Advertisement

Vài câu chuyện trong Lục độ tập kinh

Câu chuyện nội dung tương đồng với chuyện cổ tích Triều Tiên/ Hàn Quốc: Tiền thân của Đức Phật là một vị trưởng giả nhân từ, đã chi một trăm vạn tiền để cứu mạng một con ba ba sắp bị làm thịt rồi đem thả về sông. Để báo ơn, đêm nọ ba ba đến báo trước cho ông về nạn hồng thủy sắp tới, giúp ông kịp thời tâu vua dời dân lên vùng cao lánh nạn. Khi lụt lớn xảy ra, ông ngồi thuyền theo sau ba ba để lánh nạn thì lần lượt gặp một con rắn, một con cáo và một người đàn ông đang chới với giữa dòng nước dữ. Bất chấp lời cảnh báo của ba ba về lòng người dối trá, vị Lý gia vẫn ra tay cứu vớt cả ba. Sự thật diễn ra đúng như dự đoán: trong khi con cáo đền ơn bằng cách dẫn ông đến kho vàng vô chủ để lấy tiền cứu dân nghèo, thì người đàn ông được cứu lại nảy lòng tham, vu khống ông đào mả cướp vàng khiến ông bị tống giam. Trong cảnh nguy biến, con rắn đã trả ơn bằng cách dâng thuốc quý và dùng mưu kế cắn thái tử để ông có cơ hội dâng thuốc cứu sống hoàng tử. Nhờ sự hỗ trợ của loài vật, vị Lý gia được minh oan, kẻ phản bội bị trừng trị, còn ông được vua tin cẩn phong làm tướng quốc và truyền bá giáo pháp để ban phúc cho muôn dân.

Câu chuyện về tướng cướp Angulimāla (A quần): Trong Lục độ tập kinh, kinh số 41 có ghi được lại nhiều câu chuyện xung quanh tướng cướp A quần, dài và chi tiết hơn so với kinh Trung bộ

1. Tiền kiếp: Vị vua ăn thịt người và ác nguyện tế thần
Thuở xưa, có một vị vua láng giềng của Vua Phổ Minh (tiền thân Đức Phật) bị đắm say hương vị thịt người. Khi hành động tàn ác bị bại lộ, quần thần đuổi vua vào rừng. Trong cơn phẫn nộ, kẻ bị trục xuất này (tên là A Quần) thề với thần cây sẽ bắt 100 vị vua để tế lễ nếu giúp hắn phục quốc.

Hắn dùng sức mạnh hung bạo bắt được 99 vị vua. Vị cuối cùng là Vua Phổ Minh. Vì giữ chữ tín, vua Phổ Minh xin về nghe pháp rồi quay lại nộp mình. Chính thái độ an nhiên trước cái chết và lòng từ bi của vua Phổ Minh đã cảm hóa A Quần lần thứ nhất, khiến hắn thả tự do cho 100 vị vua và đi tu hành.

2. Nghiệp báo trung gian: Thái tử bị 99 người gõ đầu
Sau khi chết, A Quần đầu thai làm Vương thái tử nhưng tính tình phóng đãng. Vua cha tức giận sai quân phơi thân thái tử ở ngã tư đường và ra lệnh: Ai đi ngang qua cũng phải dùng ngón tay gõ vào đầu thái tử một cái. Đúng 99 người đi qua gõ đầu thì thái tử chết. Đức Phật giải thích: 99 người này chính là 99 vị vua bị ông bắt giữ kiếp trước; họ gõ đầu là để trả mối nhục cũ. Người thứ 100 định gõ nhưng thấy người đã chết nên khởi lòng thương, người đó chính là mẹ của A Quần ở kiếp sau.

3. Hiện kiếp: Yêu tặc chặt ngón tay (Tương tự câu chuyện về Ương-quật-ma-la trong kinh Trung A hàm/ Trung bộ)
Đến thời Đức Phật tại thế, A Quần sinh ra trong một gia đình Phạm chí, tính chân thật, hiền lành, sức mạnh địch cả voi. Do bị vợ của thầy quyến rũ không thành rồi đặt điều hãm hại, người thầy đã lừa A Quần rằng: Nếu muốn thành Tiên, phải giết 100 người và lấy 100 ngón tay làm vòng cổ.

A Quần cuồng loạn giết được 99 người, khiến cả nước chấn động. Khi định giết chính mẹ ruột để đủ số, Đức Phật xuất hiện. Ngài dùng thần lực khiến ông đuổi theo mãi không kịp và thức tỉnh ông bằng câu nói: "Ta các việc ác đều dừng, còn ngươi thì các việc ác đều bừng lên". A Quần bừng tỉnh, sám hối và thụ giới làm tỉ khiêu.

