Advertisement

Nháp mục lục đề cương

Tên sách: LỄ NGHI PHẬT GIÁO HÁN TRUYỀN TRUNG QUỐC

Mục lục:

Lời nói đầu: Sự hình thành và ý nghĩa của lễ nghi Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /1

Sự ảnh hưởng của bối cảnh xã hội Trung Quốc đối với lễ nghi phật giáo và sự ảnh hưởng ngược lại của nghi lễ phật giáo đối với văn hóa Trung Quốc 

Lễ nghi phật giáo Trung Quốc trong mối quan hệ với đạo giáo 

Hai mặt hướng thượng môn và hướng hạ môn của phật giáo trong lịch trình phát triển

Phạm vi đề cập của cuốn sách và tình hình nghiên cứu trước đó 

Chương 1: Sám pháp của Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /11

Khái lược về sám hối: con người ai cũng phạm sai lầm và phương pháp sám hối là không thể thiếu trong quá trình tu dưỡng 

Tiết 1: Sự thành lập và phát triển của Sám pháp Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /14

Tiết 2: Một số loại Sám pháp thông hành thời cận thế /21

Lương Hoàng sám 

Từ bi Tam muội Thủy sám 

Quan Âm sám pháp và đại bi sám Pháp 

Dược sư sám

Địa Tạng sám

Các sám pháp liên quan đến tịnh độ Di đà

Chương 2: Hành sự thường nhật của tự viện Phật giáo Hán truyền /49

Tiết 1: Các hoạt động lễ tết trong tự viện /51

Dục Phật tiết 

Lạp bát tiết 

Vu Lan bồn hội 

Phật bồ tát thánh đàn Nhật 

Tiết 2: Hành sự thường nhật của tự viện /65

Chiêu mộ khóa tụng 

Sự hình thành khóa tụng 

Tảo khóa 

Vãn khóa 

Bố tát Tụng giới 

Quá đường 

Thượng cúng 

Phổ Phật

Chương 3: Các Pháp hội trong tự viện Phật giáo Hán truyền /95

Tiết 1: Pháp hội Độ vong và Tiến phúc (Cầu an) /98

Thủy lục pháp hội 

Diễn biến và lưu hành 

Sự phát triển của nghi quỹ 

Bố trí đàn tràng và trình tự của đàn thủy lục 

Diệm khẩu 

Khai Quang 

Phóng sinh 

Trai Thiên 

Lâm Chung tang nghi 

Tiết 2: Pháp hội Tu hành và Giảng kinh /137

Bế quan 

Niệm phật thất 

Thiền thất 

Pháp Hội giảng kinh 

Tiết 3: Pháp hội Truyền giới và Phương trượng thăng tòa /155

Truyền thụ Tam quy ngũ giới 

Quy định xuất gia và nghi thức thế độ

Tam Đàn truyền giới xuất gia 

Sơ đàn truyền thụ Sa Di giới 

Nhị đàn truyền thụ tỉ khiêu cụ túc giới 

Tam đàn truyền thụ bồ tát giới

Phương trượng Thăng tòa pháp hội (bổ nhiệm trụ trì mới)

Chương 4: Sự diễn biến và phát triển trang phục Tăng nhân Hán tộc /189

Tiết 1: Nguồn gốc và sự hình thành của Tăng y /191

Lai lịch của tam y, cách thức sử dụng và hình dạng 

Nguồn gốc chất liệu của tam y 

Thính y - trang phục mặc ngoài ba y 

Màu sắc của Tăng phục 

Tiết 2: Sự diễn biến và phát triển của Tăng phục Hán tộc /199

Sự diễn biến về màu sắc và hình thức của tam y 

Diễn biến của thường phục tăng nhân 

Giày và tất của tăng ni

Chương 5: Pháp khí của Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /207

Tiết 1: Dẫn nhập – Các chủng loại pháp khí /209

Tiết 2: Trang nghiêm cụ và Dụng cụ cúng dàng Phật /212

Chàng 

Phan 

Bảo cái 

Hương lư hương thủ lư 

Đăng chúc

Hoa và hoa bình 

Tiết 3: Pháp khí tùy thân (Huề hành khí) /229

Bát 

Niệm Châu 

Phất trần 

Tích trượng trụ trượng

Như ý 

Dương chi xỉ mộc 

Đãy lọc nước 

Giới đao 

Tiết 4: Phạn bối và pháp khí liên quan của Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /247

