Advertisement

Chư tổ soạn tác học giới chư văn Quốc Ngữ Diễn Nôm

 Chư tổ soạn tác học giới chư văn Quốc Ngữ Diễn Nôm

I. Tại Thế Tục Gia Quốc Âm Ngũ Giới

(Lân Giác Sa di Như Như Trừng Trừng soạn)


Như Như vâng giáo Chân Nguyên,

Diễn dương luật tạng lưu truyền lâu xa,

Lành thay hai chúng tại gia,

Nam xưng Bà tắc nữ là Bà di,

Sơ trao năm giới ba quy,

Lấy làm công cứ để ghi công trình.


1.

Thứ nhất là giới sát sinh,

Thể lòng nhân thứ lấy mình mà suy,

Rằng loài súc vật ngu si,

Song đều úy tử khác chi tính người,

Số là sinh hóa đổi dời,

Vảy lông sừng mỏ khác nơi thân hình,

Cùng ta lụy kiếp đa sinh,

Ai hay ấy chẳng phụ huynh cô dì,

Bây giờ nhục nhãn nan tri,

Nỡ làm tàn hại quên nghì chẳng thương,

Lại cùng xẻ thịt róc xương,

Đua nhau gỏi chả nhiều phương dái dùng,

Khiến cho thù đối tương phùng,

Hại người người hại chẳng cùng nghiệp oan,

Luân hồi sáu đạo tuần hoàn,

Nghiệm làm nghiệm chịu hầu toan nhẽ gì,

Vậy nên đức Phật từ bi,

Khuyên cho sám hối một khi mà trừ,

Nói không biết đã cứ chưa,

Phải trao giới luật để ngừa quá phi,

Hễ loài hay nhảy hay đi,

Hay bay hay cựa cũng thì súc sinh,

Khôn thiêng cũng một tính tình,

Tay mình chớ giết miệng mình chớ xui,

Thấy thời tua xá ngậm ngùi,

Dầu ngăn chẳng đã đành bui dựa chiều,

Lánh phô sự thế hiểm nghèo,

Buôn gà bán lợn nuôi mèo ươm tơ,

Miễn loài dò lưới bủa lờ,

Mựa dung người thế để nhờ trong da,

Thửa ngày húy kỵ ông cha,

Dầu chưa trừ khỏi nghiệp nhà thói quê,

Phải dùng phương tiện chẳng nề,

Thời mua của sẵn như lề tế đơm,

Vẹn mình danh sạch dấu thơm,

Thịt hàng cá ngã cháo cơm ngày dài.


2.

Thâu đạo là giới thứ hai,

Hễ là phi nghĩa hoạnh tài chớ ham,

Xưa nay còn một giống tham,

Hay dời quân tử ra làm tiểu nhân,

Sang hèn dẫu đã khác luân,

Thửa điều háo lợi sao gần sánh nhau,

Của mình mình tiếc mình đau,

Của người sao được lá rau cũng mừng,

Thí ra ỷ có ngại ngừng,

Thu vào sao chẳng biết chừng khi no,

Chúng nhân hãy xét đấy cho,

Sao lòng mọn ấy chẳng so hại tày,

Vậy nên Phật chế giới này,

Dặn rằng lấy đấy làm thầy trị tâm,

Lưu truyền lịch đại cổ kim,

Để cho Thích tử thiền lâm thọ trì,

Chẳng cho chẳng lấy làm kỳ,

Của người nào lọ vật gì trọng khinh,

Nhẫn từ ngọn lá đầu cành,

Chẳng xin chẳng được tư tình hái nhăng,

Lẫn điều kém thước vơi thăng,

Cùng nương quyền thế nằng nằng lấy không,

Láng giềng nhà láng giềng đồng,

Cõi bờ chẳng được hơn lòng lấn sang,

Vườn chung bừa cỏ thấy vàng,

Hiền thay ngươi Quản chẳng màng khá khen,

Danh lành thanh sử để khen,

Long hương thảo nễ còn đen tới rày,

Chúng đà quy hướng đạo nay,

Thiên vàn ấy nhẽ ăn ngay ở lành,

Chớ hề vật mắt gian manh,

Khó giàu phận ở trời dành số xui,

Đạo màu nếu đã thấu mùi,

Cóc hay thời khó mà vui cầu gì,

Thênh thênh đường cả mà đi,

Màng bao tới sự phi vi ấy là.


3.

Tà dâm là giới thứ ba,

Phu thê nghĩa cả tại gia nghiệp lề,

Trai thời tâm chính gia tề,

Chớ say liễu lục đừng mê đào hồng,

Gái thời vẹn tiết thờ chồng,

Chớ lay lẽ chính mà lung sự tà,

Xưa nay vì nỗi nguyệt hoa,

Nghiệm xem lầm cát biết là bao nhiêu,

Gái thời ghen ghét gợi trêu,

Trai thời tơi tả làm tiêu thế cười,

Mượn màu son phấn tốt tươi,

Một thuyền quyên biết mấy mươi anh hùng,

Ốc ngờ kim cải tương phùng,

Nào hay trái chủ sánh cùng oan gia,

Sắc thanh thể chẳng phong ba,

Trượng phu mấy sức buồm qua khỏi ghềnh,

Đã rằng nghiêng nước nghiêng thành,

Sao còn khứng để bên mình chắt chiu,

Vì xuân nào quản tổn tiêu,

Ôm đồm ba bảy dập dìu bướm ong,

Bao nài phí của nặng lòng,

Miễn là ích lợi hai vòng con ngươi,

Nào hay đao giấu trong cười,

Dương thành hạ sái hoặc người chỉn ghê,

Bằng nay phép Phật độ mê,

Phó trao giới luật làm lề trấn tâm,

Tại gia nhẽ chửa dứt dâm,

Hễ ngoài kinh bố cảo châm thời đừng,

Trọng chi của đã trao nhăng,

Sao tày hễ sự bất ưng chẳng màng,

Trai thời bền nghĩa tao khang,

Cợm già mựa nỡ hạ đường phụ nhau,

Gái thời tiết sạch làu bàu,

Giãi niềm chuyên chính xưa sau phó trời,

Bao giờ mãn kiếp trọn đời,

Mới hay nạp tử chẳng lời thốt hư.