4. Đắc đạo và Bài pháp tại Nhà xí
Sau khi chứng quả A-la-hán, ngài A Quần được nhà vua thỉnh mời cúng dàng. Ngài yêu cầu dọn tiệc tại nhà xí thay vì cung điện. Nhà vua cho sửa sang nhà xí sạch sẽ, tô điểm bằng gỗ đàn hương và lụa là. Tại đây, ngài dạy bài pháp bất hủ: Ngài ví tâm hồn tà kiến, độc ác của mình trước đây hôi thối hơn cả nhà xí. Phân dơ dễ rửa, cấu uế của tâm thì khó trừ. Chỉ có hương thơm đức hạnh và sự giáo hóa của Phật mới biến "nhà xí" (tâm ác) thành "chiên đàn" (tâm thánh).

5. Phép màu lòng Từ và Sự viên mãn
Ngài dùng năng lượng từ bi sau khi đắc đạo để cứu một sản phụ sinh ngược được "mẹ tròn con vuông" bằng lời thệ nguyện về lòng thương xót chúng sinh (tương tự kinh Trung bộ).

Câu chuyện "trí khôn của ta đây": Kinh số 36 

Lần hồi trong cõi sinh tử, một kiếp kia, người anh làm con vượn, công chúa và người em làm một cặp vợ chồng ba ba. Một hôm ba ba vợ bệnh, thèm ăn gan vượn. Con đực đi tìm, thấy vượn xuống uống nước, bèn nói: -Người đã từng nghe nhạc chưa? Đáp: -Chưa! Ba ba nói: -Nhà ta cổ nhạc hay, ngươi muốn nghe không? Đáp: -Muốn chứ. Ba ba nói: -Ngươi lên lưng ta, ta đưa ngươi về nghe. Vượn lên lưng ba ba, đi theo được nửa dòng suối, ba ba nói: -Vợ ta thèm ăn gan ngươi, chứ trong suối làm gì có nhạc. Lòng vượn có chút thẹn, nghĩ: “Phàm giới là đạo thường để giữ điều lành, quyền biến là việc lớn để cứu nạn.” Bèn nói: -Ấy! Sao ngươi không nói sớm, ta đã đem gan treo lên cây kia rồi. Ba ba tin thật, quay lại chỗ cây. Vượn nhảy lên bờ, nói: -Đồ ba ba chết tiệt! Há có chuyện gan ở trong bụng mà lại đem treo ở trên cây sao? 

Câu chuyện "vàng trong dân": Kinh số 68

Thuở xưa, có Bồ tát làm con một người mẹ góa, sớm tìm đến chùa, bỏ tà, chuộng chân, đỉnh lễ Sa môn, thụ nhận sự thần hóa của Đức Phật, sáng học hỏi, chiều lo tu tập. Lúc bấy giờ, quốc vương vô đạo, vì lo sợ cái chết nên ra lệnh vơ vét toàn bộ vàng bạc của dân để hối lộ cho vua ngục Thái Sơn. Thấy dân chúng lầm than, đứa bé thưa với mẹ lấy đồng tiền vàng vốn đặt trong miệng cha khi mất từ mười một năm trước để dâng vua. Khi bị tra hỏi, đứa bé dũng cảm giảng giải: khi mạng chung Bốn đại tan lìa, hồn linh biến hóa theo nghiệp, vàng bạc không thể hối lộ được quỷ thần. Ngài khẳng định họa phúc theo người như bóng với hình. Nhà vua tỉnh ngộ, trả lại vàng cho dân và đại xá thiên hạ. Đức Thế Tôn bảo các vị Tỉ khiêu: đứa bé ấy chính là thân Ta.

Câu chuyện "nhà ngài báo": Kinh số 81- Đức Phật tự kể: -Khi Ta còn làm Bồ-tát tên là Thường Bi. Bồ-tát Thường Bi thường vừa đi vừa rơi nước mắt. Đời bấy giờ không có Phật, kinh điển đều mất hết, không gặp được chúng Sa-môn Hiền thánh, mà Bồ-tát thường ao ước được thấy Phật, nghe diệu chỉ của kinh điển. Đời khi ấy uế trược, quay lưng với chánh, theo tà, ưa dối ham lợi, như loài thiêu thân thích lửa. Đâu biết Tứ đẳng tâm, Sáu độ làm cho nhà cửa an lành mãi, mà đời thì bỏ pháp ấy của Phật, chuốc lấy tai họa hiểm nguy kia để tự phá tan nát mình. Vì thế Bồ-tát mới buồn bã vừa đi vừa khóc. Thuở xưa có Đức Phật hiệu Ảnh Pháp Vô Uế Như Lai Vương, diệt độ đã lâu, nên kinh pháp đều mất hết. Bồ-tát Thường Bi nằm mơ thấy Đức Phật ấy vì mình mà nói pháp

Câu chuyện tiền kiếp Phật Định Quang thụ ký cho Nho Đồng Bồ tát thành Phật: Kinh 86

Thuở xưa, Bồ tát sinh ở nước Bát Ma, làm Phạm chí tên là Nho Đồng. Ngài là bậc trí tuệ cao minh, thông hiểu thiên văn và sấm ký. Vì lòng hiếu thảo, Ngài đi làm thuê lo thuốc thang cho mẹ và dùng tài biện luận thắng năm trăm Phạm chí để lấy tiền báo đáp ơn thầy. Tại đây, có một người con gái ngưỡng mộ đức độ của Ngài nên đã lần theo dấu vết, sau đó được vua Chế Thắng nhận làm con nuôi và giao việc hái hoa dâng vua. Khi biết tin Định Quang Như Lai sắp đến giáo hóa, Nho Đồng lặng lẽ nhập định và thấy Đức Phật đang đến. Trên đường, Ngài gặp lại cô gái năm xưa và xin năm cành hoa để cúng dàng. Thấy dân chúng đang sửa đường đón Phật, Nho Đồng xin lo một đoạn khe nước chảy xiết; Ngài dùng sức mình lấp khe, rồi cởi áo da nai trải lên bùn, lấy tóc trải đất cho Đức Phật bước qua và tung hoa cúng dàng. Đức Thế Tôn bèn thụ ký rằng: sau chín mươi mốt kiếp, Ngài sẽ thành Phật hiệu là Năng Nhân Như Lai (tức Thích Ca Văn Phật Như Lai). Cùng lúc đó, một đứa trẻ tên là Hiền Càn đã xếp củi dựng chùa ngay tại nơi thụ ký. Đức Phật khen ngợi trí tuệ của đứa trẻ và thụ ký sau này cũng sẽ thành Phật hiệu là Khoái Kiên. Đức Thế Tôn cho biết: Nho Đồng là thân Ta, cô gái bán hoa là Câu Di, và Hiền CànPhi La Dư.

Câu chuyện thầy bói xem voi: Kinh 89

Một thời, Đức Phật ở tại nước Xá Vệ. Các vị Tỉ khiêu khi đi khất thực đã chứng kiến cảnh các Phạm chí ngoại đạo tranh cãi gay gắt về giáo pháp, ai cũng tự cho mình đúng và bài bác người khác. Đức Thế Tôn bèn kể lại câu chuyện tiền thân để giáo hóa. Thuở quá khứ xa xưa, tại cõi Diêm Phù Đề, có vị vua tên là Kính Diện (tiền thân của Đức Phật). Ngài là bậc trí tuệ, thông suốt kinh điển nhưng dân chúng lại mê lầm, tin theo tà thuyết. Để thức tỉnh họ, vua ra lệnh tập hợp tất cả những người mù bẩm sinh trong nước và cho họ đi xem voi. Mỗi người mù chỉ sờ được một bộ phận của con voi: người sờ chân bảo voi giống thùng sơn, người sờ đuôi bảo giống chổi quét rác, người sờ bụng bảo giống cái trống, người sờ tai bảo giống cái nia,... Đứng trước vua, họ tranh cãi om sòm, ai cũng khăng khăng cái thấy cục bộ của mình là toàn thể con voi. Vua Kính Diện cười và dạy rằng: những kẻ không hiểu kinh Phật cũng giống như bọn người mù kia, chỉ thấy một phần mà đã vội oán ghét, bài bác lẫn nhau. Nhờ sự giáo hóa ấy, cả nước đều quay về đọc tụng kinh Phật. Đức Thế Tôn khẳng định: vua Kính Diện là thân Ta, còn những người mù chính là đám Phạm chí vô trí đang tranh cãi ngoài kia.

Câu chuyện người nữ bỏ thân, chuyển thành nam để nhận thụ ký giống trong kinh Pháp Hoa: Kinh số 73

Thuở xưa, Bồ tát thân làm người nữ, sớm góa bụa, thủ tiết, quy y Tam Bảo, sống đời nghèo khó nhưng tinh tấn tu hành, lấy việc bán dầu làm nghề nghiệp. Bấy giờ, có một vị Sa môn già, giới đức cao dày nhưng ít học, hàng ngày đi xin dầu mè để cúng dàng trước Đức Phật. Người mẹ góa biết rõ sự tình, hàng ngày đều đem dầu dâng lên đầy đủ. Khi nghe Đức Thế Tôn thụ ký cho vị Tỉ khiêu già sau này sẽ thành Như Lai, người đàn bà bèn đến đỉnh lễ cầu xin được thụ ký. Đức Phật dạy rằng thân nữ ô uế không thể đắc những ngôi vị tôn quý vòi vọi, muốn thành tựu phải chuyển thành thân nam thanh tịnh. Người đàn bà liền về tắm gội sạch sẽ, quán chiếu thân mạng do Bốn đại hợp thành, không thể giữ lâu. Bà lên lầu cao phát nguyện đem thân ô uế cho chúng sinh đói khát, cầu làm thân nam để được thụ ký làm Phật, nguyện ở đời dơ đục để cứu vớt chúng sinh mờ tối. Bà gieo mình từ lầu cao xuống, Đức Phật cảm ý chí thành nên hóa đất mềm như tơ, giúp bà chuyển thành thân nam, vẹn toàn không hại. Ngài khen ngợi sự dũng mãnh và thụ ký rằng: sau khi vị Tỉ khiêu thắp đèn kia thành Phật sẽ trao danh hiệu Phật cho Người.

Con rồng sống được trong thời gian 3 đức Phật ra đời, vấn đề quy y nhị bảo hay tam bảo của bộ phái: Kinh 79. 

Bên bờ sông, Đức Phật phóng hào quang chiếu suốt đến chỗ rồng ở. Rồng thấy bóng ánh sáng, vảy vi đều dựng ngược. Rồng đã từng được thấy Ba Đức PhậtPhật Câu Lũ Tần, Phật Câu Na Hàm Mâu NiPhật Ca Diếp. Ba Đức Phật này đều ngồi tại đây thành đạo, ánh sáng đều chiếu đến chỗ của rồng. Nay rồng thấy ánh sáng liền nghĩ: ‘Ánh sáng này cùng với ánh sáng của Ba Đức Phật trước như nhau. Thế gian lại có Phật ra đời nữa ư?’ Rồng rất hoan hỷ ra khỏi nước, quay nhìn hai bên phải trái, thấy Đức Phật ngồi bên gốc cây, thân có Ba mươi hai tướng tốt, màu sắc vàng tía, ánh sáng rực rỡ hơn cả mặt trời, mặt trăng, tướng tốt đoan chánh như cây cố hoa. Rồng đến trước Đức Phật, đầu mặt đỉnh lễ sát đất, rồi đi quanh Đức Phật bảy vòng, thân rồng lùi cách Đức Phật Bốn mươi dặm, dùng bảy đầu che trên Phật, rồi rồng vui mừng làm mưa gió bảy ngày, bảy đêm. Đức Phật ngồi ngay thẳng, không lay động, không hít thở. Bảy ngày không ăn thì được thành Phật, lòng mừng đều dứt mọi tưởng. Rồng rất vui mừng, cũng không ăn suốt bảy ngày mà không có ý niệm về đói khát. Hết bảy ngày, gió mưa tạnh. Đức Phật từ thiền định xuất, rồng hóa làm một Phạm chí trẻ tuổi, ăn mặc tươm tất, quỳ thẳng chắp tay cúi đầu hỏi: Ngài đạt đến trạng thái không lạnh, không nóng, không đói, không khát, công đức hội tụ, các độc không hại, ở đời làm Phật, ba cõi đặc biệt tôn trọng, há không thích sao? Đức Phật bảo rồngKinh điển của các Đức Phật thời quá khứ nói: chúng sinh lìa Ba đường ác được làm người là thích. Ở đời sống an nhàn, giữ chí đạo là thích. Điều xưa từng nghe, nay đều hiểu được là thích thú. Ở đời có lòng Từ bi, không hại chúng sinh là thích thú. Thiên ma, độc dữ đều tiêu diệt hết là thích thú. Đạm bạc, vô dục, không ham sang giàu là thích thú. Ở đời đắc đạo, làm bậc thầy cả trời người, tâm đạt được định không, bất nguyện, vô tướng. Thân hữu lậu của các dục, trở về với bản thể không, trường tồn với cõi tịch tĩnh, cùng với sự khổ vĩnh viễn dứt hẳn, đó là niềm thích thú vô thượng. Rồng cúi đầu thưa: Từ nay về sau, con xin tự quy y Phật, quy y PhápĐức Phật bảo rồng: Vừa có Thánh chúng, các bậc quyết chí đạt A la hán, các Tỉ khiêu khổ hạnh, cũng nên tự quy y với họ.

Câu chuyện về việc vua Tỳ lưu ly diệt họ Thích: Kinh số 54

Thuở xưa, Bồ tát chứng đạo quả Như Lai, du hóa tại nước Xá Vệ. Vua nước này kết hôn với con người thiếp hèn mọn của dòng họ Thích. Người con trai sinh ra, khi về thăm quê ngoại, đã tự ý ngồi lên tòa của Đức Thế Tôn, bị người họ Thích nhục mạ là "con kẻ hèn mọn" và phá tòa xây lại. Sau khi lên ngôi vua, vì mối nhục này, y dấy binh đi tiêu diệt họ Thích. Trên đường đi, nhà vua thấy Đức Phật ngồi bên gốc cây nửa khô nửa tươi bèn hỏi nguyên do. Ngài đáp: "Cây này tên là Thích, Ta yêu tên ấy nên đem lòng nhân cứu nạn cho nó". Nhà vua hổ thẹn cho quân quay về. Tuy nhiên, tướng quốc xem thiên văn thấy phúc xưa của họ Thích đã hết nên xúi vua xuất quân lần nữa. Khi quân giặc đến gần, Tôn giả Mục Liên định dùng thần thông cứu mặt thành nhưng Đức Phật dạy rằng không thể thoát khỏi tội vô hình. Để chứng minh, Ngài bảo Tôn giả đặt một người họ Thích dưới bát của mình, nhưng sau đó người đó cũng không tránh khỏi cái chết. Vì phúc đã hết nên cửa thành bị ma dụ mở ra cho địch. Khi quân tràn vào, tướng Thích Ma Nam xin vua dừng binh trong chốc lát bằng khoảng thời gian mà ông có thể lặn xuống hồ. Ông đã tự cột tóc vào rễ cây dưới nước để tuẫn tiết, lấy cái chết của mình để xin vua cho dân chúng chạy thoát. Nhà vua sau đó tàn sát họ Thích dã man. Lúc ấy, Đức Phật nhức đầu đau đớn khó kể xiết. Ngài dự ngôn rằng bảy ngày sau vua sẽ chịu tội. Đúng hạn, đất nước của Tì Lưu Ly bị động đất, người giàu cùng vua bỏ trốn ra biển. Hôm sau, mặt trời thiêu nóng viên ngọc dương toại trên áo vua làm thuyền phát hỏa. Vua và quân lính bạo ngược đều bị lửa thiêu, đọa địa ngục Thái Sơn. Đức Thế Tôn giải thích căn do họa phúc từ kiếp trước: Khi ấy có một ao hồ đánh bắt được vô số cá. Ba ức người họ Thích bị chết nay chính là những người trực tiếp đánh bắt cá khi đó. Những người họ Thích trong một thành khác nghe tin có cá thì vui mừng đem tiền đến mua nhưng cá đã hết nên buồn bã, nay bị quân lính đuổi đánh và mất hết của cải. Còn những người họ Thích ở tòa thành thứ ba vốn ở xa, không hay biết và không có ý muốn mua cá, nên nay hoàn toàn bình an, không biết việc vua đến chinh phạt. Riêng Đức Thế Tôn, khi ấy tuy không ăn nhưng thấy người ta đập đầu cá mà không can ngăn, lại trót dùng tay tát vào đầu cá, nên nay dù đã thành Phật vẫn phải chịu nạn đau đầu khó kể xiết. Qua đó, Ngài răn dạy chúng sinh phải giữ mười điều lành, vì làm thiện phúc theo, làm ác họa tìm như bóng đuổi hình.

Một số điểm khác với câu chuyện thường biết:

Tỳ lưu ly không giết vua và anh để cướp ngôi mà vua chia đôi nước cho 2 con

Đức Phật chỉ hiện ra 1 lần

Nhà họ thích có 3 thành, trong đó 1 thành toàn diệt, một thành chết hoặc tàn tật, hoặc mất hết của cải, còn 1 thành chưa bị đánh đến (chứ không phải họ Thích bị diệt tộc)

Sau khi bị đánh diệt, nhà họ Thích hết tội, và nhà Tỳ lưu ly lại bị diệt vong


 

Đăng nhận xét

0 Nhận xét