tiền; nếu có cúng thì sau khi lễ xong sẽ bạch với
Sư trụ trì, gọi là "tiền giọt dầu". Sở dĩ gọi như vậy vì ngày xưa
cúng đăng là phải mua dầu để thắp đèn cúng Phật; nến rất ít, cổ thì thắp bằng dầu
lạc, sau này thời Pháp có dầu Tây mùi rất hôi, ai mua được phải đóng vào chai
mang lên chùa cúng. Bằng không thì cúng một, hai đồng tiền nhỏ để nhà chùa mua
dầu nhang đèn quanh năm, nên gọi là tiền giọt dầu chứ không nói là tiền công đức.
Ngày nay, chúng ta không nên để tiền lên ban thờ hay cài vào lễ vật, nếu không
gặp trụ trì thì nên để vào hòm. Bây giờ thường gọi là "hòm công đức",
nhưng dùng chữ này cũng không thật chuẩn xác, ngày xưa gọi là hòm "phúc
sương" (hòm làm phúc). Bởi lẽ công đức là do tu tập mà có, còn bỏ tiền ra
cúng dàng là tiền làm phúc, không phải công đức; công phu tu tập tạo nên đức
năng mới thành công đức. Điển tích xưa kể rằng vua Lương Võ Đế - người được tôn
xưng là Hoàng đế Phật tử, làm hàng ngàn ngôi chùa, độ hàng vạn Tăng xuất gia, từng
đắp y giảng kinh Bát Nhã - khi gặp Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã khoe rằng: "Tôi làm
hàng ngàn ngôi chùa, độ hàng vạn vị Tăng, xin hỏi Tổ có công đức gì
không?". Tổ là người thẳng thắn, không úp mở tán thán như người thường, mà
nói như gáo nước lạnh dội vào mặt vua: "Tâu bệ hạ, chả có công đức gì cả".
Vua không hiểu sự khác biệt giữa công đức và phúc đức; việc làm chùa, tô tượng,
đúc chuông là việc phúc hữu lậu thế gian, không phải công đức do tu tập. Vua
Lương nghe vậy không hài lòng, không tiếp đón nữa nên Tổ bỏ đi, vượt sông Trường
Giang lên núi Thiếu Thất ngồi quay mặt vào vách 9 năm vì cho rằng cơ duyên lúc
bấy giờ không ai hiểu được đạo của Ngài. Trở lại chuyện ngày nay, chúng ta dùng
hòm công đức nhưng thực tế đó là tiền làm phúc cúng dàng Tam Bảo, tối kỵ nhất
là nhét tiền vào tượng Phật. Tôi suy nghĩ thế này: tại sao đi lễ Phật cứ phải đổi
tiền chẵn ra tiền lẻ? Nhiều người không cẩn thận cứ nhét vào tay tượng rồi để
lên ban thờ cúng Phật; chưa chắc đồng tiền đó đã tạo phúc mà có khi còn mang tội
vì phi pháp. Tiền cúng dàng phải như Pháp: tiền làm ra chân chính và cúng dàng
đúng cách. Người xưa nói "tâm xuất Phật biết", đâu cần bày ra Phật mới
biết; tự làm tự sinh công đức. Ở thế gian, đi mừng đám cưới người ta đều bỏ tiền
vào phong bì trang trọng, không ai bỏ luôn tờ tiền vào đĩa hay mặt bàn để mừng;
nhưng đi cúng Phật lại đổi tiền chẵn ra tiền lẻ để đặt mỗi ban một hào. Cách cúng
ấy giống như cho ăn mày, chia cho mỗi người một hào. Cúng bao nhiêu cũng là vào
Tam Bảo, tại sao phải mất công đổi tiền lẻ đi chia như vậy? Làm thế không phải
là cách cúng dàng như Pháp..
Ngày xưa, khi tôi còn nhỏ, mỗi khi gia đình sửa soạn lên chùa lễ Phật, các cụ cẩn thận vô cùng. Hoa quả mua về đều phải dùng chậu riêng, chậu sạch rồi lấy nước mưa để làm sạch – các cụ không gọi là rửa mà gọi là "tắm" hoa quả; sau đó phải lấy khăn sạch lau khô rồi xếp vào những thúng dùng riêng, tuyệt đối không dùng lẫn với đồ sinh hoạt thường ngày. Từ việc đồ xôi, nấu chè hay mua hoa quả, tất cả đều phải được chuẩn bị một cách cầu kỳ, tinh sạch. Nhưng ngày nay, tôi thấy nhiều vị thực hành khá tùy tiện, tiện đường qua chợ mua chút hoa quả rồi mang thẳng vào chùa sắp lên đĩa mà chẳng ai đem đi tắm rửa sạch bụi bặm, thậm chí có người để nguyên cả túi nilon đặt lên ban Phật. Cách thờ phụng, cúng dàng như vậy hoàn toàn không như Pháp, thiếu đi sự thành kính cần thiết. Nhìn lại kiến trúc chùa cổ xưa kia, ngay cổng vào phía bên phải bao giờ cũng có một ao nước, mục đích là để người hành hương trước khi vào chùa phải rửa chân tay, mặt mũi, gọi là "tẩy trần" cho thanh sạch rồi mới được vào lễ Phật. Không riêng gì Việt Nam, khi đi một số nước, tôi thấy tuy họ hiện đại hơn, không dùng ao nhưng lại bố trí hệ thống vòi nước máy để Phật tử rửa tay chân, súc miệng (tống khẩu) sạch sẽ rồi mới bước chân vào Tam Bảo; đó thực sự là một nét văn hóa đẹp trong chốn thiền môn.