Chuông 

Trống 

Khánh, dẫn 

Mộc ngư 

Đương, nạo bạt 

Bảng 

Linh, chử

Chương 6: Lễ nghi sinh hoạt thường nhật của tín đồ Phật giáo Hán truyền Trung Quốc /269

Tiết 1: Các xưng hô trong Phật giáo Hán truyền /271

Xưng hô của Thất chúng đệ tử 

Xưng hô của chế độ Tùng Lâm 

Một số điểm về xưng hô 

Vận dụng thực tế vào xưng hô của Phật giáo 


Tiết 2: Lễ nghi lễ kính Tam Bảo /289

Tiết 3: Uy nghi đi đứng nằm ngồi (Tứ uy nghi) /293

Kết ngữ /297

Tài liệu tham khảo /301

Hậu ký 1 /310

Hậu ký 2 /312



Tình hình nghiên cứu: 

Rất tiếc cho đến hiện nay thì bản thân người viết cũng chưa gặp được một tác phẩm nào ở Việt Nam hoặc nói về nghi lễ phật giáo ở Việt Nam một cách toàn diện. Có thể vấn đề lý luận nghi lễ chưa được quan tâm đúng mức so với việc thực hành nghi lễ. Hoặc giả đã có người viết sách nhưng chưa phổ biến hay chưa gây được ảnh hưởng rộng rãi trong cộng đồng.

Các sách biên soạn về nghi lễ ở Việt Nam chủ yếu do tăng sĩ viết, cũng có khi là do cư sĩ biên soạn. 

Việc biên soạn nội dung các sách chủ yếu diễn ra trên các hướng sau:

Biên tập khóa lễ Nhật Tụng, nghi thức thường dùng của Phật tử tại gia: trong tính đa dạng của Phật giáo Việt Nam, các bản nhật tụng xuất hiện đa dạng là điều tất yếu. Tuy nhiên với xu hướng việc dịch từ các bản nhật tụng chữ hán cổ thành tiếng Việt đã dẫn đến một hệ quả khá phiền tạp: nhà nhà đua nhau cùng dịch Nhật Tụng, chỉ riêng bản nhật dụng của tổ Bồ đề Nguyên biểu, cũng có vài bản dịch khác nhau, với cách dịch, độ sát nghĩa, cách hành văn, rồi thêm bớt trong phần tụng niệm khác nhau, ... Điều này rất khó cho việc tu học của cư sĩ. Đến chùa này thì tụng bộ này, đến chùa kia lại tung bộ kia. Trong bối cảnh đó thì sự ra đời của cuốn kinh chú thường tụng của phân viện nghiên cứu phật học miền Bắc đã có vai trò lớn trong việc thống nhất cách thức tụng niệm cho Phật tử tại gia miền Bắc. Hiện nay đa phần các chùa miền Bắc vẫn tụng theo bộ này, rất thuận lợi cho việc cộng tu của các phật tử ở các nơi khác nhau. Tuy nhiên với sự hưng khởi của Tịnh tông học hội kèm theo việc truyền bá các bộ kinh do hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch ra miền Bắc, đề cao bản kinh vô lượng thọ của cư sĩ Hạ Liên cư hội tập so với bản dịch của ngài Khang Tăng Khải, ... Khiến tác dụng của bản kinh thống nhất bị giảm sút. Tình trạng phiền tạp tái diễn khá nặng nề.

Biên soạn, Ảnh ấn, phiên âm, Việt dịch, tái soạn các khoa cúng cổ: các trung tâm tổ chức như thư viện Huệ Quang, trung tâm tư liệu Phật giáo Việt Nam, ... Đã có nhiều công sức trong việc thu thập các bạn Hán nôm và tái bản dưới dạng sách phỏng cổ. Trung tâm tư liệu Phật giáo Việt Nam cũng cho in nhiều tác phẩm của Thượng tọa Thích Tiến Đạt phiên âm, dịch nghĩa về nghi lễ như: Diên Quang Tam muội tạo tượng nghi quỹ, các khoa cúng tổ, ... tác phẩm Thủy lục chư khoa Việt dịch của cư sĩ Quảng Minh, bộ công văn sớ Điệp 4 tập của ... cũng là một điểm sáng nổi bật trong việc không chỉ đơn thuần phiên âm lại khoa hán cổ, mà còn Việt dịch khoa nghi từ văn ngôn Hán sang dùng Văn Chương tiếng Việt 

Định bản các nghi thức thiền môn và các nghi lễ có liên quan: tiêu biểu là các sách của Phật giáo miền Trung và miền Nam, chủ yếu định bản lại các nghi thức mang tính chất tương đối tân thời cận đại trong thiền môn như: nghi lễ giao thừa, nghi lễ tắm Phật, nghi thức nhập quan, ... Tiêu biểu cho xu hướng này có các sách lễ nghi của hòa thượng Thích Hoàn thông, ...

Trình bày về uy nghi phép tắc của đệ tử Phật: tiêu biểu là hai cuốn những điều cơ bản cho người mới xuất gia và phép tắc Phật tử tại gia của Thượng tọa Thích Tiến Đạt biên soạn.

Bản thân người viết cũng đã biên soạn bộ sách bốn cuốn mang tên Tam giáo chính tông tâm nang bàn về lễ nghi Tam giáo trong đó có lễ nghi về Phật giáo. Tuy nhiên cuốn sách này này nếu đem ra xuất bản thì vẫn chưa phù hợp để phục vụ đối tượng là hành giả phật giáo vì nhiều lý do. Thứ nhất là dung lượng quá lớn, một bộ bốn tập khoảng 1200 Trang a4 tiêu chuẩn. Thứ hai là nội dung đề cập đến toàn bộ lễ nghi của tam giáo chứ không riêng Phật giáo, đặc biệt có cuốn số 2 tập trung vào nghi thức truyền độ và các mật pháp của phái chính nhất thần tiêu; trong cuốn số 3 tập trung về các lễ nghi cúng bái liên quan đến 2 bộ sách chính của Phật giáo miền Bắc là: thủy lục chư khoa, tạp tiếu chư khoa, và các bộ công văn tâm nang, Tâm nang diệu ngữ, tạp tiếu công văn đi kèm. Tuy nhiên trong cuốn 3 còn nhiều bài viết về lễ nghi Tứ phủ, trai tiếu của Đạo giáo Trung Quốc, ... 

Một cuốn sách vô cùng quý báu và rất đáng lưu tâm đó là cuốn Trung Quốc Hán truyền Phật giáo lễ nghi của tác giả Thánh Khải. Công tâm mà nói thì cuốn sách vẫn còn một số hạn chế. Tác giả đề cập đến nhiều Nội dung rất hay nhưng do dung lượng cuốn sách nên chưa thể đi sâu đề cập phân tích được. Sách thiên về trình bày phân tích, thiếu động tác so sánh đối chiếu, khảo cứu nguồn gốc, cơ sở xã hội, ... Chưa lượng hóa được ảnh hưởng của các nghi lễ đối với xã hội, ... Nên nhiều nhận xét còn vu khoát, chung chung. Ví dụ như phân tích rất rõ tác dụng của sám hối đối với người tu hành. Tuy nhiên lại không đối chiếu giữa Phật giáo hán truyền và Phật giáo Nam truyền, nên không làm rõ được tính đặc thù là phật giáo hán truyền rất chú trọng vào sám hối và có rất nhiều sám pháp khác nhau, trong khi đó nội dung sám hối của Nam truyền thì khá là nghèo nàn, và gần như không hình thành một Pháp môn tu tập. Nhận định về ảnh hưởng giao lưu giữa đạo giáo và phật giáo chưa rõ ràng, còn nhầm lẫn giữa việc ảnh hưởng của đạo giáo và ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với phật giáo lễ nghi. Tuy nhiên tác phẩm đã làm được một số nội dung rất đáng trân trọng. Tác giả đã bỏ công sức khảo cứu tương đối tỉ mỉ có dẫn chứng sách vở cổ kim rõ ràng tương đối chuyên nghiệp và mang tính học thuật cao. Nội hàm lễ nghi ở trong sách rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động đã được hình thức hóa thể chế hóa trong tăng đoàn, tự viện, ... chứ không chỉ là nghi lễ cúng bái. Đây là một điểm hết sức đáng quý báu về mặt lý luận của cuốn sách. Cuốn sách cũng đã hình thành hệ thống đề cương tương đối tốt và khá toàn diện thể hiện đầy đủ các mặt của lễ nghi Phật giáo. Tác giả cũng đưa vào đề cương những đề mục mang tính chất đặc sắc của sự nghiệp nghiên cứu học thuật của chính bản thân tác giả (mà đặc trưng là việc đưa sám pháp thành một chương riêng, vì tác giả đã có nhiều luận văn trong quá trình học tập về các sám văn của phật giáo Trung Quốc). Đây quả thực là những gợi ý thiết thực để hàng hậu bối có thể theo đó trình bày về lễ nghi Phật giáo, và quả thực cách trình bày của tác giả Thánh Khải cũng ảnh hưởng khá nhiều đến việc trình bày về lễ nghi Phật giáo Bắc Bộ của người viết. Tuy nhiên, như đã nói, mỗi thực thể có một quy luật vận động, có những đặc điểm những nét đặc sắc riêng của chính nó mang tính chất Không lặp lại. Nội dung của lễ nghi của phật giáo Trung Quốc, của phật giáo Việt Nam và của Phật giáo miền Bắc đều tuân theo những nội dung cơ bản của lễ nghi Phật giáo nói chung. Tuy nhiên nếu chỉ dựa trên đề cương về lễ nghi Phật giáo nói chung, hoặc trên nội dung của phật giáo Trung Quốc, từ đó trình bày thì không thể nào lột tả được hết những đặc sắc của lễ nghi phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo miền Bắc nói riêng. Vì vậy trên cơ sở đại cương của tác giả thánh Khải, người viết đã chủ động sắp xếp lại, bổ sung, thay thế các nội dung phù hợp với việc thực hiện Trình bày những đặc sắc của Phật giáo Bắc Bộ. 

Trong quá trình viết, bản thân tôi được sự giúp đỡ rất nhiều của các bậc cao tăng thạc Đức, các bậc thiện Hữu Tri Thức. 

Xin thành kính cảm ơn Thượng tọa Thích Tiến Đạt đã từ bi lân mẫn giúp đỡ. Bản thân là con trong quá trình công tác trong ban truyền thông của chùa Đại Từ Ân - chùa Phúc Ân, biên tập các pháp thoại của thượng tọa, cũng rút ra được rất nhiều yếu nghĩa, thu thập được rất nhiều tài liệu về nghi lễ thiền môn. Nhiều nội dung phật sự đương đại, các buổi lễ tại chùa, ... Được đưa vào trong sách đều lấy từ nguyên mẫu thực tế do Thượng tọa dẫn chúng thi hành.

Xin thành kính cảm ơn sự giúp đỡ của đại đức thích quảng thuyết - môn nhân của sơn môn Gia Xuyên, môn phái, tổ đình Đống Cao, người có nhiều năm hành trì khoa nhi ứng phó đạo tràng trong thiền môn cũng như trong giới tứ phủ, đáp ứng nhu cầu tâm linh của quần chúng nhân dân. Xin cảm ơn đại đức đã giúp đỡ con về nhiều yếu nghĩa trong nghi lễ hành trì, các văn bản hành chính của giáo hội, các hình ảnh nghi lễ được đưa vào trong sách. 

Trong quá trình viết sách, nếu có gì hay ho bổ ích đều là công đức của chư Phật gia trì, của sư tổ sư đại đức viết sách, truyền dạy, Sư trưởng, phụ mẫu giáo hóa, Thiện Hữu Tri Thức chỉ điểm; nếu có gì thiếu sót thì đó là do người viết phúc mỏng nghiệp dày, Tuệ căn thiếu khuyết, xin được tạ lỗi với tất cả độc giả! Cuốn sách này được viết ra có công đức nào, xin được hồi hướng về Vô Thượng Bồ đề, Trang Nghiêm tịnh độ, phổ nguyện chúng sinh, tình với vô tình đều thành Phật đạo. 

Nam mô bản Sư Thích Ca mâu Ni Phật tác Đại chứng minh! 

Nam mô Tây Thiên đông độ Nam Việt Bắc Hà lịch Đại chư vị tổ sư chân nhân Bồ tát tác Đại chứng minh!


1.1.1. Phật giáo và văn hóa Việt Nam

Theo như ngũ phần luật ghi chép lại, Phật đã truyền lại nguyên tắc cho các tăng sĩ khi đi truyền giáo đến các Quốc độ khác nhau: ​"Tuy thị ngã sở chế, nhi ư dư phương bất tưởng thanh tịnh giả, giai bất ứng dụng. Tuy phi ngã sở chế, nhi dư phương tất ứng hành giả, giai bất đắc bất hành." (Điều Ta đã chế ra: Nhưng ở phương khác (quốc độ khác) cho là không thanh tịnh (không phù hợp, không tốt) thì không nên làm. Điều Ta không chế ra: Nhưng ở phương khác cho là thanh tịnh (là điều tốt, cần thiết, đúng đắn) thì không thể không làm.), hay diễn đạt như ngôn ngữ của các nước Đông độ là: tùy Phương thiết giáo. Quả thật tăng ni phật giáo đã thực hiện tốt nguyên tắc này trong quá trình Phật giáo Đông truyền nói chung cũng như Phật giáo truyền đến Việt Nam nói riêng. Phật giáo gần như là tôn giáo duy nhất truyền vào Việt Nam bằng con đường hòa bình không thông qua chiến tranh đô hộ cưỡng ép dụ dỗ mua chuộc. Phật giáo truyền vào Việt Nam đã kết hợp với văn hóa bản địa tạo thành Phật giáo Việt Nam mang đặc sắc khác biệt với ngay cả phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Ấn Độ. Nội bộ trong ba miền Phật giáo Việt Nam, thậm chí nội trong phạm vi Phật giáo Bắc Bộ cũng có nhiều vùng Phật giáo mang màu sắc khác nhau. Nói cách khác, Tuy Phật giáo là một tôn giáo ngoại truyền, nhưng văn hóa bản địa Việt Nam đã lựa chọn, tiếp thu, dung hợp Phật giáo để tạo thành một tôn giáo mang tính dân tộc sâu sắc. Trong tác phẩm Trung Quốc Hán truyền Phật giáo lễ nghi tác giả thánh Khải cho rằng Trung Quốc là một lễ nghi chi bang cho nên Trung Quốc đã lấy tiêu chuẩn lễ của nho giáo làm tiêu chuẩn để hấp thu và Hán Hóa Phật giáo. Vậy dân tộc Việt Nam đã lấy tiêu chuẩn gì để Việt hóa Phật giáo? Việt Nam có nền văn hóa lâu đời. Lịch sử Việt Nam tồn tại trong trạng thái luôn luôn phải đấu tranh với các thế lực xâm lược phương Bắc. Trong bối cảnh ấy đối trọng lại với nền văn hóa phương Bắc, trong chế độ phong kiến, Việt Nam cũng tự xưng là văn hiến chi bang. Tức là trên khía cạnh nào đó thì Việt Nam cũng lấy tiêu chuẩn lễ để lựa chọn và tiếp thu văn hóa lễ nghi tư tưởng Phật giáo. Tuy nhiên nói như thế có phần vu khoát. Như đã trình bày, chu lễ là một trong những trụ cột văn hóa Hán, là nhân tố thống nhất nền văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên chính danh mà nói thì Chu lễ không phải là sản phẩm mang tính đại diện của dân tộc Việt Nam. Phật giáo đã truyền vào Việt Nam trước khi Nho giáo đặt chân đến đất Giao Châu. Như vậy, Tuy không phủ nhận nhưng không thể nói là Việt Nam cũng sử dụng tiêu chuẩn Chu lễ làm hệ quy chiếu trong việc Việt hóa Phật giáo được. Theo như ý kiến của Thượng tọa Thích Tiến Đạt, nền văn hóa Việt Nam có ba trụ cột là hiếu đạo sư đạo và vương đạo. Có thể coi đây là bộ giá trị văn hóa dùng để sàng lọc tinh yếu của đạo Phật trong quá trình Việt hóa. Những yếu tố Phật giáo được hấp thu phải phù hợp với tinh thần hiếu đạo, đạo lý coi trọng cội nguồn của dân tộc Việt Nam; phù hợp với tinh thần hướng thượng ham học, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của người dân Việt Nam; phù hợp với nhu cầu ổn định chính trị bảo đảm an ninh quốc gia của dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam quy y Phật, nhưng vẫn thờ cúng các vị thần có công bảo vệ quê hương đất nước, thờ cúng tổ tiên và gia thần Nghiêm cẩn. Nhân dân Việt Nam đưa bàn thờ Phật vào không gian gia đình, thờ cúng cùng tổ tiên, hoặc đưa tổ tiên lên thờ trên chùa. Nghi thức Vu Lan của phật giáo Việt Nam Xuất hiện nghi thức Bông Hồng cài áo, khác biệt hẳn so với các nước cùng thực hiện nghi lễ này. mặt khác nghi lễ này đã biến đổi tư duy trong việc thực hiện báo hiếu của ngày Vu Lan, ngày vu lan không chỉ còn là ngày báo hiếu cha mẹ đã khuất phổ độ gia tiên xá tội vong nhân mà còn là ngày ghi nhớ công ơn và báo hiếu đối với những bậc Sinh Thành còn đang tại thế. Một trong những ví dụ thời hiện đại về việc Việt Nam đã Việt Nam hóa Phật giáo trên cơ sở tiêu chuẩn văn hóa Việt Nam đó chính là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo thế giới có một giáo hội lấy tiêu ngữ của mình là: đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội. Điều đó chứng tỏ phật giáo Việt Nam lấy đạo pháp làm tiêu chuẩn phấn đấu tối cao của mình, nhưng bên cạnh đó cũng phấn đấu vì nền độc lập dân tộc, vì tiến bộ xã hội của đất nước và nhân loại với các giá trị là: Hòa Bình, độc lập tự do, dân chủ - Công Bằng, tiến bộ xã hội. Việc Việt Nam hóa Phật giáo còn thể hiện ở chỗ Phật giáo đã chuyển mình để đáp ứng những nhu cầu mang tính chất rất đời thường của nhân dân Việt Nam. Việt Nam là nước nông nghiệp coi trọng cầu mưa cầu mát, vì vậy nước ta trong bầu không khí cởi mở của các biểu tượng Phật giáo Đại thừa đã Phật giáo hóa hệ thống các tự nhiên thần của mình tạo ra hình tượng Tứ Pháp nổi tiếng và độc đáo: Pháp Vân pháp Vũ pháp lôi pháp điện và cả pháp Phong. Các bà mang tên rất dân dã như bà dâu bà đậu bà nành Bà đá Bà đanh, ... Đức Quan Âm ở Việt Nam có hai đạo tràng là núi Phổ Đà Bắc Giang và núi Hương Tích Hà Nội. Các chùa Việt Nam đặc biệt là các chùa miền Bắc có tục quy y cho trẻ em mang tên dân dã là bán khoán, tức làm khế ước bán con cho đức Quan Âm, hay Đức ông Hộ Pháp, ... 

