À, mượn là bài của chị Hòa nói về bùa của Mẫu, mình xin đánh lái sang chủ đề khác là bùa của Phật giáo rồi quay về mâm cũ sau nha
I.
Phật giáo Đại thừa vãn kỳ, còn được gọi là Mật tông Phật giáo, Kim Cương thừa hay Bí mật Phật pháp. Đây là phản ứng cuối cùng của Phật giáo trước thực tế đời sống tôn giáo Ấn Độ, trước khi bị Hồi giáo tiêu diệt hoàn toàn. Trong giới nghiên cứu Phật giáo có một quan điểm rất phổ biến, cho rằng: mà tông Phật giáo chỉ đơn giản là việc lấy toàn bộ lễ nghi của Bà La môn và lồng vào đó những nội dung tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Điều đó có nghĩa là về mặt hình thức tất cả lễ nghi của mật tông đều là sản phẩm sao chép của ấn độ giáo.
Với suy luận tương tự, thì người ta cũng cho rằng Phật giáo Hán truyền đã sao chép và sử dụng lại các bùa chú của đạo giáo Trung Quốc.
Tuy nhiên bản thân tôi cho rằng quan điểm đó có phần quá sức đơn giản hóa và tương đối vu khoát và mơ hồ.
Giới nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu tiến trình tư tưởng của phật giáo nên đối với mặt lễ nghi hành trì của Phật giáo thì họ tương đối là xa lạ và thường có những kết luận tương đối là đơn giản hóa. Điều đó cũng có thể hiểu và thông cảm được. Tuy nhiên nếu đưa ra những kết luận như vậy và Tuyên truyền sai lầm trong một thời gian dài thì có thể dẫn đến việc ngộ nhận là hình thức nghi lễ của Phật giáo rất nghèo nàn và chủ yếu là phải thâu nạp copy từ các tôn giáo ngoại lai, hoặc sẽ có người cho rằng bản thân Phật giáo không thể sáng tạo ra được hệ thống lễ nghi của riêng mình.
Điều đó dẫn đến cần phải có những cái nhìn mới mẻ hơn đối với cả các hình thức lễ nghi như đã nói trên của Phật giáo Đại thừa.
Quan điểm này tương đối phổ biến, mà đại diện là tác giả Thích Ấn Thuận trong tác phẩm Sự khởi nguồn và phát triển của Phật giáo Đại thừa thời sơ kỳ, Việt dịch Thích Hạnh Bình – Thích Huệ Hải, Nhà Xuất Bản Hồng Đức, 2022. Về điểm này có ý kiến cho rằng sự phát khởi của truyền thống Tantra không thể bị hiểu đơn giản là sự ảnh hưởng một chiều của Ấn Giáo lên Phật Giáo hoặc ngược lại, mà chỉ ra một “văn hoá phép thuật” rộng khắp, những “cú pháp nghi lễ” được sử dụng chung, đã vượt qua giới hạn tông phái, ngôn ngữ và văn hoá xã hội, một nền văn hoá đã giảm dần ở các Tantra Shaiva và Phật Giáo sau này. Tham khảo thêm: Aleksandra Wenta, Vajrabhairava Tantra, NXB Aleksandra Wenta, 2025. Theo tôi quan điểm này rất hợp lý và tiến bộ. Trường hợp tương tự giữa Phật giáo và Đạo giáo tại Việt Nam, Trung Quốc cũng nên quan niệm tương tự như vậy. Phù lục của Phật giáo không phải là dùng phù của Đạo giáo hành trì, mà là dựa trên ngôn ngữ phù của Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian mà viết thành “câu lệnh” của Phật giáo.
Nói hơi dài dòng về vấn đề này một chút nhưng mà khi mà ta đã nói kỹ càng về vấn đề này rồi thì sẽ dễ dàng hơn trong việc phân biệt các loại phù chú trong đạo mẫu
II. Rất tiếc phải nói một vấn đề là tuy mình không phải là người nước đôi nhưng mà phải nói là khẳng định là trông đạo mẫu có sử dụng bùa cũng đúng mà không có sử dụng bùa cũng đúng
Vì sao ??
Mỗi đạo có một đặc trưng khác nhau. Ví dụ như Đạo giáo phù lục thì đặc trưng là sử dụng các loại bùa chú. Đạo giáo Tu Tiên thì đặc trưng với việc luyện đan. Phật giáo thì đặc trưng bởi các loại thiền, quán tưởng, ... Cũng như vậy thì các tín ngưỡng xa man đặc trưng bởi yếu tố đặc trưng đó chính là người thực hiện nghi lễ thông linh trực tiếp với thần linh. Mà khi đã thông linh trực tiếp với thần linh thì lại không cần dùng của đến bùa chú. Vì bùa chú là sắc lệnh của người thực hiện pháp thuật trong tín ngưỡng phù lục, làm tiếp sử dụng uy quyền của thánh để thực thi các pháp luật.

0 Nhận xét