Thông thường các Phật tử hay thắc mắc không biết vào chùa đi
cửa nào, lễ từ đâu đến đâu; tại các ngôi chùa cổ, khi vào phải đi cổng Tam Quan
cửa nách bên tay phải (tức cửa mà gian Đức Ông nhìn ra), bởi theo nguyên lý
phong thủy thì đó là cửa Thanh Long thuộc dương, mà dương thì phải động nên đi
vào là phải động. Đức Ông là người cai quản chùa, cũng giống như khi chúng ta
ra vào các công sở ngày nay phải đi qua cửa bảo vệ để xuống xe, tắt máy, xuất
trình giấy tờ; vào chùa thì phải "xuất trình" với Đức Ông, nên việc đầu
tiên là phải đi qua cửa Đức Ông vái chào Ngài một vái rồi mới vào lễ. Khi vào
trong chùa, theo phép tắc xưa gọi là "nhập môn vấn chủ", tức là phải cất
lời bạch với sư trụ trì hoặc các vị tăng trong chùa: “A Di Phật! lạy Phật, lạy
Tổ! Bạch cụ ạ, xin cụ bố thí cho con lên chùa lễ Phật ạ!”. Nếu không gặp Thầy
thì chí ít cũng phải niệm Phật: : “A Di Phật! lạy Phật, lạy Tổ! Cho con lên
chùa lễ Phật ạ!”, rồi mới sắp lễ. Trình tự hành lễ là vái chào Đức Ông bên
ngoài, vào lễ Tam Bảo trước, sau đó đi nhiễu theo chiều kim đồng hồ vòng sang lễ
Đức Ông, Đức Thánh Hiền rồi lễ các vị Hộ pháp. Về uy nghi đi đứng, nếu đi vào cửa
bên phải của Tam Bảo thì phải nghiêng người bước chân phải vào trước để mặt
luôn hướng về gian giữa; nếu đi cửa bên trái thì bước chân trái vào trước (như
trong Sa di luật nghi có nói: “tả thời tả chuyển, hữu thời hữu biên”), tuyệt đối
không được đi thẳng cửa giữa (Chính môn) vì cửa này thường đóng để tránh việc
đi thẳng vào hoặc quay lưng đi thẳng ra, phạm vào lỗi "phản bối" rất
kiêng kỵ. Khi vào chùa phải để giày dép phía dưới, giữ tâm thanh tịnh, không
nói chuyện, chen lấn xô đẩy vì "một lễ xa bằng ba lễ gần", không nhất
thiết phải chen vào sát ban thờ khấn to làm phá vỡ không gian tĩnh lặng, thâm
nghiêm, chỉ cần khấn thầm Phật cũng biết. Vào chùa không nên đa cầu, tham cầu
thái quá mà chỉ nên mong cầu sức khỏe, trí tuệ và bình an. Khi đi ra, nên đi
theo lối cửa bên tay trái (nhìn từ ngoài vào là cửa Bạch Hổ). Người xưa gọi cửa
đi vào là cửa Từ Bi, đi ra là cửa Trí Tuệ (hoặc cửa Tùy Duyên - Phương Tiện). Lại
nói về Tam quan, đi qua ba cửa Tam quan (Không môn, Vô tướng, Vô nguyện) chính
là vượt qua ba cửa ải để bước vào thế giới của chư Phật. Sau khi lễ Phật xong
thì xuống nhà Tổ chiêm bái Lịch đại Tổ sư, lễ Mẫu rồi mới ra về. Về vấn đề thụ
lộc, nguyên tắc là vật phẩm đã cúng dàng Phật thì thuộc về Tam Bảo, muốn mang về
phải xin phép. Nhiều người không hiểu rõ tự ý lấy mang về coi như của mình là
sai lầm; thắp hương xong, bao nhiêu đồ lễ mang về hết, thậm chí dâng tịnh tài
xong, lại rút mang về gọi là “lấy lộc”. Trong luật quy định "bất dữ nhi thủ"
(không cho mà lấy) là phạm tội trộm cắp. Ngày xưa, khi hạ lễ phải mang xuống
trình với Sư trụ trì, khi nào các Cụ cho phép thì mới được mang về (thường nên
để lại một phần chứ không mang về hết). Ngay cả Tăng Ni trong chùa, khi dâng lễ
lên hay hạ lễ xuống đều phải cúi đầu khấn vái, tác bạch xin phép rất cung kính
chứ không bao giờ được tự tiện hạ xuống.
p. 6
Nhiều người thường thắc mắc về cách phân biệt Đình, Chùa và
Đền; dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là trước cửa Chùa thường không xây bình phong,
trong khi Đình, Đền thì có. Tại miền Bắc, rất ít chùa xây bình phong trước Tam
Bảo (khác với miền Trung hay miền Nam), mà chỉ có các đền thờ Thần mới xây hạng
mục này. Về lý do, các Tổ giải thích rằng tuy bình phong theo phong thủy có tác
dụng ngăn gió độc, chướng khí, nhưng ở chùa thì cửa giữa Tam quan quanh năm
đóng kín đã đóng vai trò là bình phong rồi; hơn nữa, kinh luật quan niệm rằng dựng
bức bình phong che khuất tầm nhìn, khiến người đi qua không thấy tượng Phật là
che lấp ánh sáng Tam Bảo đối với chúng sinh, nên không xây. Trái lại, việc
Đình, Đền dựng bình phong còn gắn liền với một tích truyện mà Sư phụ tôi từng kể:
Xưa có một làng nọ đình và chùa nằm gần nhau; hôm ấy làng vào đám, mở toang cửa
đình để tế thần. Khi Thành Hoàng đang thụ hưởng lễ vật dân làng dâng cúng thì cụ
Hòa thượng trụ trì chùa bên cạnh đi ngang qua; do uy lực của bậc cao Tăng lớn
hơn Thành Hoàng nên Ngài phải bỏ dở bữa tiệc chạy ra vái chào, lát sau cụ đi về
Ngài lại phải chạy ra lần nữa. Sau đó làng bị "động", Thành Hoàng báo
mộng dạy dân làng phải xây bức bình phong chắn trước cửa đình, để khi cụ chùa
đi qua, Ngài ngồi trong không nhìn thấy thì không phải thất lễ chạy ra chào.
Câu chuyện này cũng phản ánh sự ý tứ tinh tế của người xưa: khi ăn uống kỵ nhất
là bị người khác dòm ngó. Do đó trong tế lễ tại đình đền, khi dâng rượu tiến tước
xong là phải buông y môn (rèm che); tại các gia đình nề nếp xưa cũng vậy, bàn
thờ luôn có màn đỏ, khấn xong phải buông xuống để các cụ thụ hưởng, đến khi triệt
soạn (hạ cỗ) mới được vén lên dâng trà. Đình đền khi tế lễ tuy phải mở cửa
nhưng bắt buộc phải có bình phong (xây cố định hoặc bình phong kéo) chắn phía
trước, thứ nhất là để tránh người qua đường nhìn vào cảnh thụ hưởng bên trong,
thứ hai là để tránh việc các bậc cao Tăng đi qua làm "động" đến thần
linh, bởi uy thần của Tăng chúng vốn rất lớn.
Thứ hai, về mặt kiến trúc tuy có nét tương đồng nhưng cách
phân biệt rõ nhất là trên nóc chùa không đắp các con vật như "lưỡng long
chầu nhật". Nếu như Đình, Đền người ta thường đắp rồng chầu thì ở chùa, hai
con rồng ấy biến thể thành hai con si vẫn (hoặc con kìm) ngậm vào hai đầu bờ
nóc, còn phần chính giữa bờ nóc thường để trống hoặc chỉ đắp biển đề hiệu chùa.
Tại sao lại như vậy? Chúng ta biết rằng Đình thuộc về văn hóa vương đạo, rồng
là biểu tượng của đế vương nên trên nóc đình phải có đôi rồng để biểu thị uy
quyền vua chúa. Tuy nhiên, con rồng ấy không thể ngự trên nóc chùa được, bởi lẽ
đế vương không thể cao hơn Phật; nhiều người thắc mắc Trời hay Phật cao hơn,
thì khẳng định rằng Phật là thầy của Trời. Chính vì thế, trên nóc chùa tuyệt đối
không đắp rồng chầu.
Thứ ba, cột hoa biểu (hay còn gọi là cột đồng trụ) của chùa
và đình đền có sự khác biệt rõ rệt. Thường ngay trước cửa Tam Bảo hoặc cửa đình
đều hiện diện hai cột này; nhìn vào đó, chúng ta liên tưởng đến nguồn gốc từ Ấn
Độ. Như đã biết, tại các thánh tích của Đức Phật, vua A Dục đều cho dựng các cột
đá tròn, trên đầu khắc hình các con thú như ngựa, voi hay sư tử bốn mặt; thế
nhưng khi về đến Việt Nam, nó đã tiếp biến thành các cột hình vuông. Đây là sản
phẩm kiến trúc đặc biệt mà tôi thiết nghĩ chỉ các ngôi chùa ở miền Bắc nước ta
mới có, còn chùa chiền các nước lân cận không thấy biểu tượng này. Tuy nhiên,
hiện nay một số nơi thi công do chưa nắm rõ quy tắc phân biệt nên đắp vẽ không
chuẩn xác, thường nhầm lẫn lối đắp của chùa sang đình hoặc ngược lại. Cụ thể,
trên đỉnh cột đồng trụ ở đình người ta sẽ đắp hai con nghê; trong khi đó, đối với
cột đồng trụ ở chùa, đỉnh cột thường được các cụ ngày xưa đắp hình bình hồ lô
(tịnh bình) hoặc hình đao triện. Nếu theo lối cổ thì đắp hình tượng "dành
phượng" – tức bốn con phượng đứng chạm cánh vào nhau ở bên trên, còn phía
dưới dành phượng là "hổ phù" hình bốn con rồng, tạo thành thế
"phượng trên rồng dưới".
Ở đình, hai cột hoa biểu tượng trưng cho âm dương, nhật nguyệt,
bốn mặt biểu thị cho tứ thời; nhưng ở chùa, nó lại biểu tượng cho từ bi và trí
tuệ, bốn mặt biểu thị cho Tứ Diệu Đế. Kinh Hiền Ngu có câu "Hiền Ngu song
thể dạng, thiện ác lưỡng quan đầu", hai cột hoa biểu song song chính là hiện
thân của lý ấy. Một điểm đặc biệt tại chùa là hình tượng phượng đắp ở trên, rồng
lại nằm ở dưới. Rồng vốn biểu thị cho vua (Trời), phượng biểu thị cho hoàng hậu
(Đất), theo lẽ thường thì Trời phải ở trên Đất; trong chế độ phong kiến, làm
ngược lại dễ bị quy tội khi quân, làm phản, giống chuyện Võ Tắc Thiên xưa cướp
ngôi nhà Đường, vua mặc áo cửu long, còn bà đội mũ cửu phượng. Tuy nhiên, các Tổ
ngày xưa đã giải thích điều này rất thấu đáo. Tìm hiểu văn sách của các kỳ thi
Tam giáo, phong Tăng cang thời Lê, Nguyễn,
ta thấy khi triều đình chất vấn tại sao lại để phượng trên rồng, Tổ Khoan Dực
đã vận dụng Dịch học trả lời rằng: Đó là biểu tượng của quẻ Địa Thiên Thái – đất
(địa) ở trên, trời (thiên) ở dưới thì mới có sự thái hòa. Nếu trời cứ mãi ở
trên cao, đất cứ mãi ở dưới thấp thì âm dương cách trở, vạn vật không sinh sôi;
trời muốn giao hòa với đất phải hạ mình xuống, đất muốn tiếp xúc với trời phải
nâng mình lên, âm dương giao hòa thì thiên hạ mới thái bình. Triều đình nghe
xong tâm phục khẩu phục. Còn tại sao ở đình lại thay phượng bằng hai con nghê?
Các Tổ giải thích rằng tế thần thường dùng đồ mặn, mùi vị này dễ chiêu cảm
Thiên Cẩu tinh (chó trời) hạ phàm ăn vụng lễ vật ("thiên cẩu hạ thực"),
khiến thần linh không thụ hưởng được. Do đó, cổng đình phải đắp hai ông tướng
canh gác và trên cột đắp nghê để chấn giữ, ngăn không cho Thiên Cẩu xuống phạm
vào đồ cúng tế. Ngược lại ở chùa, vì dâng cúng đồ chay và nhờ uy thần Phật lực
nên Thiên Cẩu không dám bén mảng, vì thế không cần đắp nghê trấn giữ; đây chính
là điểm khác biệt căn bản giữa cột đồng trụ của chùa và cột hoa biểu của đình.
1.1. Lối thờ tiền Phật hậu Thánh/
thần và tín ngưỡng Thánh tổ
Tại một số ngôi chùa lớn mang dấu ấn văn hóa Việt Nam, đặc
biệt là thời Lý – Trần, tồn tại một nét kiến trúc độc đáo gọi là "Tiền Phật
hậu Thần". Nghe vậy có người sẽ thắc mắc sao trong chùa lại thờ Thần? Nhưng
thực chất vị “Thần”, vị “Thánh” này chính là “Thánh sư” – những bậc cao Tăng xuất
gia tu hành được nhân dân tôn xưng là “Thánh” và phụng thờ trong chùa, thường đặt
ở phía sau hoặc bên cạnh Tam Bảo, nên gọi là "Tiền Phật hậu Thần/ Thánh";
tín ngưỡng này xuất hiện từ rất sớm từ ngay thời Đinh – Lê với việc nhà vua đã
phong cho ngài Khuông Việt làm Khuông Việt Quốc sư, giữ chức Tăng thống. Có một
điểm rất hy hữu trong lịch sử phong kiến nước ta: dù lấy Nho giáo làm nền tảng
chính trị, nhưng các vua chỉ phong tước hiệu Quốc sư cho các vị sư xuất gia tu
hành. Trong suốt chiều dài lịch sử, chưa từng có vị Trạng nguyên, Tiến sĩ, Tể
tướng hay thậm chí là bậc thầy dạy học cho Đế vương, nào được phong làm Quốc sư
cả; cả Nho giáo lẫn Lão giáo ở Việt Nam đều chưa từng có ai được vinh phong tước
hiệu cao quý ấy, chỉ có các bậc cao Tăng trong Phật giáo mới được triều đình sắc
phong tước hiệu này. Về sau, tùy theo các triều đại mà có thêm các danh xưng
khác như Tăng cang, Tăng thống hay Tăng lục, nhưng tước vị Quốc sư vẫn là đặc
ân chỉ dành riêng cho những bậc xuất gia tu hành theo đạo Phật.
Ngài Khuông Việt Quốc sư thường được thiền gia tôn xưng là
"Tể tướng áo nâu", là một vị Tăng được đặc quyền tham dự bàn việc quốc
chính, vào triều không phải lạy, được ngồi ghế ngang hàng với Vua; danh hiệu
"Khuông Việt" ấy mang ý nghĩa là người có khả năng khuông phù, chấn
hưng cho đất nước Việt Nam. Đặc biệt đến thời Lý, rất nhiều vị Tổ được phong
làm Quốc sư và được phụng thờ theo kiến trúc "Tiền Phật hậu Thần". Điển
hình như Lý Triều Thánh Tổ thờ tại chùa Lý Quốc Sư, Đức Thánh Nguyễn Minh Không
tại Ninh Bình, hay chùa Keo Nam Định và chùa Keo Thái Bình thờ Đức Thánh Dương
Không Lộ. Tại Hà Nội có chùa Thầy, chùa Láng, chùa Nền thờ Đức Từ Đạo Hạnh;
chùa Bối Khê (Thanh Oai) và chùa Trăm Gian (Chương Mỹ) thờ Đức Thánh Bối Nguyễn
Bình An; hay chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) gắn liền với Quốc sư Vạn Hạnh. Trong hệ
thống thờ tự này, phần lớn các vị Thánh sư đều là Tăng, song có trường hợp hy hữu
duy nhất tại chùa Lại Yên (Hoài Đức) thờ vị Thánh sư là Ni – vốn là công chúa
con vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành.
Nhân dân tôn sùng các ngài như Thần, Thánh và gọi là “Thánh
sư” hay “Thánh tổ” với lòng trân trọng đặc biệt. Khi bước vào những chùa thờ
Thánh tổ, ta sẽ choáng ngợp trước kiến trúc hùng vĩ, đa phần được xây theo lối
"nội công ngoại quốc", "tiền Phật hậu Thần" với nhà cửa lớp
lớp mang đậm phong cách cung đình. Các ngôi chùa có thờ Quốc sư luôn dành một
cung riêng biệt để phụng thờ. Điều đặc biệt là các cung thờ này thường đóng kín
quanh năm, chỉ mở cửa duy nhất một lần vào dịp lễ hội. Việc tế lễ các ngài được
thực hiện long trọng với nghi thức hệt như thờ Thần tại đình làng, bao gồm tế lễ,
rước sách, từ đó hình thành nên những lễ hội đặc sắc tại chùa. những chùa thờ
Quốc sư, Thánh Tổ bao giờ cũng tổ chức hội vào ngày sinh hoặc ngày viên tịch của
các Ngài với nghi thức tế lễ, rước sách long trọng, thu hút dân chúng cả vùng,
thậm chí cả tỉnh, huyện nô nức kéo về trẩy hội suốt hai, ba ngày liền. Kèm theo
phần lễ là các trò chơi dân gian liên quan đến hèm tích của các vị Quốc sư nhằm
diễn lại các sự tích năm xưa. Đơn cử như tại hội chùa Thầy, khám thờ Đức Thánh
Từ Đạo Hạnh chỉ mở vào đêm mùng 6 để làm lễ Mộc dục (tắm tượng). Tại các nơi thờ
Thánh sư khác cũng vậy, trước ngày chính hội sẽ tiến hành lễ Mộc dục; người được
chọn tham gia thường là những thanh niên trai tráng chưa vợ, phải trai giới sạch
sẽ mới được phép vào bao sái, tắm tượng và thay cho Ngài một bộ y phục mới (bộ
y này sẽ được thay thế định kỳ vào năm sau). Sau nghi lễ, nước và khăn dùng để
tắm tượng được chia cho dân làng để "lấy khước"; riêng bộ y áo cũ
thay ra được cắt nhỏ chia cho mỗi nhà một mảnh, xem như một lá bùa hộ mệnh linh
thiêng. Ở hội chùa Thầy, tương truyền Đức Thánh Từ là người sáng tạo ra múa rối
nước nên trước cửa chùa có tòa thủy đình, hễ vào hội là bắt buộc phải diễn trò
múa rối nước. Còn đối với chùa Keo, Ngài Dương Không Lộ là ông tổ nghề múa rối
cạn nên ở đó chỉ múa bằng đầu rối chứ không có thân; trong đêm thờ Thánh phải
có hát thờ, múa rối đầu, tạo nên bầu không khí vô cùng linh thiêng và đặc biệt.
Đó chính là những giá trị văn hóa sâu sắc gắn liền với Phật giáo Việt Nam.
Có những làng tôn thờ các vị Thánh sư làm Thành hoàng làng:
điển hình như tại làng Cự Đà và Khúc Thủy, vị được thờ mang ba vai trò: vừa là
Thánh sư của chùa, vừa là Thành hoàng của làng, lại vừa là cụ Tổ của một dòng họ.
Chùa Khúc Thủy, thờ một Thánh sư thời Trần – vốn là con trai của tướng quân Trần
Khát Chân, về đây ở ẩn tu hành với pháp hiệu Linh Thông Hòa thượng. Dân làng lập
một ngôi đình riêng để phụng thờ Ngài làm Thành hoàng bảo hộ. Vào những năm hội
làng, người dân thường tổ chức rước Ngài lên chùa rồi lại rước về đình để tế lễ.
Đây là nét văn hóa làng xã đặc trưng, thể hiện sự gắn kết giữa đình và chùa. Tại
những nơi như vậy, việc tế lễ không thuộc thẩm quyền của nhà sư mà hoàn toàn do
dân làng đảm nhiệm, thực hành và gìn giữ. Công việc phụng thờ được thực hiện rất
nghiêm cẩn, các cung thờ do nhân dân trực tiếp quản lý. Đó chính là nét văn hóa
đặc biệt chỉ thấy ở các ngôi chùa Phật giáo miền Bắc với tín ngưỡng "Tiền
Phật hậu Thần".
Ở chùa Bối Khê, với chùa Trăm Gian là thờ cùng một vị thánh
sư. Nhưng mà chùa Bối Khê thì có kiến trúc là cung thờ Đức Thánh Tổ, Nguyễn
Bình An ấy thì đằng sau Tam Bảo. Nhưng chùa Trăm Gian thì cung thờ Đức Thánh Tổ,
thì lại nằm ở bên tay phải của Tam Bảo, để đối diện cân với cung thờ đó thì bên
tay trái có cung thờ của tứ phủ, thờ thiên địa thủy nhạc. Hai gian đó thì thông
thường các chùa khác là thờ Đức Thánh - Đức Chúa, thì ngôi chùa đó chuyển hai Ban
Đức Thánh, Đức Chúa xuống hai đầu hành lang, hai hành lang đó thì thờ Thập Bát
La Hán. Đấy cũng là một chùa có kiến trúc hơi lạ so với các chùa khác. Còn các chùa
mà thờ thánh sư ấy, ở đó thì là cung thờ Đức thánh sư là thờ ngang với tam bảo
hai bên. Các chùa khác thì phần lớn là cung thờ Đức thánh sư để đằng phía sau,
cho nên là mới có quan điểm là tiền Phật hậu Thần.
Tuy triều đình trọng vọng với phẩm chất đạo đức và học vấn của
các ngài, phong các bậc cao Tăng làm Quốc sư, các ngài được tham dự chính sự
nhưng các ngài tuyệt nhiên không cầm quyền. Các vị tham gia việc dân việc nước
bằng cách đem Phật pháp giáo hóa cho Đế vương, góp ý về chính sách cai trị. Khi
vua hỏi việc triều chính, các ngài không bao giờ can dự trực tiếp mà thường mượn
những điển tích trong Phật pháp để ví dụ, giúp nhà vua tự chiêm nghiệm và chọn
ra quy sách thích hợp; nhờ vậy mà không làm mất đi sự tôn nghiêm của triều
đình. Nhà vua tôn xưng một vị cao Tăng làm Quốc sư đồng nghĩa với việc tôn ngài
làm Thầy của cả nước chứ không riêng gì của Đế vương. Một khi vua đã quy y, coi
Quốc sư là Thầy để học đạo thì nhân dân cũng nương theo đó mà coi ngài là Thầy
của chính mình; vua đã quy y Tam Bảo thì không cớ gì cả nước lại không quy y.
Chính vì thế, thời Lý – Trần Phật giáo trở thành Quốc giáo, bởi đời vua nào
cũng chọn cho mình một vị Thầy và phong làm Quốc sư. Vào thời Lý – Trần, hầu hết
các vị Đế vương đều có Quốc sư phò trợ. Việc các bậc cao Tăng được triều đình sắc
phong những chức danh như vậy không chỉ là niềm vẻ vang cho Thiền tông, mà còn
tạo nền tảng vững chắc để Phật pháp theo đó mà phát triển hưng thịnh. Chính vì
vậy, công đức của các Ngài luôn được các thế hệ hậu sinh tôn thờ; đối với dân
chúng, các vị được xem là những biểu tượng đạo đức cao cả. Do đó, khi các Ngài
qua đời, nhân dân đều lập nơi thờ, tạc tượng và thực hiện những nghi thức cung phụng
một cách đặc biệt.
Nhà Lê không lấy Phật giáo làm Quốc giáo nên không phong cho
vị nào làm Quốc sư, chỉ phong chức Tăng thống. Tăng thống là vị Tăng đứng đầu để
thống lĩnh, quản lý toàn bộ Tăng Ni trong một vùng hoặc trong một nước, tương
đương với chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự ngày nay. Tăng cang/ cương thì nhỏ hơn
Tăng thống, là người làm cương lĩnh cho đại chúng, tương đương với chức vụ Trưởng
ban Trị sự một tỉnh. Còn Tăng lục ("lục" là biên chép) là chức quản
lý sổ bộ của Tăng Ni, giống như Trưởng ban Tăng sự bây giờ. Tuy nhiên, đến cuối
thời Lê có một trường hợp đặc cách hy hữu được triều đình sắc phong làm Quốc
sư, đó là ngài Chân Dung Tông Diễn. Điều này lý giải vì sao khi đến chùa Hòe
Nhai, ta thấy bên phải Tam Bảo có một pho tượng rất lạ tạc hình một vị vua quỳ
gối chắp tay phủ phục, trên lưng cõng một pho tượng Phật; tích này liên quan mật
thiết đến Quốc sư Tông Diễn. Bấy giờ dưới triều Lê Hy Tông, do nghe lời nịnh thần,
nhà vua đã ban hành quyết sách sai lầm gây nên pháp nạn cho Phật giáo: bắt Tăng
Ni hoàn tục, phá bỏ chùa chiền và đuổi hết người tu hành ra khỏi kinh thành.
Ngài Tông Diễn – đệ tử của Sơ tổ Tào Động Thủy Nguyệt – đang tu tại chùa Đông
Sơn (tức chùa Non Đông, nay thuộc Cẩm Phả, Quảng Ninh), vâng mệnh Sư phụ lên
kinh đô quyết tâm can gián vua. Vì không thể tiếp cận được Thiên tử, Ngài bèn lập
kế xin dâng hiến một viên ngọc quý; nghe tin có ngọc, vua mới cho triệu kiến.
Thực chất trong hộp không có ngọc mà chỉ chứa một bản tấu trình bày rõ điều lợi
hại trong chính sách đối với Phật pháp. Xem xong, nhà vua giật mình tỉnh ngộ về
sai lầm của mình, bèn mời Ngài vào đàm đạo suốt ba ngày đêm để nghe giảng giải.
Cảm phục đạo hạnh của Ngài, vua đã đặc cách phong ngài Tông Diễn làm Quốc sư –
vị Quốc sư duy nhất của triều Lê. Sắc phong hiện vẫn còn lưu giữ tại Tổ đình
Hòe Nhai với danh hiệu "Bổ thiền phụ quốc", nghĩa là giúp đỡ Thiền
tông và phù trợ đất nước, mang ý nghĩa tương đồng với danh hiệu "Khuông Việt"
thuở trước.
Triều đình nhà Nguyễn có lệ sắc phong Tăng Cang, trụ trì, … cho
các vị phương trượng tại các chùa Quốc Tự/ Sắc tứ (những ngôi chùa do Nhà nước
quản lý, tiêu biểu như chùa Thiên Mụ). Theo quy định, chỉ những vị được phong
Tăng Cang mới được phép trụ trì Quốc Tự; ngoài vị Tăng Cang đứng đầu, chùa có
thể có thêm một vị Trụ trì phụ tá để cai quản tăng chúng. Ban đầu chế độ này chỉ
áp dụng trong phạm vi Kinh đô. Phải đến cuối thời Nguyễn, tước Tăng Cang mới được
mở rộng phong cho các vị ở ngoại trấn. Bên cạnh đó, triều đình còn ban cấp Đao
– Điệp (gồm “Giới đao” để cạo tóc xuất gia và “Độ điệp” là chứng chỉ chứng nhận
thụ giới). Những vị được triều đình công nhận là "Đao Điệp Hòa thượng"
– như Hòa thượng Phúc Điền xưa kia – mới có thẩm quyền tổ chức giới đàn, thu nhận
đệ tử và cấp độ điệp. Tấm độ điệp này có giá trị tương tự giấy chứng nhận Tăng
Ni ngày nay; người xuất gia nếu thiếu giấy tờ ấn chứng của Đao Điệp Hòa thượng
thì không được công nhận là tu sĩ chính thức và có thể bị bắt giữ. Về phạm vi
quyền hạn, các vị Đao Điệp Hòa thượng được phân công quản lý theo vùng, tùy vào
năng lực mà phụ trách một tỉnh hoặc nhiều tỉnh, ví dụ như danh xưng "Tam tỉnh
Sa Môn" dùng để chỉ vị Hòa thượng quản lý tới ba tỉnh. Triều Nguyễn vốn
không có chế độ phong Quốc sư, song đã có một trường hợp đặc cách cuối cùng vào
thời Bảo Đại, đó là việc sắc phong cho ngài Phước Huệ làm Quốc sư – vị Quốc sư
duy nhất của triều đại này. Ngôi chùa gắn liền với tên tuổi của Ngài là chùa Thập
Tháp tại Bình Định. Nếu như các chùa trong Nam hiếm khi xây dựng nhà thờ Tổ quy
mô lớn, thì riêng chùa của Quốc sư Phước Huệ lại sở hữu tòa nhà thờ Tổ ba gian
rất bề thế, bên trong cũng bài trí cung, khám trang trọng. Quy cách này có nét
tương đồng với lối thờ phụng các vị Thánh sư tại các chùa miền Bắc từ xưa đến
nay.
1.2. Tín ngưỡng Quan Âm tại
chùa miền Bắc
Tại các chùa miền Bắc, chúng tôi nhận thấy một điểm nhấn đặc
biệt trong văn hóa Phật giáo Việt Nam so với các vùng miền khác, đó là văn hóa
thờ Đức Quan Âm. Trong một ngôi chùa, tượng Đức Quan Âm thường được thờ nhiều
nhất, số lượng còn vượt trội hơn cả tượng Phật Thích Ca hay Phật Di Đà. Theo khảo
sát tại các ngôi chùa cổ có niên đại từ thời Lê, Nguyễn, thường hiện diện ít nhất
từ 4 đến 5 pho tượng Quan Âm với các hình tướng khác nhau. Thứ nhất là tượng Đức
Quan Âm cùng Đức Đại Thế Chí đứng hầu bên cạnh Đức Phật Di Đà, hầu hết các chùa
đều có. Thứ hai là tượng Quan Âm Chuẩn Đề. Thứ ba là tượng Quan Âm Tống Tử, dựa
theo tích Quan Âm Thị Kính với hình tượng Ngài bế một đứa trẻ. Thứ tư là tượng
Quan Âm Tọa Sơn, tức Đức Quan Âm Chùa Hương. Như vậy, trong chùa thường có ít
nhất bốn hình tượng này; ngoài ra tại một số đại danh lam còn phụng thờ tượng
Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn, tiêu biểu như tại chùa Mễ Sở, chùa Đào Xuyên hay
chùa Phật Tích, trong đó nhiều pho đã được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc
gia.
Hình tượng Quan Âm Tống Tử vốn bắt nguồn từ tích Quan Âm Thị
Kính. Xưa kia, người miền Bắc có lẽ không ai là không thuộc các tích chèo về
Quan Âm; hễ vào dịp hội chùa, hội làng thì thể nào cũng có diễn chèo, và không
bao giờ thiếu vắng vở Quan Âm. Nếu như mùa thu thường diễn chèo Mục Liên thì
mùa xuân tháng Hai là dịp để diễn chèo Quan Âm. Ngày trước, các vãi (Phật tử) đều
thuộc lòng những bản này; vào các ngày Khánh đản như 19 tháng Hai, người ta thường
tổ chức kể hạnh, diễn kệ. Nổi bật nhất là nghi thức "chèo đò Quan
Âm": người tham dự sẽ đọc tụng trọn vẹn bản kinh Nam Hải Quan Âm Sự Tích
Diễn Ca hoặc sự tích Quan Âm Thị Kính theo lối kể hạnh; cứ dứt một câu đọc lại
xướng một câu "khoan ới hò khoan, A Di Đà Phật", cứ thế kéo dài thâu
đêm suốt sáng. Đây là nét văn hóa đặc sắc nhưng nay đã phần nào mai một, các Phật
tử ngày nay hầu như không còn thuộc các bài kể hạnh cổ. Trong khi đó, lớp người
đi trước không chỉ am tường lối kể hạnh mà còn thuộc nằm lòng các bài mời trầu,
mời nước, mừng chùa, mừng Phật hay mừng cảnh, tạo nên không khí lễ hội thắm đượm
tình người và đạo vị. Xưa kia, những người hiếm muộn thường thành tâm lễ bái Đức
Quan Âm Tống Tử để cầu tự, bởi "Tống Tử" nghĩa là ban tặng con cái. Sở
dĩ có tín ngưỡng này là dựa vào hai y cứ: Một là theo kinh Phổ Môn, người nữ
chí tâm lễ bái Quan Thế Âm cầu con trai sẽ sinh được con trai phúc đức trí tuệ,
cầu con gái sẽ sinh con gái đoan chính đẹp đẽ. Hai là dựa trên tích Quan Âm Thị
Kính: Ngài vốn là nữ giả trai xuất gia, tu hạnh nhẫn nhưng chịu nỗi oan ức phải
nuôi con người khác trong khi bản thân không có sữa, phải bế trẻ đi xin sữa
nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chính từ điển tích này mà hình thành tục
bán khoán, trong văn sớ có câu "mại dữ Đại Bi Bồ Tát, cập bản tự Thập Bát
Long Thần", ngụ ý gửi gắm đứa trẻ nhờ uy lực từ bi của Đức Quan Âm che chở,
nuôi dưỡng giống như xưa kia Ngài đã nuôi con của Thị Mầu. Việc chịu đựng nghịch
cảnh "lúc làm vợ chồng ngờ thất tiết, lúc giả trai gái đổ oan tình"
chính là phép tu đức nhẫn để thành tựu Phật đạo. Giới kinh có câu: "Nhẫn
nhục đệ nhất đạo, Phật thuyết vô vi tối, xuất gia não tha nhân, bất danh vi Sa
môn". Nhẫn nhục là hạnh tu bậc nhất; như chuyện Thị Kính, khi ấy mới chỉ
là chú tiểu Kính Tâm chưa thụ giới pháp, bị đuổi ra sống và mất ngay tại cổng
Tam quan chứ không được ở trong chùa, nhưng nhờ tu trọn vẹn đức nhẫn mà chứng
quả. Điều này cho thấy sự tu hành không phân biệt nam nữ hay giới pháp, hễ tu
được đức nhẫn ấy thì đều có thể thành Phật, thành Bồ Tát.
Tượng Quan Âm Tọa Sơn
được tạc theo tích Quan Âm Chùa Hương (liên quan đến Diệu Trang Vương), thường
được bài trí trong tư thế ngồi trên núi ở gian bên phải Tam Bảo. Chuyện kể rằng
công chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của vua Diệu Trang Vương, từ nhỏ đã một
lòng hướng Phật, quyết chí tu hành để cứu độ chúng sinh thay vì hưởng cuộc sống
vinh hoa nơi cung tẩm. Dù bị vua cha ngăn cản quyết liệt, chịu đủ mọi khổ hình
từ việc bị đày đọa ở chùa Bạch Tước cho đến khi bị xử tử, nàng vẫn giữ vững đức
tin và được thần linh cứu giúp, đưa về vùng núi Hương Tích tiếp tục tu luyện.
Khi vua cha mắc bệnh nan y không thuốc nào chữa khỏi, Diệu Thiện đã không màng
oán xưa, tự nguyện hiến dâng đôi mắt và đôi tay của mình để làm liều thuốc cứu
cha. Cảm động trước tấm lòng đại hiếu và đức hy sinh cao cả ấy, Phật đã sắc
phong nàng thành Phổ độ Từ Hàng Quán Âm bồ tát, hiện thân thành nghìn mắt nghìn
tay để quan sát và cứu giúp thế gian. Hình tượng của nàng không chỉ là biểu tượng
của Phật pháp nhiệm màu mà còn là minh chứng cho tinh thần "hạnh hiếu là hạnh
Phật", gắn liền với tín ngưỡng thờ tự tại danh thắng Chùa Hương của Việt
Nam.
Đối với tượng Quan Âm Chuẩn Đề hay Thiên Thủ Thiên Nhãn, có
một chi tiết vô cùng đặc biệt là trong mỗi lòng bàn tay đều hiện diện một con mắt.
Về mặt biểu tượng, người xưa giải thích nghìn mắt để soi thấu khắp thế gian
không bỏ sót chúng sinh nào, nghìn tay để cứu vớt tận cùng đau khổ; song theo
Quan Âm Tam Kinh, Bồ Tát không chỉ hiện 32 ứng thân mà còn có thể biến hiện
84.000 tay mắt, tương ứng với 84.000 trần lao phiền não của chúng sinh và
84.000 pháp môn tu. Ý nghĩa của biểu tượng tay – mắt thâm sâu hơn cả nằm ở triết
lý "tri hành hợp nhất": mắt tượng trưng cho kiến giải (thấy biết),
tay tượng trưng cho hành động. Phàm phu thường "thấy một đằng làm một nẻo"
nên mắt và tay tách biệt, còn Bồ Tát đạt đến chỗ "hành giải tương ứng"
– thấy biết và hành động hợp nhất làm một, nên trong tay mới có mắt. Phải tu chứng
đến cảnh giới tư tưởng và hành động không sai khác ấy thì mới có thể biến mãn
pháp giới, không nơi nào không tới, không việc gì không làm được. Thêm vào đó,
trên đỉnh đầu tượng thường có thập nhị diện (12 khuôn mặt) chia thành bốn tầng,
biểu thị cho 12 đại nguyện xuyên suốt cùng tinh thần "tam thập nhị ứng, phả
độ quần mê, thất nạn nhị cầu, đa phương ứng vật". Chiêm bái hình tượng ấy
nhân dịp khánh đản chính là cơ hội để chúng ta học theo những đức hạnh nhẫn nhục,
trí tuệ, từ bi và phương tiện thiện xảo của bậc Bồ Tát nhằm hướng đến quả vị giải
thoát trong tương lai.
0 Nhận xét