Song song với việc dân tộc ta đã Việt hóa Phật giáo, thì Phật giáo cũng giáo hóa dân tộc Việt Nam, đem lại cho dân tộc ta những giá trị vật chất và tinh thần mang tính đặc sắc, tiến bộ vượt thời đại. Nói không ngoa rằng Phật giáo là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Việt từ thuở khởi nguyên. Ông bụt đã đi sâu vào các câu chuyện cổ tích của nhân dân Việt Nam như một bậc cứu khổ cứu nạn. Ngay từ các truyền thuyết thời kỳ sơ sử, Phật giáo đã có mặt tại Việt Nam. Trong câu chuyện bãi Tự Nhiên, dưới thời vua Hùng, Chử Đồng Tử và vợ đã đi học đạo từ một thuật sĩ tên là “Phật Quang”, cầm gậy quảy nón du phương không khác gì hình ảnh của Tổ Đạt ma. Hai Bà Trưng được tôn xưng là "Nam Triều Thánh Tổ Quảng Giáo Viên Minh Nhị Vị Thạch Trưng Vương Phật". Nước ta là một nước có tục thắp hương từ rất sớm. Tương truyền từ khi Trung Quốc chưa có thói quen sử dụng Hương thì quan thái thú giao chỉ là sĩ nhiếp đã thường xuyên đốt hương khi ra ngoài tuần du. Người đốt Hương đi cạnh Thái thú sĩ nhiếp không ai khác chính là các hồ tăng. Văn hóa trai Nhật rằm mùng một đã ăn sâu vào văn hóa Việt Nam. Dù không phải là phật tử nhưng mọi người vẫn thắp hương, ăn chay kiêng sát sinh cúng lễ vào ngày rằm và ngày mùng 1. Lễ phật đản là một trong những dịp lễ Tết đặc trưng của Phật giáo, một thời kỳ đã ở trong danh sách quốc lễ của Việt Nam. Nhà có tang miền Bắc tục gọi là "vận áo xám", chữ xám này ở đây chính xác là chữ sám trong sám hối, vì gia chủ phải đại vì vong linh sám hối ăn chay. (Tương tự như trong dân ca nghi lễ có xuất xám nhập xám, ...). Trong không gian tam giáo mà Phật giáo là thượng thủ, Phật giáo đã cải biến tín ngưỡng shaman giáo trong tín ngưỡng thờ mẫu tam tứ phủ thành một tín ngưỡng tương đối gần với tín ngưỡng thần tiên, tu nhân tích đức và hành Bồ tát đạo của đạo giáo và phật giáo, mẫu sau khi quy y Phật còn trở thành vị thần bảo hộ cho người kinh doanh và nho sĩ đảm bảo sự ổn định trong xã hội Nho giáo. Tinh thần từ bi hỷ xả, bình đẳng, nhân quả báo ứng, ở hiền gặp lành, nhất thiết duy tâm, ... Của Phật giáo mà đặc biệt là Phật giáo Đại thừa đã ăn sâu vào lịch sử tư tưởng Việt Nam. Dấu ấn của tư tưởng Phật giáo còn để lại rõ nét trong các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam Như: thơ văn mà đặc biệt là thơ thiền và thơ của các thiền sư thời Lý Trần, văn tế thập loại cô hồn, truyện Kiều của Nguyễn du, ... Thậm chí ảnh hưởng đến cả một số tác giả hiện đại trong phong trào thơ mới, và nhiều trào lưu văn học hiện đại cho đến mãi ngày nay.

Bổ sung về tính kiêm nhiệm của tăng ni

1.1.2. Lễ nghi Phật giáo trong mối quan hệ với các tôn giáo bản địa 

Những tôn giáo bản địa ở khu vực văn hóa hoa hạ và các nước Đồng Văn trong đó có Việt Nam là: Nho giáo và Đạo giáo
Những tôn giáo tạm thời có thể coi là bản địa ở Việt Nam là: Đạo giáo chính nhất phù thủy Bắc Bộ, tín ngưỡng đàn thiện và các hình thức giáng bút, tín ngưỡng thờ mẫu tam tứ phủ, tín ngưỡng Trần Triều, Sơn Trang và các tín ngưỡng miền núi và một số hình thức phù chú, shaman giáo khác, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, gia thần, thờ cúng tổ nghề, tín ngưỡng thờ thánh Việt Nam, ... Về sau còn có một số tôn giáo nội sinh như Đạo Cao đài, tứ ân hiếu Nghĩa Bửu sơn kỳ hương, ... 
Như trên đã nói thì ở Việt Nam không khí giữa các tôn giáo ít căng thẳng hơn là ở Trung Quốc. Mối quan hệ Phật đạo, nho Phật ở Việt Nam không phải lúc nào cũng trong trạng thái xung đột kịch liệt. Vì vậy xu hướng hội nhập tiếp thu càng diễn ra nhanh chóng và sâu sắc. 
Phật giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng cũng như nghi lễ của các tôn giáo bản địa ở Việt Nam. 
Mặt khác các tôn giáo bản địa ở Việt Nam cũng có sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn thể hiện tư tưởng cũng như các hình thức nghi lễ của Phật giáo Việt Nam. 
Phong tục dân gian là nơi bảo tồn nghị sự kết hợp lễ nghi giữa phật giáo và các tôn giáo bản địa một cách sâu sắc nhất.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét