1. Ngũ nghịch thụ giới
Vì dục vọng che mờ lý trí, một thanh niên đã nhẫn tâm giết chết mẹ ruột khi bà ngăn cản anh ta tìm đến nhà một thiếu nữ. Nhưng khi biết chuyện, người thiếu nữ cũng từ bỏ anh ta, gọi anh là "giặc" và gọi người đến đánh. Anh ta vô cùng uất hận vì làm một việc vô ích, tự trách, gọi mình là "giặc" và hỏa thiêu thi thể người mẹ. Sau khi phi tang tội lỗi, anh ta bị lương tâm dày vò nên đã tìm đến cửa Phật xuất gia với hy vọng dùng thiện nghiệp diệt trừ trọng tội. Dù thông suốt Tam tạng và có công hóa độ nhiều người chứng quả, nhưng khi sự việc giết mẹ bị phát giác, Đức Thế Tôn đã ra lệnh trục xuất anh ta khỏi Tăng đoàn để bảo vệ giáo pháp. Tuy vậy, anh ta không hoàn tục mà lánh đến nơi xa, xây dựng chùa chiền ở biên địa, thuyết pháp độ sinh và độ đệ tử xuất gia. Các đệ tử của anh ta có cả nhiều người đã đắc A la hán. Sau khi chết, vị này phải thụ nhận quả báo, đọa vào địa ngục Vô gián. Các đệ tử nhập định quan sát nên biết được việc này.
Vấn đề đặt ra: Nếu như vị này phạm ngũ nghịch, không đắc giới cụ túc, tại sao anh ta lại có khả năng độ người khác xuất gia, tu thành A la hán. Nên nhớ do anh ta ở nơi biên địa, không có tăng, vậy các đệ tử kia đã đắc giới từ 1 người không có giới? Chỉ có khả năng các vị này là khách tăng đến thụ giáo vị này mà thôi (Pháp tử chứ không phải Giới tử, Y chỉ sư chứ không phải Nghiệp sư)
Nguyên văn:
Người mẹ bảo con trai đi vào trong phòng đã bố trí bình nước và bồn chứa. Sau đó bà nằm ngủ ở cửa phòng. Đến nửa đêm về sáng, đồng tử nói với mẹ:
— Hãy mở cửa cho con ra ngoài đại tiểu tiện.
Mẹ bảo:
— Trong phòng có bồn chứa, cứ sử dụng.
Một lúc sau, cậu này lại kêu mẹ:
— Hãy mở cửa cho con.
Người mẹ vẫn không mở. Người con rất tức giận. Người mẹ nói:
— Ta đã biết con muốn đến chỗ nào rồi. Ta thà chết ở đây, quyết không mở cửa cho con.
Khi lửa dục đã ô nhiễm tâm trí, không ác gì mà không làm, kể cả các ác nghiệp. Ngay lúc ấy, người con cầm gươm giết mẹ nằm chết trên đất, rồi đi đến nhà trưởng giả. Đến nhà kia, thấy cô gái con của trưởng giả hình dung xinh đẹp. Thiếu nữ nói:
— Anh chớ sợ hãi, em ở một mình, không có người khác.
Thiếu niên tự nghĩ: "Ta nên báo cho cô này biết ta đã giết mẹ".
— Này em, anh đã vì em giết chết mẹ mình rồi.
Cô gái hỏi:
— Đó là mẹ ruột hay mẹ kế?
Đáp:
— Mẹ ruột.
Cô gái tự nghĩ: "Người này nổi giận, đến cả mẹ mình cũng giết, huống chi ta là người ngoài!". Nghĩ như thế, cô này nói rằng:
— Anh chờ đây, em lên lầu một chút.
Cô gái lên lầu rồi, cất cao giọng la lên:
— Trong nhà có giặc!
Thiếu niên này nghe thế, nương vào cửa khe nước trốn ra. Anh ta về đến nhà, ném dao ra đất, la to lên:
— Giặc giết mẹ tôi! Giặc giết mẹ tôi!
Sau khi la khóc, anh ta theo pháp thế gian hỏa thiêu thây mẹ, nhưng vẫn suy nghĩ: "Ta là kẻ ác, tạo tội cực nghịch", nên tâm ý sợ hãi, không an ổn. Anh ta đến những nơi thờ trời, tùy theo mỗi nơi thưa hỏi về việc tu hạnh nghiệp gì diệt được tội nặng. Có người nói: "Cần phải nhảy vào lửa". Có người nói: "Lên bờ cao nhảy xuống". Có người nói: "Nhảy vào nước". Có người nói: "Thắt cổ chết". Tất cả những lời nói về các phương tiện ấy, đều đưa đến tự chết, không có lối ra.
Sau đó, người này đi đến rừng Thệ Đà, thấy các Bật sô tụng niệm kinh luận, vang lên âm thanh bài kệ:
"Nếu người làm điều ác
Tu thiện trừ diệt được
Người ấy chói thế gian
Như nhật thoát mây che".
Bấy giờ người này tự nghĩ: "Xuất gia Thích tử có pháp trừ tội. Nay ta nên xuất gia, tu các thiện nghiệp để diệt trừ tội lỗi của ta?". Nghĩ thế rồi, anh ta đi đến chỗ các Bật sô thưa rằng:
— Thánh giả, con muốn xuất gia. Ngưỡng mong từ mẫn.
Khi ấy, Bật sô này cho anh ta xuất gia và thọ cận viên.
Sau khi xuất gia, vị Bật sô này tinh cần đọc tụng, thông suốt cả ba tạng Thánh giáo, biện tài vô ngại, lý luận khéo léo. Có Bật sô đến hỏi rằng:
— Cụ thọ, do nhân duyên gì mà ngài tinh cần khổ hạnh vậy? Chắc có điều mong cầu.
Vị kia đáp:
— Tôi vì mục đích tiêu diệt trọng tội.
Hỏi:
— Thầy đã gây tội gì?
Đáp:
— Giết mẹ.
Hỏi:
— Mẹ ruột hay nhũ mẫu?
Đáp:
— Mẹ ruột.
Bấy giờ, các Bật sô đem sự việc này bạch Phật. Phật dạy các Bật sô rằng:
— Nếu có người giết mẹ cầu xuất gia, cho họ xuất gia sẽ phá hoại giáo pháp của Ta. Phải đuổi họ ra. Từ nay trở đi trong pháp luật của Ta, nếu có người đến cầu xuất gia, phải hỏi họ: "Người không giết mẹ, phải không?". Nếu không hỏi, bị tội vượt pháp.
Người kia bị chúng Tăng đuổi ra, tự nghĩ: "Nay ta không thể hoàn tục. Nên đến chỗ biên giới xa xôi". Người này đến trú nơi biên địa, hóa độ một trưởng giả. Trưởng giả đối với Bật sô này sinh tâm kính ngưỡng, tạo một ngôi chùa. Lữ khách bốn phương đều đến chùa này. Người nào đến cũng đều được nghe thuyết pháp. Có nhiều người chứng quả A la hán.
Một lúc nọ, Bật sô này bị bệnh, dùng các loại vỏ thuốc trị liệu nhưng không hết. Đến lúc quá nguy khốn, giờ chết gần kề, bảo các đệ tử phải xây phòng tắm. Các đệ tử vâng theo lời dạy, xây phòng tắm. Khi ấy, vị Bật sô chủ chùa này nói kệ:
"Tích tụ đều tiêu tán
Cao tột phải rơi xuống
Hội họp phải biệt ly
Có mạng tất phải chết".
Sau khi nói kệ, vị này qua đời, đọa vào địa ngục Vô gián. Các đệ tử đã chứng quả A la hán nhập định quán sát xem Ô Ba Đà Da nay thác sinh chỗ nào.
2. Đoạt tự như đoạt thê
Đặc điểm sở hữu tài sản, nhà đất, văn hóa Việt, Trung, Ấn đều khác nhau, nên không có văn mẫu cho bất cứ đất nước nào cả. Tuy nhiên, trên tinh thần Ôn cố nhi tri tân thì trong luật tạng cũng có những câu chuyện tương tự đáng làm bài học cho chúng ta suy ngẫm
Dưới đây là nội dung được trình bày theo yêu cầu của ông, với phần tóm tắt được viết thành đoạn văn liền mạch và phần nguyên văn đã chỉnh lý các thuật ngữ theo đúng quy ước:
Tóm tắt sự việc
Trưởng giả tại thôn Na Trĩ ban đầu phát tâm tạo một trú xứ để cúng dàng riêng cho tôn giả La Hổ La, nhưng khi tôn giả đi du hóa xa, ông vì nghĩ ngài không trở lại nên đã đem trú xứ đó cúng dàng chung cho Tăng già. Sau khi tôn giả trở về và bạch lên đức Thế Tôn, Ngài đã xác nhận tâm ý của trưởng giả và tập hợp chúng Bật sô để giáo giới về phép tắc bố thí thanh tịnh. Đức Phật chỉ dạy rằng một vật khi đã được thí chủ định đoạt trao cho một cá nhân hay tập thể nào thì không được phép xoay lại để cho người khác lần thứ hai; việc cho lại như vậy khiến cả người cho lẫn người nhận đều phi pháp, dẫn đến sự thụ dụng bất tịnh. Ngài khẳng định quyền sở hữu và tính như pháp chỉ nằm ở lần bố thí đầu tiên, đồng thời yêu cầu Tăng chúng phải trả lại trú xứ cho tôn giả La Hổ La và chế định tội vượt pháp cho những ai tự tiện thay đổi đối tượng thụ nhận tài vật cúng dàng.
Nguyên văn sự việc
Thế Tôn ở tại trú xứ Thích Ca, xóm làng người khách buôn tên Na Trĩ. Trong thôn này có một trưởng giả, có lòng tin tâm tình hỷ xả, ông ta tạo một trú xứ cúng dàng cho tôn giả La Hổ La. Tôn giả ở trú xứ này chưa bao lâu, lại mang y bát đi du hành trong nhân gian. Trưởng giả nghe ngài đã ra đi, tự nghĩ: Tôn giả du hành không biết có trở lại không.
Trưởng giả đem trú xứ ấy cúng dàng cho Tăng già.
Tôn giả La Hổ La sau khi đi du hóa vừa ý, mang y bát trở lại trú xứ khách buôn Na Trĩ. Ngài hỏi ra, mới biết trú xứ này đã cúng dàng cho Tăng già. Ngài đến gặp Phật lạy sát hai chân, bạch: Có một trưởng giả phát đại tâm tín ngưỡng, tạo một trú xứ, cúng dàng cho con, con ở đó một thời gian có duyên sự nên ra đi. Sau đó không bao lâu, trưởng giả đem trú xứ này cúng dàng cho Tăng già. Con phải làm thế nào đây xin Phật quyết định cho.
Thế Tôn bảo rằng: Thầy đến chỗ trú xứ của trưởng giả, nói với ông ta như thế này: "Nhân giả! Ngài đối với tôi, hoặc thân ngữ ý có lúc nào sinh chút ít ý tưởng chán ghét không?".
Tôn giả La Hổ La nghe Phật dạy xong, đến gặp trưởng giả nói: Nhân giả... như trên...
Trưởng giả trả lời: Con đối với tôn giả chưa bao giờ có ý tưởng ấy.
La Hổ La trở lại gặp Phật, trình bày rõ việc trưởng giả trả lời. Phật bảo A Nan Đà: Thầy đến thôn Na Trĩ, tập hợp các Bật sô đang trú ở đó đến tại giảng đường.
A Nan Đà vâng lệnh của Phật đến trú xứ ở thôn Na Trĩ, bảo các Bật sô: Các thầy nên tập họp lại giảng đường.
A Nan Đà báo cáo lời Phật xong, trở lại lạy sát chân Phật bạch rằng: Con đã đến trú xứ tại thôn Na Trĩ, tuyên bố chỉ thị của Phật. Hiện nay các Bật sô đều đã tập hợp.
Thế Tôn đưa các Bật sô cùng La Hổ La đến chùa kia (thôn Na Trĩ) ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn, bảo các Bật sô rằng: Các thầy nên biết, nếu có thí chủ đem vật mình muốn cho, cho riêng một người. Sau đó lại đem vật ấy cho sang người khác. Người cho như vậy là phi pháp, người nhận cũng phi pháp. Gọi là thụ dụng bất tịnh. Cũng như vậy, vật đã cho rồi, xoay lại cho hai người, ba người, hoặc Tăng già. Tất cả như vậy đều được gọi là cho không như pháp, nhận không như pháp, sự thụ dụng như vậy là bất tịnh. Này các Bật sô! Nếu có thí chủ, đem vật của họ muốn cho, cho hai người khác, sau đó lại đem vật ấy thí cho một người khác. Bố thí như vậy thì người cho lẫn người nhận đều phi pháp. Sự thụ dụng như vậy là bất tịnh. Cũng vậy, nếu xoay vật lại cho hai người, ba người hay cho Tăng già, người cho kẻ nhận đều là phi pháp. Sự thụ dụng như vậy đều là bất tịnh. Này các Bật sô! Nếu có thí chủ đem vật cho họ muốn bố thí cho ba người khác, sau lại xoay vật ấy cho một, hai, ba người khác hoặc cúng dàng Tăng già. Người cho kẻ nhận đều là phi pháp. Sự thụ dụng như vậy đều là bất tịnh. Này các Bật sô! Nếu có thí chủ đem vật họ muốn bố thí cúng dàng cho Tăng già, sau lại đem vật ấy cho một, hai, ba người khác hoặc cúng dàng cho Tăng già khác. Người cho kẻ nhận đều là phi pháp. Như vậy gọi là thụ dụng bất tịnh. Nếu trước đó đã cúng dàng cho Bật sô Tăng già, sau lại đem vật ấy cúng dàng cho Bật sô ni Tăng già, hoặc ngược lại, đều gọi là bất tịnh. Này các Bật sô, nếu Tăng già chia thành hai bộ. Trước đã cúng dàng cho bộ này rồi, sau lại đem vật ấy cúng dàng cho bộ kia, đều gọi là thụ dụng bất tịnh. Này các Bật sô! Nếu đem vật cho một người rồi, không đem vật ấy cho người khác nữa. Người cho người nhận đều là như pháp. Sự thụ dụng như vậy được gọi là thanh tịnh. Cũng như vậy, nếu đem vật cho hai người, ba người, Tăng già, Tăng già ni này, bộ này, sau đó không đem vật ấy cúng dàng cho nơi khác, cho đến không đem ra thụ dụng. Như vậy đều gọi là thanh tịnh. Như trình bày rõ ràng ở trên. Này các Bật sô, trước là thật thí, sau là phi pháp thí. Này các Bật sô! Đất đai thuộc về quốc vương, vật thuộc về chủ, phòng xá giường nằm thí chủ là chủ. Y bát tư cụ Bật sô là chủ. Những tài sản được cúng dàng đến chùa, nếu có hư hoại thí chủ nên tự bồi bổ, không được tự tiện lấy vật ấy đem cho người khác. Bố thí lần đầu là như pháp, nhưng bố thí lần sau là phi pháp. Này các Bật sô! Nên trả lại trú xứ trước đây cho La Hổ La. Nếu Bật sô lấy vật đã cho người kia, đem cho người này, trừ trường hợp có nạn duyên, bị tội vượt pháp.
3. Thần chú trong Hữu bộ
Chú chữa bệnh trĩ
Tóm tắt sự việc
Trong thành có một Bật sô vì quá đau đớn do bệnh trĩ hành hạ nên đã tự ý dùng tay ngắt bỏ đầu trĩ, dẫn đến khổ sở khôn cùng và khởi tâm mong cầu sự thương xót của đức Thế Tôn. Với lòng đại bi, đức Phật đã đến thăm hỏi và nhắc lại lời răn dạy trước đây về việc không được tự ý cắt bỏ trĩ, nhưng vì vị Bật sô này hành động trong lúc quẫn bách do đau đớn nên Ngài tuyên bố không phạm tội. Qua sự việc này, đức Thế Tôn chính thức chỉ dạy các Bật sô rằng dù có đau đớn đến mức nào cũng tuyệt đối không được dùng tay ngắt bỏ, mà phải điều trị bệnh trĩ bằng hai phương pháp chính đáng là dùng thuốc hoặc dùng cấm chú.
Nguyên văn sự việc
Trong thành có một Bật sô bị bệnh trĩ, đầu trĩ lòi ra. Thầy dùng ngón tay ngắt đi, đau đớn vô cùng không thể chịu nổi. Bật sô này tự nghĩ: "Ta bị đau khổ không chịu nổi. Thế Tôn đại bi sao chẳng thương xót."
Bấy giờ, Thế Tôn với sức đại bi, đến chỗ Bật sô, hỏi rằng: "Này Bật sô! Thầy đang đau khổ về việc gì?"
Bật sô bệnh chắp tay nhìn Phật, tâm tình thương cảm, nước mắt tuôn rơi, trình bày hết bệnh khổ của mình ra. Phật bảo Bật sô: "Trước đây ta đã từng ngăn các thầy, khi bệnh trĩ không được cắt bỏ."
Bật sô bạch Phật: "Thế Tôn! Ngài đã không cho phép."
Phật hỏi: "Vậy tại sao thầy lại hành động như thế?"
Đáp: "Thế Tôn! Con bị đau đớn quá nên làm vậy."
Phật dạy: "Nếu vì quá đau đớn nên hành động thì không phạm. Nay ta bảo quý thầy, tuy bị đau đớn thế nào đi nữa cũng không được dùng tay ngắt bỏ trĩ. Trị bệnh trĩ có hai phương pháp: hoặc dùng thuốc hoặc dùng cấm chú."
Tương tự với câu chuyện Phật chế định xướng Tăng bạt
Chú nguyện chữa bệnh:
Thấy Tôn giả A Nan Đà khất thực ngang qua đó, thân tộc ấy hỏi: — Vương tử Ca La bị chặt tay chân, thánh giả có thể làm cho bình phục như xưa không?
Đáp: — Quý vị ở đây, chờ tôi bạch Phật rồi trở lại cho biết.
Nghe nói, mọi người rất hoan hỷ nói: — Bây giờ vương tử đã được mạng sống.
Vội vàng trở về, vào rừng Thệ Đa, thu xếp bát cơm xong, A Nan Đà đến gặp Thế Tôn thưa lại việc trên. Phật bảo A Nan Đà:
Nghe Phật dạy xong, sau khi bạch Phật rằng: "Thế Tôn, con sẽ làm như vậy", A Nan Đà lạy sát chân Phật, đi đến chỗ Ca La. Tôn giả bảo quyến thuộc xếp đặt tay chân vương tử lại như cũ rồi làm đúng như lời Phật dạy, dùng lời nói chân thậ
— Trong các chúng sinh loài không chân, hai chân...
Khi Tôn giả chú nguyện xong, tay chân vương tử bình phục như cũ.
Tương tự với câu chuyện mục nữ chú nguyện cho voi của vua Phạm Thọ (em) sinh thuận lợi
4. Nên nêu tên người cúng dàng (nay là ghi "giấy công đức")
Dưới đây là nội dung về việc đức Phật cho phép vận động cúng dàng và xướng tên thí chủ, được trình bày theo yêu cầu của ông:
1. Tóm tắt sự việc
Trưởng giả Cấp Cô Độc khi chứng kiến đồ chúng ngoại đạo vận động bố thí cho thầy mình, đã khởi tâm muốn vận động sự cúng dàng cho đức Phật và Tăng đoàn để giúp mọi người gieo trồng phước đức, an trú trong chính pháp. Được đức Thế Tôn tùy hỷ cho phép, ông cùng các Bật sô đã đi phổ biến việc cúng dàng đến các cư sĩ và Bà la môn. Trước nguyện vọng của những người bố thí muốn được nêu tên để tăng thêm phước lợi và sự hoan hỷ, đức Phật đã chỉ dạy các Bật sô phải xướng tên họ của thí chủ và thực hiện chú nguyện trước khi thụ nhận tài vật, kể cả khi họ mang lễ vật trực tiếp đến chùa.
2. Nguyên văn sự việc
Trưởng giả Cấp Cô Độc mỗi sáng sớm đến chỗ Phật. Trên đường đi ông ta gặp đồ chúng ngoại đạo vận động trưởng giả bố thí để cúng dàng cho thầy họ. Trưởng giả thấy thế, tự nghĩ: "Tà đồ chúng của ngoại đạo tu hành ác pháp mà còn biết xin của bố thí để cúng dàng cho thầy mình. Đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh: Nếu người chưa tin làm cho phát sinh tín tâm, để cho mọi người đều được điều phục an trú trong chính pháp. Nếu được đức đạo sư cho phép, ta sẽ bảo mọi người làm các sự cúng dàng cho phước điền này."
Trưởng giả nghĩ như thế rồi, vào rừng Thệ Đa, đảnh lễ Thế Tôn, ngồi qua một bên, đem sự việc vừa rồi bạch Phật: "Cầu mong Thế Tôn cho phép con được phép vận động sự cúng dàng cho Phật và Tăng."
Phật dạy: "Tùy ý thi hành."
Trưởng giả liền đi phổ biến sự cúng dàng, khi ấy các cư sĩ và Bà la môn đều thưa với trưởng giả: "Nếu thánh chúng cùng đến nhận cúng, thì phước lợi cho chúng tôi rất nhiều."
Trưởng giả đem việc này bạch Phật. Phật dạy: "Các Bật sô nên hỗ trợ cùng trưởng giả."
Các Bật sô vâng lời dạy của Phật, cùng với trưởng giả phổ biến sự cúng dàng. Mọi người đều thưa rằng: "Khi bố thí, nêu tên họ chúng tôi lên để mọi người đều biết."
Chúng Bật sô đáp: "Lành thay!"
Thế Tôn dạy: "Khi thí chủ đem vật cúng dàng nên xướng tên họ người cúng và chú nguyện, sau đó mới thụ. Nên bảo người thế tục xướng tên họ."
Mọi người đề nghị: "Các thánh giả xướng tên họ chúng tôi thì phước mới nhiều thêm."
Phật dạy: "Nên bảo Bật sô xướng tên họ thí chủ."
Khi ấy có thí chủ mang tài vật đến chùa cúng dàng. Phật dạy: "Nếu họ mang đến chùa, cũng phải xướng tên họ thí chủ và chú nguyện rồi mới nhận."
5. Người xuất gia với việc xem ngày
Phật ở thành Thất La Phạt, các Bà la môn cư sĩ đến gặp các Bật sô hỏi: "A Ly Gia (thánh giả) hôm nay ngày mấy?"
Đáp:
Những người khác thưa rằng:
Các B
Tương tự với vị tăng ở A lan nhã gặp bọn cướp
6. Quan hệ của người tại gia với thờ cúng Thiên thần
7. Quan hệ của người xuất gia với thờ cúng Thiên thần
Nhóm sáu Bật sô tự tiện cúng dàng các vị thiên thần như Yết Thát Bố Đản Na, Ma Đăng Già Cù Lợi Ca, dẫn đến sự phê phán của người đời về việc người xuất gia trong giáo pháp thiện thuyết lại kiêm cả việc thờ cúng thần linh. Đức Phật đã răn dạy các đệ tử không được thờ cúng thiên thần vì đó không phải là việc của người xuất gia, nhưng đồng thời Ngài cũng cấm các Bật sô sinh tâm khinh chê hay đập phá tượng thần. Về việc đi lại, đức Thế Tôn dạy các Bật sô không nên chủ ý đi nhiễu bên phải miếu thần như một hình thức tôn thờ; tuy nhiên, nếu vì tiện đường mà phải đi qua, các ngài nên đọc tụng pháp kệ, tằng hắng hoặc khảy móng tay để báo hiệu cho các thực thể tại đó biết mà lánh né, tránh gây thương tổn cho bản thân bởi gai góc khi phải tìm đường khác.
Nguyên văn sự việc
Bấy giờ lục chúng Bật sô tự tiện cúng dàng Yết Thát Bố Đản Na, Ma Đăng Già Cù Lợi Ca Thiên. Các Bà la môn, cư sĩ đều nói:
Các B
Có Bật sô đối với thiên thần sinh tâm khinh chê. Thiên thần nói: "Chúng tôi đối với quý ngài nào có lỗi gì, mà bị khinh chê như vậy?"
Các Bật sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy: "Từ nay đối với thiên thần, các thầy không được cúng dàng nhưng không được khinh chê."
Các Bật sô đến nơi khác, thấy thần tượng của Yết Thát Bố Đản Na và Ha Đăng Già Cù Lợi Ca, liền đập phá. Các cư sĩ thấy vậy nói: "Thần tướng chư thiên này không có tâm thức. Thánh giả! Tại sao phá hủy đi?"
Các Bật sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy: "Này các Bật sô! Không được phá hủy tượng thiên thần."
Bật sô đi du hành trong nhân gian. Khi ấy vì tiện đường các vị này đi nhiễu về phía bên phải miếu thờ thiên thần. Phật dạy: "Bật sô không nên đi nhiễu bên phải miếu thờ chư thiên."
Các Bật sô nghe dạy, liền tránh đường cũ ấy, đi bị gai góc làm thương tổn. Phật dạy:
8. Các y của Tỷ khiêu
Bật sô không biết mười ba loại tư cụ y là gì.
Phật dạy: 1. Tăng già chi. 2. Ôn đản la tăng già. 3. An đản bà sa. 4. Ny sư đản na. 5. Quần. 6. Quần phụ. 7. Tăng phúc chi. 8. Tăng phúc chi phụ. 9. Khăn lau mặt. 10. Khăn lau thân. 11. Y che ghẻ. 12. Y cạo tóc. 13. Y đổi thuốc. Đây là mười ba tư cụ y.
Tóm tắt trường hợp đức Thế Tôn quy định về việc sử dụng y không cắt rọc và kích thước y cho người có thân hình đặc biệt như sau: Cụ thọ Ô Ba Ly bạch hỏi về việc sử dụng y không cắt rọc, đức Phật dạy rằng không được phép sử dụng, mặc vào tụ lạc, vào nhà thế tục hay trú xứ ngoại đạo, trừ khi gặp nạn duyên. Riêng việc ngồi trong nhà ngoại đạo khi họ vắng mặt thì không phạm. Về kích thước y, Phật dạy nên căn cứ vào kích thước thân thể thực tế của người mặc thay vì chỉ dựa vào số gang tay quy định nếu người đó quá to lớn. Trường hợp vải không đủ để may y kín thân thì nên may thành y Quyết Tô Lạc Ca (loại y hình ống, may dính lại) để sử dụng.
Nguyên văn sự việc như sau: Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Y không cắt rọc ra được sử dụng không?
Phật dạy:
- Không được! Nếu có nạn duyên thì được.
- Mặc y không cắt rọc được vào tục lạc không? Được vào nhà thế tục không? Được phép vào trú xứ của ngoại đạo không?
Phật dạy:
- Các trường hợp này đều không được trừ có nạn duyên; mặc không phạm.
- Mặc y không cắt rọc được phép ngồi trong nhà ngoại đạo không?
Phật dạy:
- Không được! Nhưng khi ngoại đạo không có trong nhà, ngồi không phạm.
Như Thế Tôn dạy:
- Được phép sử dụng y dài vừa đúng bao nhiêu khuỷu tay đã quy định; Nếu có người thân thể to lớn mà khuỷu tay ngắn, chẳng lẽ cũng căn cứ vào chiều dài của khuỷu tay người ấy mà làm y hay sao?
Phật dạy:
- Nên căn cứ kích thước thân thể của người này mà làm y.
- Giả sử lấy theo kích thước thân thể thì không đủ (vải) để may y kín người?
Phật dạy:
- Nếu không đủ để may kín, nên may thành y Quyết Tô Lạc Ca mà sử dụng (đây dịch là Thùy Y, dài bốn khuỷu tay, rộng hai khuỷu tay. May dính lại mặc bên trong kéo lên trên, dùng dây vải buộc, nói rõ như những chỗ khác. Xưa gọi là Kỳ Tu La, người ta đều không biết việc này. Y này hình dạng như ống bi nhỏ đây là một trong năm y của Ni. Đúng ra dịch là quần nguyên chú. Y này hình như chiếc xà rông nhưng may kín, là quần mặc trong y nội của Ni-Người dịch).
9. Thiên nhân đắc giới, Sa môn quả
Tại thành Thất La Phạt, một vị Bật sô lớn tuổi vì ôm lòng phẫn hận sau khi bị vị Bật sô nhỏ trách mắng nên sau khi qua đời đã đọa làm rắn độc. Khi vị Bật sô nhỏ đến sám hối, con rắn định tấn công, nhưng đức Thế Tôn đã dùng sức đại bi can thiệp, dạy vị Bật sô nhỏ phải tác ý kính lễ con rắn như vị thượng tọa lúc trước. Sau khi nghe Phật thuyết pháp về vô thường, vô ngã và Niết bàn, rắn độc phát tâm tịnh tín, nhịn ăn mà chết để thoát thân bàng sinh, sinh lên cõi trời. Vị thiên nhân này sau đó quay lại cúng dàng và nghe pháp, chứng quả Dự lưu, chính thức quy y làm vị Ô ba sách ca.
Nguyên văn sự việc như sau: Phật ở thành Thất La Phạt. Bấy giờ các Bật sô từng hai người một bàn luận nghĩa lý đưa đến tranh cãi nhau. Vị Bật sô nhỏ trách mắng vị lớn. Vị Bật sô lớn lui vào trong phòng ôm lòng phẫn hận:
Tại sao kẻ ti tiểu kia lại dám xúc phạm đến ta?
Vì bị lửa sân thiêu đốt nên ông ta phiền não vô cùng. Do đó vị này qua đời sinh vào loài rắn độc. Bấy giờ Bật sô nhỏ sinh tâm hối hận:
Ta đã hành động bất thiện. Tại sao được phép sân trách Bật sô thượng tọa?
Nghĩ như thế rồi, Bật sô nhỏ cùng các Bật sô đến chỗ Bật sô lớn kia. Đến nơi thấy cửa phòng đóng, liền tìm cách mở ra và đến chỗ vị Bật sô lớn. Bật sô nhỏ đang muốn quỳ xuống đảnh lễ để bạch Phật rằng:
Đại đức xin tha thứ cho tôi.
Lúc ấy, vị này thấy một con rắn độc lớn đang nghiến răng nổi giận dựng đứng lên. Bấy giờ Thế Tôn dùng sức đại bi đến tận nơi, bảo Bật sô rằng:
Thầy phải nên lạy sát đất để xin sám hối với rắn này.
Bật sô thưa:
Thế Tôn! Tại sao bảo con lạy rắn này?
Thế Tôn bảo:
Nên tác ý đây là Bật sô lúc trước để mà kính lễ.
Khi ấy Bật sô này hướng về rắn này làm lễ. Thế Tôn bảo rắn:
Hiền thủ! Người nên dung thứ cho vị này!
Ngài vì rắn độc nói ba pháp kệ. Ngài lại nói:
Hiền thủ! Người đã tu tập tịnh hạnh nơi ta, lẽ ra phải sinh thiên thượng, chỉ do lửa sân thiêu đốt làm hại, sinh vào loài rắn độc. Hiền thủ nên biết rằng: Các hành đều vô thường Các pháp đều vô ngã. Chỉ biết Niết bàn tịch tịnh là an lạc. Người nên phát tâm tịnh tín đối với ta. Do nhờ công đức này bỏ được thân bàng sinh, sinh vào cảnh giới tốt đẹp.
Khi ấy rắn độc tự nghĩ:
Nay nếu ta không được thân cận Thế Tôn nghe ba pháp cú mà chỉ ham ăn uống thì thật nuôi thân này vô ích.
Các loài bàng sinh thì lửa đói là mạnh nhất. Do nhịn ăn nên rắn độc mệnh chung. Vì rắn độc sinh tâm tịnh tín đối với Thế Tôn, nên bỏ thân mạng này được sinh thiên thượng. Khi mới sinh thiên dù nam hay nữ thì pháp nhĩ như thế này, họ đều phát sinh ba ý nghĩ:
Ta chết từ nơi nào?
Nay sinh vào nơi nào đây?
Do nghiệp duyên gì mà sinh đến nơi này?
Nghĩ thế rồi, vị ấy tự quán sát thấy mình bỏ thân rắn độc sinh đến cõi thiên này nhờ phát sinh tín tâm trong sạch với Phật. Vị thiên này lại tự nghĩ: "Nay ta chẳng nên không đến gặp Phật để lễ bái cúng dàng, vậy nên đến gặp ngài để báo ân phụng sư". Vị thiên này mang chuỗi ngọc, hoa tai, vòng tay bằng bảy báu thượng diệu, tự trang hoàng thân thể với hào quang rực rỡ. Tay cầm hoa sen vi diệu ở cõi trời, hoa Ôn bát la, hoa Bát đầu ma, hoa Phân đà lợi vào lúc gần sáng đến gặp Phật, rải hoa cúng dàng trước Phật lạy sát hai chân ngồi qua một bên. Do uy lực hào quang của vị thiên này làm cho cả rừng Thệ Đa ánh sáng rực rỡ. Bấy giờ Thế Tôn quan sát sự sai biệt căn tánh, tùy theo căn tánh sở thích của vị thiên này để ngài thuyết pháp. Vị thiên nghe pháp ngay tại chỗ ngồi chứng quả Dự lưu. Sau khi chứng quả, vị này bạch Thế Tôn:
Thánh quả con chứng được hiện nay không phải do cha mẹ tác thành mà nhờ y vào sức từ bi của Thế Tôn, đưa con thoát khỏi ba đường ác, đặt vào cõi trời người, ra khỏi cảnh giới sinh tử lưu chuyển, làm cho khô cạn biển lớn máu và nước mắt, đã vượt qua được núi lớn thân cốt. Từ vô thủy đến nay tích tụ hai mươi thân kiến góp lại như núi, dùng chùy kim cương đập phá vỡ hết, chứng quả Dự lưu. Thế Tôn! Ngay ngày hôm nay con xin quy y Tam Bảo, xin ngài chứng nhận cho con là vị Ô ba sách ca (cận sự nam). Từ nay cho đến trọn đời, con giữ vững lòng tin thanh tịnh đối với Tam Bảo.
Vị thiên lễ sát chân Phật, đi nhiễu bên hữu ba vòng rồi biến mất trở lại thiên cung.
Tương tự với phái Ô ba tư ca trong chuyện 500 Thích nữ bị Ác sinh Thái tử chặt tay chân, Ô ba sách ca trong việc Như lai hóa độ vị thiên thần tấu nhạc trước lúc Niết bàn
10. Có thể các bạn chưa biết 🤔: Tắm Phật là một nghi lễ thường xuyên của Phật giáo Ấn độ
Định chia làm 3 bài cho nó đủ KPI chuẩn bị chào mừng ngày Bụt sinh nhưng mà lười quá nên cả nhà đọc bản full nha :)
Bài 1: Nguồn gốc thực tiễn của nghi lễ Tắm Phật 🛁
✨ CÓ THỂ CÁC BẠN CHƯA BIẾT 🤔: TẮM PHẬT LÀ MỘT NGHI LỄ THƯỜNG XUYÊN CỦA PHẬT GIÁO ÁN ĐỘ
🚿 Thời xưa, do điều kiện vệ sinh, nhiên liệu đun, cung cấp nước còn hạn chế, người thường rất ít khi tắm. Trong lịch sử từng ghi nhận ngay cả nhà giàu Trung Quốc cũng tắm tương đối ít (vì thế dần dà còn sinh ra cả tâm lí, trạch nhật tuyển thời, bấm độn, thần sát, ... liên quan đến tắm). Châu Âu cho đến thời Trung - cận đại cũng không khá hơn là mấy. 🌍
☀️ Ấn độ là nước ở khu vực nhiệt đới nên tần suất tắm có nhiều hơn, nhưng cũng chỉ có nhà giàu mới thường xuyên tắm. Đức Phật theo quy tắc Trung đạo, nên chế định đệ tử tắm ở mức trung bình: nếu không có các duyên sự như mưa gió, nóng bức, đi đường, bệnh ốm, ... thì nửa tháng tắm một lần (Tháng của Ấn độ có 15 ngày, tức 7 ngày tắm 1 lần). Mà đời sống tăng đoàn thời Phật, dù ở chùa/ tịnh xá hay nơi rừng núi/ lan nhã đều là đời sống du hành. Như vậy, có thể nói, việc tắm rửa là một việc rất thường xuyên trong sinh hoạt Tăng chúng. 👣
📜 Căn hữu luật Tạp sự là tác phẩm do ngài Đường Tam tạng pháp sư Nghĩa Tịnh (635-713) đi du học mang về nước, là luật của Hữu bộ. Trong phần chép về phép làm nhà tắm, Ngài Nghĩa Tịnh có chú rằng: "Ðây là chế độ phòng tắm ở Tây Trúc, dùng gạch xếp thành, hình dạng như chất lương thực, trên hẹp dưới rộng, chính giữa cao chừng một trượng, bên dưới rộng bảy tám thước Tàu, có mở cánh cửa một bên, trét tro bùn trong ngoài dày kín. Mặt sau bố trí một khám nhỏ, trong khám để tượng đá hay
💡 ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý: Với quan điểm Phật cũng nằm trong Tăng, nên phần An cư sự, khi nói đến phép Phát thẻ An cư cũng phát thẻ cho Phật. Nay trong đoạn nói về nhà tắm, cũng có khám thỉnh tượng Phật tắm trước. 📿
Ngoài ra trong Tăng kỳ luật có đoạn nói: "Khi tắm rửa tượng Bồ tát bằng vàng bạc thì không được tự tay mình tắm mà phải bảo tịnh nhân làm.". Từ "Bồ tát" ở đây chỉ tượng Phật sơ sinh. 👶✨
🚀 Như vậy có thể nói, ngay ở Ấn độ, nghi lễ Tắm Phật đã là một phần sinh hoạt thường nhật của Tăng chúng. 🙏✨
#PhatGiao #LichSu #TamPhat #AnDo #NghiLe #KienThucPhatGiao
Bài 2: Bàn về "Nguồn gốc lễ Dục đạo" 🤔
Hôm nọ bên bển có bài viết: "Đạo giáo khởi nguồn cho lễ Dục đạo - Tắm cho tôn tượng trong lịch sử Việt Nam"
🗣️ Xin bình luận là: Một tiu đề khó hỉu. Thú thực là iem vẫn chưa hỉu thế nào gọi là "Đạo giáo khởi nguồn cho lễ Dục đạo - Tắm cho tôn tượng trong lịch sử Việt Nam"??? 🧐
🎭 Giả dụ như câu này có nghĩa là: Đạo giáo khởi nguồn cho lễ Dục đạo - Tắm cho tôn tượng trong Đạo giáo (Trong lịch sử Việt Nam) - thì nó khá là tối nghĩa. Lễ tắm tượng của Đạo giáo không khởi nguồn từ Đạo giáo thì nó khởi nguồn từ đâu?? 💃
🚫 Còn nếu cắt nghĩa là: Đạo giáo khởi nguồn cho lễ Dục đạo - Tắm cho (mọi) tôn tượng (của các tôn giáo) trong lịch sử Việt Nam - thì vô lý. Năm 1072, tháng 4 mùng 8 đã có lễ Tắm Phật rồi (Đại Việt sử ký). Mà đấy là sách vở thế thôi, chứ chả lẽ tạo ra tượng, đặt lên bệ thờ mà cả đời không nghĩ đến lau dọn vệ sinh ư? 🗣️🗣️🗣️
Các bác có cao kiến gì không ạ 😆
#BinhLuan #LichSu #DaoGiao #PhatGiao #Vietnam #TamTuong #Daosiboi
Bài 3: Phật giáo "copy"? 🧠
Về vấn đề "Phật giáo ban sơ chưa có tượng", hay "nghi lễ tắm tượng là từ Ấn Độ giáo"
1️⃣ Thứ nhất: Giả sử mệnh đề "ban sơ Phật giáo không có tượng" là đúng thì cũng không có nghĩa là sau này không có. Mà đã có tượng thì ắt tự nhiên sẽ có nhu cầu lau rửa tắm giặt, rồi thể chế, nghi lễ hóa lại. Đâu nhất thiết phải đi học. 🧼
Mà tôi cho rằng mệnh đề "ban sơ Phật giáo không có tượng" phải là một mệnh đề bỏ ngỏ, vì từ trong trong Căn hữu luật Tạp sự (Thượng tọa hệ Hữu bộ), cho đến Tạo tượng kinh, Dục Phật công đức kinh, ... (các kinh Đại thừa), ... đều có ghi lại quá nhiều những câu chuyện về Sa môn chế tác tượng, vẽ tranh, lễ tượng, ... (Tuy có lúc chưa phải là tượng Phật, vì Phật còn tại thế). Như vậy, không sớm thì muộn, sau ghi Phật Bát nê hoàn, với sự thành kính của mình thì các đệ tử cũng sẽ làm tượng. 🏛️
2️⃣ Thứ hai: Về quan điểm Phật giáo "copy" lễ tắm tượng của các tôn giáo khác:
Như trên đã nói: Nghi lễ xuất phát từ sinh hoạt thường nhật, tự nhiên của bản thân Tăng đoàn, rồi lễ chế lên. Nó tự nhiên đến mức không cần copy. 🧘♂️
Tất nhiên trong quá trình tác động qua lại, có khi do ngoại đạo kích bác vì sao Phật giáo những lễ nghi này kia, nên Phật cũng chế định theo truyền thống đương thời. Như K. Marx đã nói: "Các nhà triết học không mọc lên như nấm từ dưới đất" (không có gốc rễ), mà "họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà những dòng sữa tinh túy nhất, quý giá nhất và vô hình nhất đang chảy trong các ý tưởng triết học" (mang tính dân tộc). Tuy nhiên chửa bao giờ Phật giáo đồ dùng nguyên xi nghi lễ đạo khác. 📖
🔍 Ví dụ:
Lễ Bố tát của Vệ đà giáo, Bà la môn phải mặc áo trắng, tay cầm cỏ tươi, bình nước, ... (theo kinh A hàm), phải đốt củi, tế lửa (theo Căn hữu luật). Còn Phật giáo Bố tát nơi đất trống, tụ họp để tụng giới. 📿
Tín đồ gặp Bà la môn thì nói "xin bái lạy", còn gặp Sa môn thì nói "xin kính lễ". 🙏
Các khái niệm nghiệp, kiếp, luân hồi, ... cũng được Phật giáo hấp thu nhưng nội hàm hoàn toàn khác. 🌀
🌟 Như vậy:
"Giống" là một lẽ tất nhiên của tính dân tộc.
Nhưng trong cái "giống" ấy lại có cái không giống (thì sao gọi là copy (?!!)) - Chỗ này HT. Ấn Thuận gọi là "nội không trái thật tướng, ngoại thuận thế tục". 🕊️
Dễ mà copy quá cơ đấy 😎
#TrietHoc #PhatGiao #AnThuan #KarlMarx #NghiLe #TuTuong #KienThuc
11. Nguồn gốc của bài tụng khuyến thỉnh Chư thiên thiện thần được dùng trong thời khóa của Phật giáo miền Trung
Một hôm, khi đêm gần tàn, đại vương Thắng Quang của Kiều Tát La cưỡi voi Bạch Liên Hoa cùng tùy tùng, có việc ra khỏi thành, cần đi đến nơi kia. Trong rừng Thệ Đa, Bật sô Thiện Hòa đang cao giọng tụng kinh. Khi voi của vua nghe âm thanh ưa thích này nên vểnh tai lắng nghe, không chịu đi tới. Quản tượng dùng móc câu đập vào chân nhưng voi vẫn đứng yên. Vua bảo quản tượng: "Hãy làm cho voi đi!"
Đáp: "Đại vương! Thần đã tận lực thúc đẩy tiến tới nhưng nó vẫn không bước chân, chẳng biết ý nó muốn gì?"
Vua bảo: "Hãy thả ra để tùy ý nó đi."
Quản tượng thả móc câu, voi liền đi đến vườn Cấp Cô Độc, đứng ngay cửa chùa vểnh tai nghe âm thanh. Tụng kinh xong, Bật sô Thiện Hòa đọc bốn bài kệ phát nguyện:
Chư thiên, A-tu-la, Dược xoa
Ai đến nghe pháp phải chí tâm
Ủng hộ Phật pháp cho trường tồn
Luôn luôn thực hành lời Phật dạy
Những vị nghe pháp nên đến đây
Ở trên mặt đất hoặc không trung
Thường hành tâm từ với loài người
Ngày đêm chính mình sống đúng pháp
Nguyện các thế giới thường an ổn
Ðem nhiều phước, trí lợi chúng sinh
Có bao nghiệp tội đều tiêu trừ
Xa lìa các khổ về tịch tịnh.
Thường xoa thân thể bằng hương giới
Dùng áo thiền định mặc kín thân
Trang điểm khắp bằng hoa tuệ giác
Sống ở nơi nào cũng an lạc.
Nghe kệ này xong, voi của vua biết đã hết thời kinh nên vẩy tai, bước chân đi, nhanh chậm tùy theo móc câu điều khiển.
12. Quan điểm lấy thanh sắc cầu đạo tương tự trong kinh Kim Cương
Dùng âm thanh cầu ta
Ái nhiễm loạn tâm họ
Không thể thấy được ta.
Ai chỉ biết bên trong
Mà không thấy bên ngoài
Theo trong mà cầu quả
Là bị mê vì tiếng.
Ai chỉ biết bên ngoài
Mà không thấy ở trong
Theo bên ngoài cầu quả
Cũng bị mê vì tiếng.
Ai không biết bên trong
Cũng không thấy bên ngoài
Phàm phu đều bị chướng
Cũng bị mê vì tiếng.
Ai biết rõ bên trong
Lại khéo thấy bên ngoài
Bậc trí sẽ xuất ly
Không bị tiếng làm mê
13. Quan điểm của Hữu bộ về Trung ấm thân và các thời kỳ thai nhi
Thổi thành miếng thịt phồng
Thịt phồng sinh bế thi
Bế thi sinh kiện nam
Kiện nam chuyển biến dần
Sinh đầu và bốn chi
Các xương hợp thành thân
Hiện hữu đều do nghiệp
Xương đầu có chín miếng
Kiên kết hai xương cằm
Răng có ba mưoi hai
Các căn cũng như vậy
Nhãn căn và xương cổ
Xương răng và sống mũi
Ngực ức và yết hầu
Gồm có mười hai xương
Hố mắt có bốn xương
Xương vai cũng hai cặp
Hai tay các ngón tay
Tổng số năm mươi xương
Sau cổ có tám xương
Xương sống ba mươi hai
Từ gốc này có thêm
Số phụ bốn mươi tám
Xương sườn phải liền nhau
Số lượng có mười ba
Xương sườn trái liền nhau
Số lượng cũng mười ba
Những xương này liền nhau
Ba liên kết với ba
Hai cái móc với hai
Ngoài ra không liên tục
Hai chân trái và phải
Hợp lại năm mươi xương
Cộng ba trăm mười sáu
Phân bố giữ trong thân
Xương cốt móc giữ nhau
Hợp thành thân chúng sinh
14. Phong cách thiền tông trong vấn đáp của Phật
Truyện Na Kích Đà: (tóm tắt đoạn đầu: Na Kích Đà là đệ tử của A Tư Đà - người xem tướng cho Phật, đến gặp Phật, nghe pháp và chứng Dự lưu, nội dung tiếp đoạn sau)
Sau khi thấy chân đế, vị này lạy sát chân Phật, bạch:
— Thế Tôn! Con xin được xuất gia trong thiện pháp luật của Phật, thành tựu tánh Tỷ khiêu, kiên trì tu tập phạm hạnh.
Phật dạy:
— Tuy con đạt được trí kiến như vậy, nhưng đối với ý nghĩa câu tụng chưa hiểu rõ ràng, đã không có biện tà
Phật dạy:
"Vua thứ sáu là lớn,
Nếu họ nói không hiểu thì nói kệ này:
"Người nào nghe diệu ngữ,
Nếu họ nghe kệ
"Ông nói ra lời Phật,
Khi nói như vậy, ông nên dùng móng tay xé lá trước mặt họ. Nếu họ lại hỏi về Thế Tôn ra đời
(Ngoại đạo mời vua dự buổi thách đấu thần thông để phân thắng liệt với Phật). Bấy giờ, Thế Tôn cùng năm trăm Tỷ khiêu La hán tiên nhân và các Tỷ khiêu khác, trời rồng bát bộ vây quanh trước sau đi đến nhà hiện thần thông, an tọa trên tòa sư tử trước đại chúng.
Có Ô ba tư ca tên Thần Tiên Mẫu đến gặp Phật, thưa:
Phật bảo T
Khi ấy trưởng giả người nghèo Tô Đạt Đa cùng cầu tịch Chuẩn Đà, cầu tịch nữ Tổng Kế, Tỷ khiêu ni Liên Hoa Sắc, lại có vô lượng vị có thần thông, đều đến trước Thế Tôn cùng nhau thưa thỉnh xin phép. Cũng đáp như trước, Phật bảo họ hãy an tọa.
Mục Kiền Liên chắp tay thưa với Phật:
Phật bảo Mục Liê
Phật hỏi vua Thắng Quang
Vua liền đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay
Thấy Phật im lặng nhận lời mình thỉnh cầu, nhà vua trở lại chỗ ngồi.
Bấy giờ, Thế Tôn nhập vào Thắng Tam ma địa, đang trên tòa bỗng nhiên biến mất rồi hiện ra trên hư không ở phương Đông, đi đứng nằm ngồi, nhập định Hỏa Quang phóng ra nhiều loại ánh sáng màu xanh vàng đỏ trắng hồng, dưới thân phóng lửa trên thân phun nước, trên thân phóng lửa dưới thân phun lửa, hiện thần biến như vậy ở khắp các phương
— Thần thông này chư Phật và chúng Thanh văn đều có. Đại vương, ai thỉnh Như Lai hiện vô thượng đại thần thông trước các ngoại đạo và chúng nhân thiên?
Vua lại rời chỗ ngồi, làm lễ như trước và thưa:
Biết Phật im lặng nhận lời, vua trở lại chỗ ngồi.
Thế Tôn lấy tay
Biết được ý của Phật, Long vương suy nghĩ: "Vì sao Thế Tôn đặt tay
Khi Thế Tôn đã hiện thần thông, vua Thắng Quang cùng nội cung, vương tử, đại thần cùng vô số vô lượng trăm ngàn người trong thành phố xóm làng và khách ở xa cũng đều vân tập đến chiêm ngưỡng thần thông mắt chăm chú nhìn mãi. Trên không trung cũng có vô lượng trăm ngàn đại chúng thiên tử lặng yên không cử động, cùng nhau quan sát thần thông, cung kính cúng dàng, lòng không nhàm chán, khắp nơi đều có tiếng trống nhạc vang rền, tiếng thổi ốc kéo dài, ca múa nhiều cách, cho đến cầm thú cũng đều vui mừng phát ra âm thanh, ngựa hí
Khi ấy, chư Thiên trên hư không tấu nhạc trời, tung hoa sen trời đủ màu xan
Khi hiện đại thần thông như vậy xong, vì muốn điều phục giáo hóa hữu tình nên Như Lai nói kệ:
"Ngươi
16. Hóa Phật
Như câu chuyện Phật hiện thần thông hàng phục ngoại đạo đã nêu trên. Trong thần thông hóa ra vô số hóa Phật.
0 Nhận xét