4.

Vọng ngôn là giới thứ tư,

Kẻo còn thất tín khiếm dư vô bằng,

Lưỡi mềm uốn phải làm chăng,

Thấy rằng chẳng thấy hay rằng chẳng hay,

Miễn loài đồng cốt lếu vay,

Mượn hồn ma quỷ múa may dối thời,

Giả hình vóc tướng tăng ni,

Đá mài lận ngọc đồng xuy luận vàng,

Ỷ ngữ là nói vẻ vang,

Quyến bề hoa nguyệt khêu đàng yến oanh,

Thư từ ton ngót dỗ dành,

Khiến người đắm sắc say thanh quên nhà,

Lẫn loài lợi kỷ tổn tha,

Đồ mưu thợ kiện giáo toa thầy dùi,

Lời khong tiếng phỉnh ngọt bùi,

Tai phàm bén phải ưa mùi dễ phiêu,

Lưỡng thiệt là lưỡi hai chiều,

Ở đây nói đó đăm chiêu thất thường,

Nống gièm hủy kẻ hiền lương,

Tố thầy tố bạn nhiễu nhương phép lề,

Lại còn một giống muông dê,

Khen lao trước mặt rón bì sau lưng,

Ngộ khi sa thế sảy chừng,

Vỗ tay vào thỏa vui mừng giàu sang,

Ác khẩu là miệng dữ dàng,

Lấy điều sất sá cang cường mà giơ,

Bõ hờn trong một bấy giờ,

Phun người chẳng cóc lại nhơ miệng mình,

Lại còn một giống vô minh,

Chê bôi đạo chính vực bênh thầy tà,

Lẫn loài mắng mẹ mắng cha,

Chửi mưa chửi gió gièm pha thánh hiền,

Miệng người bốn giống nghiệp duyên,

Như bình phải giữ cho tuyền khó thay,

Sảy chèo khôn lẽ bá tay,

Đến khi đã lỗi mới hay là lầm.


5.

Ẩm tửu là giới thứ năm,

Rượu hay tổn trí bại tâm lao thần,

Hòa thêm phí của nhọc thân,

Ăn càn ở rỡ thế nhân xem hèn,

Say sưa quáng nắng ngỡ đèn,

Cơ quan để mặc thần men dụng màng,

Hỗn hào ngọc đá thau vàng,

Lõa lồ hình thể hoang đàng thốt thăng,

Dắt tay díu áo lăng nhăng,

Gặp nơi tranh đấu cũng băng mình vào,

Một đôi chân thấp chân cao,

Thấy cha chú cũng mày tao chẳng nhường,

Mê hồn đổi tính khác thường,

Mấy lời trung cấu tỏ tường nói ra,

So kè chẳng quản nhuốc nha,

Đem mình tới chốn phồn hoa mới càng,

Chi từ bầu rắn nhà vàng,

Mây mưa miễn thỏa một tràng mộng xuân,

Trong vui nào đoái tiếc thân,

Đã liều khí huyết tinh thần cho hư,

Đã mà tỉnh giấc lao lư,

Áo xiêm đầu tóc khéo như ai vò,

Lạ thay lòng đói miệng no,

Nước cơm bã cháo cầm cho khỏi ngày,

Nóc nhà trông ngỡ ai quay,

Ruột gan nồng nã chân tay rụng rời,

Khi say sảng sốt mấy lời,

Bấy giờ nghĩ lại nhiều nơi thẹn thò,

Người khôn sao chẳng sấn so,

Ích chi sự ấy làm cho hại mình,

Bằng nay phép Phật độ sinh,

Dựng làm giới luật thiết tình cấm răn,

Bui khi bệnh khổ bức thân,

Rộng cho chế thuốc mỗ phân cứu nàn,

Kỳ dư bình nhật an nhàn,

Trọn đời chẳng được loàn đan đãi đằng,

Sắt son một tấm lòng hằng,

Giữ năm giới ấy khăng khăng chớ dời,

Trước là thanh bạch ở đời,

Thánh thần cấp phúc bụt trời sủng ơn,

Khác nào cây cỏ đất hơn,

Tuy chẳng thấy lớn một cơn bấy giờ,

Song le ngày có lãi lờ,

Đượm nhuần hoa lá sởn sơ cội cành,

Sau thời thiện quả viên thành,

Thiên đường Phật quốc siêu sinh mãn nguyền,

Đại công đức đại nhân duyên,

Đem nhau cùng tới bảo liên hoa đài,

No ngày trưởng dưỡng thánh thai,

Nở ra liền thấy nghiệm lời Như Như.


II. Thập giới Sa di Quốc ngữ

BÀI TỰA XUẤT GIA SA DI QUỐC ÂM THẬP GIỚI

Giới là phép Bụt vậy, Bụt định làm giới phẩm bốn đàn, Cho thế nhân công phu ngày tháng tu tập tiến dần,

Đàn thứ nhất trao năm giới cho kẻ còn tại gia, Nam xưng rằng Ưu bà tắc, cũng xưng rằng Ổ ba sách già, Nữ xưng rằng Ưu bà di, cũng xưng rằng Ổ ba tư già, Ấy là giới phẩm thiện nam tín nữ đàn,

Thứ hai trao mười giới cho kẻ mới xuất gia, Nam xưng rằng Sa di tăng, Nữ xưng rằng Sa di ni, Ấy là giới phẩm tiểu tăng trường trai thế phát đàn,

Thứ ba nam thụ hai trăm năm mươi giới xưng rằng Tỉ khiêu tăng, cũng xưng rằng Bật sô tăng, Nữ thụ năm trăm giới xưng rằng Tỉ khiêu ni, cũng xưng rằng Bật sô ni, Vì nữ nhân tính đa tham dục, vậy nên giới luật gia bội, Ấy là giới phẩm đấng cao tăng,

Đàn thứ tư bốn trăm giới xưng rằng Bồ tát, Ấy là Tiến sĩ nhà thiền, Rất phẩm tu hành, Sau nữa mới hầu tiến lên Phật,

Phật như quốc vương, giới như pháp luật, Tăng như triều thần, Quốc vương định pháp luật cho triều thần, Triều thần vâng pháp luật chưng quốc vương, truyền pháp luật cho dân thứ, Thửa rằng Phật pháp dữ vương pháp đồng, Tượng vi pháp ấy vậy,

Như Như thấy trong luật tạng giới pháp cẩn nghiêm, hội thấy chúng tăng thụ trì thất thố, Hoặc có kẻ trường trai thế phát mà thụ năm giới phẩm tại gia, khiến cho kẻ tại thế tục gia thời chẳng có giới phẩm mà thụ, Hằng thấy thau vàng hỗn tạp, nhân chưng ngọc ít đá nhiều, chẳng thuyết kẻ có biết mà chẳng tu, khá thương kẻ có lòng tu, mà thầy hổ thầy chẳng truyền, mình nói mình chẳng biết,

Vậy Như Như thể lòng từ mẫn, gác để chẳng đành, nhân cứ trong luật tạng mười giới xuất gia, ngụ tiếng quốc âm, mở đường thuận tiện, tuy chẳng ích tới kẻ cao nhân đại sĩ, song cũng lợi cho người nhập học tiểu tăng, Nhẫn có ai nhân đấy mà nên, thời Như Như vun cội Bồ đề, lau đài minh kính cũng là công vậy,

Thời Bảo Thái thất niên tuế tại Bính Ngọ Tân Sửu nguyệt thập ngũ nhật thư vu Liên Tông tự Ly Trần Viện.

XUẤT GIA SA DI QUỐC ÂM THẬP GIỚI

Như Như vâng giáo Chân Nguyên,

Diễn dương luật tạng lưu truyền lâu xa,

Lành thay kẻ mới xuất gia,

Gượng trao mười giới gọi là Sa Di,

Trước đàn bốn nguyện ba qui,

Thế trừ lĩnh lấy điền y vận mình.


1.

Thứ nhất là giới sát sinh,

Từ bi đạo ấy lưu tình tại nhân,

Muôn loài hễ giống có thân,

Thửa tình muốn sống dễ phân khác gì,

Cũng dòng một tính linh tri,

Vảy lông sừng vuốt hình tuy chẳng cùng,

Luân hồi chuyển kiếp khôn thông,

Hoặc là cha mẹ vợ chồng anh em,

Đổi thân lạ dấu khôn tìm,

Lộn vào sâu bọ muông chim khác loài,

Giết lầm ăn lỡ dông dài,

Trả ân làm oán bao nài nghiệp duyên,

Vậy nên điện bụt am thiền,

Tiếc ngài phải dạy che đèn há nga,

Nước ăn lấy vải lọc qua,

Bước đi phòng kẻo xông pha đạp giày,

Chớ nuôi muông giữ trâu cày,

Gửi lòng không khó ăn mày thập phương,

E trừ sâu lá bọ tương,

Thuốc dùng thảo mộc kẻo phương vật loài.


2.

Thâu đạo là giới thứ hai,

Ngay lòng lọ phải then cài chửa tin,

Một tơ xem bẵng muôn nghìn,

Của người chẳng những bạc tiền mới răn,

Chẳng cho chẳng lấy làm ngần,

Cành cây ngọn cỏ mỗ phân mựa hề,

Kinh rằng một gã Sa di,

Trộm bánh tăng chúng trai thì ba phen,

Một Sa di trộm đường phèn,

Vật khinh tình trọng ngỡ hèn chẳng phân,

Một Sa di trộm trái ăn,

Ba người ấy phải đọa thân tam đồ,

Khuyên ai ai nghĩ đấy cho,

Liếc gương kẻ trước mà tu sửa mình,

Nếu còn vật mắt gian manh,

Lọn đời chay lạt công trình bỏ đâu,

Răn lòng chẳng những xuyên thâu,

Tổn nhân ích kỷ thấy âu chớ làm,

Bao giờ lọt khỏi nguồn tham,

Độ mình mới biết trần phàm khác xa.


3.

Dâm dục là giới thứ ba,

Cổ kim biết mấy tay già chịu non,

Đã rằng bỏ rẻ vợ con,

Tăng phòng sao có khuê môn tảo tần,

Nếu mà dục giới đã gần,

Máy Thiền dễ động khôn phân cõi bờ,

Tấc mây vầng nguyệt nên mờ,

Vô tâm đổi cảnh bao giờ chửa hay,

Hái ba năm đốt một giây,

Dái khi tiếc củi mà cây chẳng còn,

Vật chi nguyệt phấn hoa son,

Khứng mài gan sắt cho mòn cớ sao,

Ví như bể ái hay dào,

Chớ thì còn gửi mình vào làm chi,

Kinh rằng có bật sô ni,

Mộng lòng dâm dục lại khi pháp màu,

Rằng dâm chẳng sát chẳng thâu,

Hại người chẳng có tội đâu tới mình,

Bỗng không mãnh hỏa tự sinh,

Phút giây cháy hết thân hình chẳng dư.


4.

Vọng ngôn là giới thứ tư,

Chẳng cho hư thực thực hư dối người,

70. Có không bày đặt nên lời,

Chỉ hươu rằng ngựa tơi bời dọc ngang,

Ỷ ngữ là nói vẻ vang,

Quyến người động dục mua thương chác hờn,

Phỉnh phờ thêu dệt dỗ mơn,

Khiến lòng đá sắt nên sờn nên xiêu,

Lưỡng thiệt là lưỡi hai chiều,

Ở đây nói đó xui yêu kết thù,

Miệng bằng tráo trở xiểm vu,

Giả tên dối họ bôn xu chẳng thường,

Ác khẩu là nói dữ dàng,

Đe loi chửi mắng được càng tranh năng,

Hại người gươm giáo đâu bằng,

Miệng hằng gang thép dạ hằng gai chông,

Khẩu nghiệp vốn ấy gian hùng,

Diệt trừ khỏi cả mới mong tót vời,

Ngàn vàng khôn chuộc một lời,

Ví rằng nói khó chẳng chơi chớ lầm.


5.

Ẩm tửu là giới thứ năm,

Kẻo cho cuồng dược bá xâm tính thường,

Để cho trí tuệ chủ trương,

Kẻo hao tinh huyết kẻo thương khí thần,

Hãy suy từ cõi hương lân,

Xưa nay vì rượu bỏ thân mấy người,

Thần men một đoạn vui cười,

Tính mình khác đã năm mười dặm xa,

Lại thêm rủ nguyệt quyến hoa,

Trong khi chẳng tỉnh ai là có khôn,

Huống đà đứng cửa sa môn,

Thế gian một tiếng suy tôn là Thày,

Tròn đầu vuông áo dường này,

Mộng trần chửa tỉnh còn say lấy gì,

Trăm năm thể đã định kỳ,

Tưởng rằng rùa hạc thực thì thước gang,

Sá tua phản chiếu hồi quang,

Tỉnh hồn trong giấc hoàng lương mới màu,

Còn mang thuốc dại trong bầu,

Thì mê hồ điệp thể âu đến già.


6.

Thứ sáu là giới hương hoa,

Hình dung chẳng được lượt là điểm trang,

Cho hay thì sự vẻ vang,

Thoáng qua vẫn tựa một tràng mộng xuân,

Hoa trước mắt vật ngoài thân,

Vô mùi mà lại có phân động tình,

Ví dù giới tịnh tuệ minh,

Hương nào hơn nữa hương mình thơm tho,

Áo xiêm thì dùng vải thô,

Ruột tằm lông thú chẳng cho đoái hoài,

Thói thường tía lạt thắm phai,

Ta thì áo vải chỉ gai đạo bền,

Cho hay dòng bụt giống tiên,

Giày rơm nón lá cũng nên chẳng nề,

Thế tình bỗ bã rằng quê,

Ta xưng nạp tử dầu chê mặc lòng,

Đòi khi bia tạc ấn phong,

Nghiệm thay hễ sắc thì không có gì,

Nghĩ câu nhất thiết hữu vi,

Mà xem lọ phải nói chi nữa là.


7.

Thứ bảy là giới xướng ca,

Kẻo cho tơ trúc xâm pha tính tình,

Hễ loài cầm sắt tiêu sênh,

Cùng nơi múa hát dập dình nhởn nhơ,

Miễn loài đánh đáo bạc cờ,

Cùng nơi điếm rượu lầu thơ chơi bời,

Tăng Ni tu chửa trọn đời,

Giữ cầm giới pháp mựa dời bản chân,

Chẳng nghe vả chẳng tới gần,

Lánh mình cho tuyệt thanh trần mới yêu,

Gì hơn suối chảy thông reo,

Thanh cao đã gác trần hiêu mới tìm,

Yên vui mà chẳng hoang dâm,

Lại thêm sảng khí dưỡng tâm ngụ nhàn,

Kệ mầu câu nhiệm muôn vàn,

Màng chi thanh sắc trong đoàn lợi danh,

Số là hằng thuận chúng sinh,

Cho nên lại phải diễn kinh làm đàn,

Khoa nghi lễ nhạc bách ban,

Mở quyền ra độ thế gian đạo tràng.


8.

Thứ tám là giới cao sàng,

Dựng lề khiêm hạ dứt đường kiêu căng,

Phép xưa giường dùng đằng thằng,

Như Lai tám ngón đo bằng chẳng qua,

Cao hơn thì phạm há nga,

Sá tua gìn giữ tiết ta chớ dời,

Nơi ngồi nằm chốn nghỉ ngơi,

Mựa dùng trạm trổ vẽ vời gấm thêu,

Thuở xưa đệm cỏ ngồi hiêu,

Nằm hang ở núi còn nhiều vẻ hay,

Huống chi dõi xuống đời nay,

Đã cao giường phản lại dày chiếu chăn,

Hơn xưa biết đã mấy phân,

Lọ là rộng rãi sắc thân làm gì,

Quốc sư tích cũ còn ghi,

Trầm hương toà báu nhân vì vua ban,

Làm cho mười kiếp nghiệp oan,

Lại lo báo được tai nàn mới xong,

Ví dù chẳng chút sai lòng,

Oan hồn Triều Thác còn ngong lấy gì.


9.

Thứ chín là giới phi thì,

Cứ từ nhật ngọ làm kỳ bữa chay,

Một rằng thiên thực rạng ngày,

U đồ ngã quỷ nghiệp đầy về âm,

Nếu nghe khua bát động mâm,

Dạ thèm dậy lửa cháy xâm yết hầu,

Vả còn ý nhiệm cơ mầu,

Ngụ trong giới ấy để sau mật truyền,

Hễ đà lạc phát tu thiền,

Ăn từ bán nhật dĩ tiền mà thôi,

Bui khi thời khí xảy xui,

Giá sương nắng gió phỉ phui chẳng hằng,

Sự chăng được chớ há rằng,

Bấy giờ giới ấy dường bằng bỏ rơi,

Thửa trong giây phút biến dời,

Rộng cho khi có mặt trời cũng nên,

Đã lành lại giữ cho tuyền,

Xuất gia giới luật mười thiên rạch ròi,

Ngoan tăng sao bỗng quen mui,

Bảo nhau nói lý mà lui khá cười.


10.

Tróc trì là giới thứ mười,

Chẳng nề phân biệt của người của ta,

Bạc vàng châu báu ngọc ngà,

Tơ hào chẳng được tay tra bắt cầm,

Giống hay hoặc tính mê tâm,

Gây tham mống hoạ cổ kim đùng đùng,

Mượn gương người Khải người Sùng,

Giơ xem phải thấy vô dùng hay chăng,

Huống chi bỏ tục làm tăng,

Nam minh đã quyết côn bằng hoá bay,

Một bình một bát lọn tay,

Dày mỏng và tấm đổi thay đông hè,

Tuyết sương thì đói bụng ve,

Chẳng cầu yêu trọng chẳng e khấu thù,

Gió xuân đắp đổi trăng thu,

Mặc dầu thích ở ngao du rừng thiền,

Nương nhờ phúc lộc tự nhiên,

Cửa nhà cơm áo tuỳ duyên thế tình,

Dầu ai đon hỏi lợi danh,

Lắc đầu biếng thốt xưng mình bần tăng,

Sắt son một tấm lòng hằng,

Giữ mười giới ấy khăng khăng chớ dời,

Bao giờ trong sạch cả mười,

Vậy sau sẽ nhắc lên vị Tỉ khiêu,

Tỉ khiêu giới đã vẹn thâu,

Thì Bồ tát giới mới hầu bước lên,

Bấy giờ giới túc công viên,

Thần khâm quỷ phục đích nên Tăng già,

Thẳng lên chín phẩm đài hoa,

Ngõ đền thửa chí xuất gia bấy chầy,

Thiết vì mười giới trước nay,

Xa đường nặng gánh ghê thầy phao tuông,

Trí ta bền giữ chớ buông,

Đúc mười giới ấy ba vuông bảy tròn.

III. Uy Nghi Quốc Ngữ Diễn Nôm

Như Thị cũng dòng Chân Nguyên,

Lịch triều pháp sự quốc ban rõ ràng,

Cổ kim nay cũng đảm đang,

Theo đòi dấu trước mở mang kim thì,

Giải hai mươi bốn uy nghi,

Để cho hậu học biết thì kính tôn.


1.

Một rằng kính đại Sa môn,

Chẳng được hô hoán húy ngôn tên người,

Chẳng được đạo thính chê cười,

Chẳng được đem nói sự người thị phi,

Dù thấy sa môn bước đi,

Khởi thân hành lễ một khi tôn nhường,

Trừ khi đang tụng kinh đường,

Bệnh cùng thế phát thời thường bữa ăn,

Thấy trong Hành Hộ Luật vân,

Năm hạ về trước ấy phần Xà Lê,

Năm hạ về sau kể đi,

Ấy ngôi Hòa Thượng Sa Di biết tường.


2.

Hai rằng sự sư tại đường,

Hễ là đệ tử xem tường luật nghi,

Hầu thầy dậy sớm nằm khuya,

Học hành kinh giáo cứ y đạo truyền,

Nhược bằng nhầm lỗi chưa nên,

Bản sư giáo giới tâm yên nhĩ đề,

Chẳng được nghịch ngữ lại chi,

Hợp chưởng hồ quỳ sám hối từ nay,

Thị sư chẳng được sánh bày,

Đứng ngồi chẳng được cao rầy hơn sư,

Ví dù khiến việc tạp dơ,

Chẳng được khạc nhổ thờ ơ ngại phiền,

Dù khi có khách đến chiền,

Phải ra tiếp đãi đứng bên hầu thầy,

Để cho khinh trọng biết hay,

Lĩnh ý nhời thầy dậy bảo làm sao,

Hễ là đệ tử cần lao,

Chẳng được trì hoãn rêu rao công trình,

Sư dù khí cảm bệnh sinh,

Sửa sang phòng thất sự tình hẳn hoi,

Thuốc thang cơm cháo dưỡng nuôi,

Ấy là đệ tử thực người hiếu trung,

Giường thầy chẳng được nằm chung,

Áo thầy chẳng được mặc cùng ướm chơi,

Cửu cửu thân cận chớ rời,

Khẩu truyền tâm thụ những nhời cơ quan,

Nghĩ thầy đức chửa cao nhàn,

Đạo còn thiếu thốn hãy toan đi tìm,

Học được lại về viếng thăm,

Tưởng ngày nhất tự sơ tâm đến người,

Vỗ về giáo huấn hôm mai,

Chẳng nhiều thì ít vì người mới nên,

Đừng lòng được cá bỏ nơm,

Giáo đa thành oán sao nên đạo tình.


3.

Ba rằng Tùy sư xuất hành,

Cúi đầu thui thủi lộ trình theo sau,

Chẳng được tả hữu trông đâu,

Chẳng được trò chuyện cùng nhau bên đường,

Chẳng được thăm viếng người làng,

Chẳng được vào chốn họ hàng quen nay,

Dù khi đàn việt đám chay,

Chờ cho thầy dạy thì nay sẽ ngồi,

Hoặc thầy ngoạn cảnh vào chơi,

Dù khi lễ Phật chớ hồi khánh xôn,

Hoặc là thầy muốn đăng sơn,

Mang chiếu Bồ Đoàn theo kíp cho nhanh,

Bằng khi thầy có viễn hành,

Bất ly tất hạ thân tình chớ xa,

Giữa đường khe suối thăm qua,

Tay cầm con gậy biết hòa sâu nông,

Mọi đồ phó thác giữ dùng,

Phải xem cho cẩn thủy chung mựa rời,

Phải khi có việc phân sai,

Hẹn chờ đâu phải cứ nhời đinh ninh,

Trai thời thị lập xuất sinh,

Chờ cho thực ngật thời mình sắp thu.


4.

Bốn rằng Nhập chúng đồng trò,

Cùng nhau huynh đệ ở cho lục hòa,

Chẳng được tranh cạnh huyên hoa,

Cậy tài cậy trí mình ta hỗn hào,

Chẳng được khoe có công lao,

Mà khinh đại chúng tu sao cho tuyền,

Nằm thời chẳng được nằm tiên,

Dậy thời chẳng được khiên diên sau người,

Xỉa răng xúc miệng rửa môi,

Từ từ nhổ nước chớ bồi tiếp nhân,

Cùng nơi điện tháp thanh tân,

Chẳng được khạc nhổ hình thân lõa lồ,

Chẳng được đa tiếu sô bồ,

Cùng nhau cợt nhiễu những trò hý ngôn,

Minh đăng thường cúng Phật tiền,

Chẳng được tự tiện đem chuyên ra ngoài,

Hoa thời lấy thuở còn tươi,

Cúng rồi chẳng được bỏ nơi đất dày,

Nghe gọi thời phải thưa ngay,

Lấy nhời niệm Phật chúng rày hiểu tri,

Chớ bạn niên thiếu Sa Di,

Ngây thơ nào biết phép thì làm sao,

Chẳng được nhàn tẩu ra vào,

Khi dỗi tập viết dồi dào bút nghiên,

Chẳng được tỵ lãn thâu an,

Chốn tránh việc chiền đại chúng cười chê,

Mặc thời cứ đủ tam y,

Dư chẳng được để trao cho bạn hiền,

Hễ là mỗi nhật lên chiền,

Sửa sang cẩn thận vững bền áo xiêm,

Rửa tay rửa mặt tinh nghiêm,

Đèn hương chuông mõ rồi liền tụng kinh,

Chẳng được đàm thuyết triều đình,

Việc trong chính sự vô tình biết chi.


5.

Năm rằng Tùy chúng thực thì,

Nghe tiếng kiền trùy kíp phải chỉnh y,

Ngồi xuống thong thả một khi,

Tay nâng ứng khí niệm thì xuất sinh,

Cháo cơm bẩy hạt cho tinh,

Bún bánh một tấc tày hình móng tay,

Trao cho đồng tử tống ngay,

Hoặc là lại muốn tưởng rày ngũ quán,

Chẳng được đàm tiếu loạn ngôn,

Chẳng được thái tốc cùng cơn thái trì,

Chẳng được lộ sự sinh nghi,

Chẳng được khua kháo bát thì tác thanh,

Chẳng được ăn trước một mình,

Chờ cho có đệ có huynh đồng thì,

Chẳng được mặn nhạt khen chê,

Rồi thời chẳng được dậy đi trước người,

Đũa cầm dìu dặt khuyên mời,

Đồng bàn thực tất cùng dời bước ra.


6.

Sáu rằng Lễ Phật chiền già,

Hai bên thì được giữa tòa trụ Tăng,

Thấy trong pháp có dậy rằng,

Khi người lễ Phật thì đừng bước qua,

Chắp tay chẳng được cao giơ,

Bằng nhau mười ngón cứ hòa tề hung,

Kính thầy lễ trước thung dung,

Sau ta sẽ lễ chớ cùng lễ đua,

Hoặc khi sãi vãi đến chùa,

Có thầy ngồi đấy chớ cho lễ mình,

Khách dù quan chức triều đình,

Đang trì kinh tượng chớ khuynh vái người.


7.

Bảy rằng Thính pháp chẳng chơi,

Nghe hiệu mộc bài pháp phục sửa sang,

Kíp lên cho sớm tòa đường,

Ngồi thì nghiêm túc tai tường dạ ôn,

Chẳng được chuyên ký danh ngôn,

Chẳng được thêm bớt khéo khôn khoe tài,

Đạo còn phảng phất bên ngoài,

Chưa ngộ rằng ngộ vào tai ra mồm,

Thiếu niên tài đức chưa gồm,

Xá tua học luật chớ nom giảng đình.


8.

Tám rằng Tập học điển kinh,

Luật nghi học trước kinh dành học sau,

Học hành săn sắn cho mau,

Luật kinh tôn trọng mới hầu nên thân,

Chẳng được miệng thổi kinh trần,

Chẳng được tạp vật để gần án kinh,

Kinh dù tổn hoại chẳng lành,

Kíp toan tu bổ chớ đành tạ lang,

Chẳng được tập học ngoại chương,

Thần kỳ quỷ quái những đường tà sư,

Chẳng được học tập binh thư,

Sấm ngôn nhâm độn cùng chư hoang đường,

Viết thời cứ lấy rõ ràng,

Ngang bằng sổ thẳng chẳng màng cầu công.


9.

Chín rằng Nhập tự viện trung,

Chẳng được cửa giữa thẳng xông bước vào,

Hoặc là tả hữu bên nào,

Tả thời tả chuyển hữu vào hữu biên,

Chẳng được vô cớ đăng đền,

Vô cớ đăng tháp chẳng nên đâu là,

Khạc nhổ thời lánh cho xa,

Chẳng được gần tòa điện tháp chung quanh,

Nhiễu tháp thời nhiễu mấy vòng,

Hoặc ba hoặc bẩy kể trình biến tri,

Nhiễu thời chuyển hữu mà đi,

Chẳng được chuyển tả lỗi khi pháp mầu,

Gậy cầm cùng nón đội đầu,

Điện tháp chẳng được dựng đâu mặc lòng.


10.

Mười rằng Vào chốn Tăng phòng,

Chớ mê thế sự chớ lòng nguyệt hoa,

Đêm ngày cư xử vào ra,

Nhất phân khổ hạnh chí ta vững bền,

Học hành kinh giáo bút nghiên,

Cứ việc chùa chiền thầy dậy phải nghe,

Chẳng được gian đảng bạn bè,

Ăn cùng xúp xoáp nữa thì làm sao,

Chẳng được húng hính tiếng cao,

Chẳng được trang điểm khác nào thế gian,

Chẳng được mặt mũi châu chan,

Chẳng được giận dữ nói càn nói dông.


11.

Mười một Chấp tác việc trong,

Thổi cơm ghín nước một lòng kính tin,

Rửa chi cứ đủ ba phen,

Nước thời phải lọc chẳng nên dối người,

Củi đun chẳng được dông dài,

Nước sôi chẳng được đổ ngoài đường đi,

Dù có nước nóng một khi,

Chớ đổ xuống đất nữa thì tổn sinh,

Nhất thiết quả thái trọng khinh,

Hễ thấy lang tạ thời mình cất thu,

Móng tay dài phải cắt đi,

Để lâu cấu uế giắt thì vào trong,

Quét chùa chẳng được nghịch phong,

Rác chẳng được để tích chưng trong chùa,

Nghị trùng tước thử thời xua,

Chẳng được cố sát tăng tu thất nghì.


12.

Mười hai vào nhà dục nghi,

Trước thì rửa mặt sau thì giội lưng,

Chẳng được hý tiếu nói năng,

Chẳng được mượn gáo tắm chưng hai người,

Tắm mau cho chóng tỵ hồi,

Chẳng được trì hoãn còn người tắm sau.


13.

Mười ba Nhập xí cho mau,

Chớ khi nội bức mới hầu thung dung,

Áo quần giải cởi cho xong,

Dặng lên xem thử có trong chăng là,

Để cho biết ý người ra,

Chẳng được trực nhập phải hòa đương khi,

Chẳng được đê thủ thị chi,

Chẳng được vẽ vách cùng thì nói năng,

Chẳng được khạc nhổ phi phăng,

Khi mà chưa rửa lánh chưng xa người,

Rửa tay thời dùng thổ khôi,

Bồ hòn bồ kết những lời dậy khuyên.


14.

Mười bốn Phép dậy thụy miên,

Nằm thời hữu hiếp cho yên cát tường,

Chẳng được nằm ngửa thanh giang,

Chẳng được đồng sập đồng sàng cùng sư,

Chẳng được nằm ngửa đọc thư,

Dép giầy chẳng được trưng hư đầu giường,

Vị cư thánh tượng pháp đường,

Răn các tiểu sàng huề niệu chớ qua.


15.

Mười lăm Phép dạy vây lò,

Đông thời rét mướt thướt tha lạnh lùng,

Củi đun nhàn nhạt chớ nồng,

Chẳng được sưởi mãi nhường cùng hậu nhân,

Ví dù muốn học kinh văn,

Nhất cử lưỡng tiện mặc phần chúng tăng,

Chẳng được nhức lác nói năng,

Chẳng được ngờ vực thuyết thăng sự người.


16.

Mười sáu Vào phòng nghỉ ngơi,

Hỏi han đại tiểu cho người biết thay,

Dù muốn đem lửa vào nay,

Dặng lên cho biết chúng rày sửa sang,

Bước vào xem sóc cho tường,

Hỏi han phòng nội còn phương việc gì,

Đoạn rồi đèn sẽ tắt đi,

Chẳng được lấy miệng mà suy đèn tàn,

Phòng người chẳng khá vào càn,

Đứng ngoài ra tiếng hỏi han trình bày.


17.

Mười bảy Đến chùa ni nay,

Ngồi cho biệt tịch chớ bày hý ngôn,

Dù họa ni có khéo khôn,

Chẳng được thư sớ tiếng đồn thị phi,

Chẳng được mượn mõ việc chi,

Chẳng được thanh vắng thù thì cùng nhau,

Chẳng được tống lễ đi sau,

Chẳng được hãnh cầu sám hối tụng kinh.


18.

Mười tám Chí nhân gia đình,

Ngồi thì một mình chớ có lẫn ai,

Hỏi đâu nói đấy chớ sai,

Chẳng được vọng ngữ lỡ người cười ta,

Chủ nhân thiết đãi thang trà,

Tuy phi pháp hội lễ hòa tòng nghi,

Ngũ quán niệm thực một khi,

Để cho lợi lạc người thì kính tin,

Chẳng được cửu tọa liên miên,

Chẳng được hỏi sự thế duyên làm gì.


19.

Mười chín khất thực ra đi,

Tìm người tuổi tác một khi bạn cùng,

Sắp đến môn nhân dự phòng,

Thăm xem cho hẳn vân mòng làm sao,

Gia vô nam tử chớ vào,

Hoặc thấy phụ nữ xôn xao thắm hồng,

Đừng vào chốn ấy là xong,

Chẳng được đàm thuyết Khổ Không cùng người,

Chẳng được dịu tiếng cầu ai,

Nhiều ít chớ nài phiền não sinh tâm,

Chẳng được quen thuộc tri âm,

Cùng ni am viện sách tầm kiếm ăn.


20.

Hai mươi vào chốn thôn dân,

Hễ là chẳng thiết chẳng thân chớ vào,

Tìm nơi đức trọng công cao,

Trai diên là chốn vườn đào đến chơi,

Đi thời tiêu sái khoan thai,

Chẳng được nói cười cùng tiểu Sa Di,

Giữ cầm kẻo thất uy nghi,

Túy cuồng phụ nữ chớ khi đồng hành,

Dù gặp quan chức triều đình,

Nghiêng mình sẽ lánh lộ trình chớ chen,

Dù về đến chốn già chiền,

Chẳng khoe hoa mỹ thế duyên trang hoàng.


21.

Hai mươi mốt Thị vật tràng,

Chớ tranh quý tiện phô hàng bán mua,

Của trước lên giá đã chu,

Dù sau có rẻ chớ mua mất lòng,

Chợ dù cả họp phiên đông,

Đường quang thời tránh chớ xông chen vào,

Thấy hàng con gái chớ ngồi,

Chúng nhân phỉ báng chê cười nọ khinh.


22.

Hai mươi hai Đệ thi hành,

Hễ là xuất nhập tiên trình bạch Sư,

Học hành các việc như như,

Chẳng được tự tiện hữu từ bạch qua.


23.

Tham phương thứ hai mươi ba,

Viễn hành ắt giã bạn hòa mới đi,

Xa xôi cũng chẳng ngại chi,

Chớ cho niên thiếu theo đi đồng hành,

Chẳng nên kết lũ gian manh,

Hễ là những đứng hiền lành cùng đi,

Du sơn du thủy mựa hề,

Học hành phỉ chí nam nhi mới mầu,

Tìm cho đắc ý nơi đâu,

Bấy giờ chúng sẽ rủ nhau mà vào,

Giãi lòng bạch thực thấp cao,

Trông ơn Đại Đức hạnh nào rộng dung.


24.

Y bát hai mươi bốn chung,

Năm điều với bẩy liền cùng hai lăm,

Thuộc lòng ba chú nhập tâm,

Bát cùng toạ cụ chớ nhầm làm chi,

Cứ y giới luật thụ trì,

Sơ tâm học lấy uy nghi làm đầu,

Như Như tổ diễn đã lâu,

Như Thị lại giải nối sau để truyền,

Tăng gia còn lắm nghĩa huyền,

Cần lao phải biết chân thuyên mà cầu,

Đã mang tiếng học đạo mầu,

Ba nghìn pháp luật làu làu không quên,

Chữ rằng Hiển thực khai quyền,

Hai mươi bốn tắc thuộc liền mới nên,

Đến khi đi trước ngồi trên,

Hỏi đâu nói đấy chớ nên vọng bình,

Có người đến chốn đạo tràng,

Nói năng phi lý nhỡ nhàng trước sau,

Xem cho rõ bạc cùng thau,

Lông rùa sừng thỏ thiên thu thọ trường.

IV. Di Đà Cảnh giới hạnh (trích)

Phật tiền Phật hậu trước sau,

Phương tiện đã mở bắc cầu đợi ta,

Chùa chiền kinh giáo đề đa,

Am thanh cảnh vắng để cho tu hành,

Bởi lòng người thế vô tình,

Lại trách Trời Bụt ắt mình chạy xa,

Vợ con làng nước cửa nhà,

Ấy thời là nợ oan gia nhiều hàng,

Cậu cô chú bác đệ huynh,

Muốn ích một mình tranh ruộng đoạt nương,

Thế gian một ước tuổi trường,

Nào lo sinh tử lạc đường thân sau,

Nẻo từ vô thủy đã lâu,

Trăm đường phiền não buộc nhau vì nhà,

Rày toan đầu Phật xuất gia,

Thăm tìm cho được minh sư bạn hiền,

Phật pháp là đại nhân duyên,

Gặp thầy đức hạnh mới nên thế đầu,

Xá tung cho biết trước sau,

Chính tông chính pháp mới hầu chịu tên,

Quy y thế phát Phật tiền,

Ma đỉnh thụ ký chứng nên tức thì,

Sơ đàn Ngũ Giới phụng trì,

Thiện nam tín nữ tuân y pháp truyền,

Sáu năm trai giới còn bền,

Sắm sửa pháp phục lòng tin thuận tùy,

Đệ nhị đăng đàn Sa Di,

Thập giới nghiêm mật hựu kỳ lục niên,

Hoặc người Thích tử linh căn,

Lũy tu thuần Tịnh chính chân Bồ Đề,

Nghiệm quan trí hữu cao đê,

Pháp hữu đốn tiệm lượng kỳ căn miêu,

Đệ tam đăng đàn Tỷ Khiêu,

Tam tụ đại giới mọi điều sửa sang,

Tứ Phần Giới Bản xem tường,

Nhị bách ngũ thập giới càng trừng thanh,

Sáu năm cẩn thận tu hành,

Liên hoa xuất thủy trưởng thành lại toan,

Đệ tứ đăng Bồ Tát đàn,

Cứ Kinh Phạm Võng Bụt truyền phân minh,

Thập trọng tứ thập bát khinh,

Giới luật cụ túc phụng hành bách niên,

Bồ Tát tâm địa căn nguyên,

Nhị bách ngũ thập giới chuyên hộ trì,

Quảng cập tam thiên uy nghi,

Bát vạn tế hạnh căn chi trong ngoài,

Thực ấy tông chỉ Như Lai,

Kinh giáo truyền đời độ Thích tử ta,

Luật trung ma bố cà sa,

Phương bào viên đỉnh Tăng Già trang nghiêm,

Ai nghi mở giới đàn xem,

Tự nhiên lĩnh ngộ thắng duyên thế là,

Thích gia hà dị Nho gia,

Bốn trường cùng đỗ thăng tòa khôi nguyên,

Cao lâu tứ cấp bước lên,

Giới đàn tứ phẩm phương viên công thành,

Ấy là thắng quả tu hành,

Thành Đẳng Chính Giác đã dành tòa sen,

Lại khuyên Thích tử có duyên,

Học hành phẩm tiết mới tuyền công phu,

Trước học Di Đà Huân Tu,

Thủ Lăng Thập Chú tụng cho làm lòng,

Bạt Nghiệp tính mới lãng thông,

Thủy trừng nguyệt hiện vầng hồng bỗng in,

Đăng đàn giới phẩm tham thiền,

Tâm tông phó chúc mặc truyền vô ngôn,

Tứ mục tương cố đạo tồn,

Tuệ đăng tâm ấn đã truyền thụ chi,

Bổng đầu cử nhãn hiển thi,

Cơ quan thấu được thực thì tri âm,

Phật Phật Tổ Tổ truyền tâm,

Tùy cơ phó cảm cổ kim một dòng.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét