Advertisement

Một số câu chuyện trong Ma ha tăng kỳ luật

Một số câu chuyện trong Ma ha tăng kỳ luật

1. Tín ngưỡng tinh tú trong Ma ha tăng kỳ luật

Trong Tăng kỳ luật có đoạn Nghi thức chú nguyện cho thương khách với hệ thống sao hộ mệnh, chư thiên thiện thần rất chi tiết. Hệ thống Thất tinh - Bát thiên thần ở đây có thể chính là nguyên mẫu Thất Phật, Bát đại Bồ tát trong kinh Dược sư sau này

Nếu thương khách sắp khởi hành, thiết lễ cúng dàng cầu phúc, thì không nên chú nguyện thế này:

"Tất cả mọi phương diện, 

Nạn giặc không nên đi. 

Giờ đây thật đúng lúc, 

Xuất gia tu phạm hạnh".

Mà nên chú nguyện như sau:

"Mọi nơi đều an ổn, 

Chư Thiên ban điềm lành. 

Nghe rồi tâm hoan hỉ, 

Mong chi đều được cả.

Loài hai chân an ổn, 

Loài bốn chân cũng an. 

Lúc ra đi an lạc, 

Khi trở về bình yên.

Ngày yên, đêm cũng yên, 

Chư Thiên thường bảo hộ. 

Bạn bè đều hiền lành, 

Tất cả thảy an ổn.

Khang kiện và tốt đẹp, 

Tay chân đều vô bệnh. 

Thân thể được bảo toàn, 

Chẳng bệnh, chẳng khổ đau.

Tất cả mọi mong cầu, 

Đều toại tâm mãn nguyện".

Ở phương Đông có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian, làm cho họ được như nguyện, đó là: Ngôi thứ nhất tên Cát Lợi Đế; ngôi thứ hai tên Lộ Ha Ni; ngôi thứ ba tên Tăng Đà Na; ngôi thứ tư tên Phân Bà Tủy; ngôi thứ năm tên Phất Thi; ngôi thứ sáu tên Bà La Na; ngôi thứ bảy tên A Xá Lợi. Đó gọi là bảy ngôi sao ở phương Đông thường bảo hộ thế gian. Nay chúng sẽ bảo hộ ông khiến cho an ổn, được lợi ích và trở về sớm; tất cả tinh tú đều góp phần bảo hộ ông.

Lại nữa, phương Đông có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên Lại Xa Ma Đề; người thứ hai tên Thi Sa Ma Đề; người thứ ba tên Danh Xưng; người thứ tư tên Da Thâu Đà La; người thứ năm tên Hảo Giác; người thứ sáu tên Bà La Thấp Ma; người thứ bảy tên Bà La Phù Đà; người thứ tám tên A Tì Ha La. Đó là tám Thiên nữ ở phương Đông thường bảo hộ thế gian. Lại có Thiên Vương tên Đề Đầu Lại Tra, vua của Càn thát bà và tất cả chư Thiên thường hộ trì các ngươi, khiến tất cả đều được an ổn, lợi ích mà trở về sớm.

Phương Đông có Chi đề tên Cung Trượng thường tỏa ánh sáng, chư Thiên cung kính cúng dàng. Tất cả các vị Thiên cúng dàng ấy sẽ hộ trì ngươi khiến được tài lợi, an ổn mà trở về sớm.

Phương Nam có bảy ngôi sao thường hộ trì thế gian: Ngôi thứ nhất tên Ma Già; ngôi thứ hai và thứ ba cùng tên là Phả Cầu Ni; ngôi thứ tư tên Dung Đế; ngôi thứ năm tên Chất Đà La; ngôi thứ sáu tên Tư Bà Đế; ngôi thứ bảy tên Tì Xá Khư. Đó là bảy ngôi sao ở phương Nam thường bảo hộ thế gian, nay sẽ bảo hộ ngươi khiến được an ổn, lợi ích mà trở về sớm. Đồng thời tất cả tinh tú đều sẽ hộ trì ngươi.

Ở phương Nam có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên Lại Xa Ma Đế; người thứ hai tên Thi Sư Ma Đế; người thứ ba tên Danh Xưng; người thứ tư tên Danh Xưng Trì; người thứ năm tên Hảo Giác; người thứ sáu Hảo Gia; người thứ bảy tên Hảo Lực; người thứ tám tên Phi Đoạn, thường bảo hộ thế gian. Đồng thời, có Thiên Vương tên Tì Lưu Đồ, vua của quỉ thần Câu Ma Đồ, cùng bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm.

Phương Nam có Chi đề tên A Tì Bát Thi thường phóng ra ánh sáng, chư Thiên cung kính cúng dàng. Tất cả chư Thiên cúng dàng Chi đề sẽ hộ trì ngươi được an ổn, lợi ích mà trở về sớm.

Ở phương Tây có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian: Ngôi thứ nhất tên Bất Diệt; ngôi thứ hai tên Thệ Tra; ngôi thứ ba tên Mâu Ra; ngôi thứ tư tên Kiên Cường Tinh Tấn; ngôi thứ năm và thứ sáu cùng tên là A Sa Đồ; ngôi thứ bảy tên A Tì Xà Ma. Bảy ngôi sao này thường bảo hộ thế gian, sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm. Đồng thời tất cả tinh tú cũng đều bảo hộ ngươi.

Ở phương Tây có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên A Lam Phù Bà; người thứ hai tên Tạp Phát; người thứ ba tên A Lợi Tra; người thứ tư tên Hảo Quang; người thứ năm tên Y Ca Đề Xá; người thứ sáu tên Na Bà Tư Ca; người thứ bảy tên Ký Sắc Ni; người thứ tám tên Sa Đà Ra. Đó gọi là tám Thiên nữ. Đồng thời có Thiên Vương tên Tì Lưu Bác Xoa thường hộ trì thế gian. Lại có Long Vương tên Bà Lưu Ni và tất cả loài rồng sẽ hộ trì ngươi được lợi ích mà trở về sớm.

Phương Tây có núi tên Nhiêu Ích, Nhật, Nguyệt ở trong đó. Nếu ai có mong cầu điều chi thì sẽ được mãn nguyện.

Ở phương Bắc có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian: Ngôi thứ nhất tên Đàn Ni Tra; ngôi thứ hai và thứ ba cùng tên là Thế Đà Đế; ngôi thứ tư tên Bất Lỗ Cụ Đà Ni; ngôi thứ năm tên Li Bà Đế; ngôi thứ sáu tên A Thấp Ni; ngôi thứ bảy tên Bà La Ni. Bảy ngôi sao này thường bảo hộ thế gian, sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích và trở về sớm. Nói chung, tất cả tinh tú đều bảo hộ ngươi.

Phương Bắc có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên Ni La Đề Tì; người thứ hai tên Tu La Đề Tì; người thứ ba tên Câu Tra Tì; người thứ tư tên Ba Đầu Ma; người thứ năm tên Ha Ni; người thứ sáu tên Ba Lợi; người thứ bảy tên Già La Ni; người thứ tám tên Ca Ma. Đó gọi là tám Thiên nữ. Đồng thời có Thiên Vương tên Bà Lưu Na, thường bảo hộ thế gian, sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm.

Phương Bắc có núi tên Chỉ La Tô, quỉ thần ở trong đó. Tất cả các quỉ thần sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm.

Hai mươi tám ngôi sao cùng Nhật Nguyệt, ba mươi hai Thiên nữ và Tứ Đại Thiên Vương thống trị thế gian đều có danh tiếng. Ở phương Đông có Đề Đầu Lại Tra Vương, ở phương Tây có Tì Lưu Bác Xoa Vương, ở phương Nam có Tì Lưu Đồ Vương, ở phương Bắc có Bà Lưu Na Vương, tám Sa môn, tám Bà la môn, tám vị Sát lợi của tám nước lớn, tám con gái của Đế Thích sẽ hộ trì ngươi khiến được lợi ích mà trở về sớm.



2. A la hán chưa trọn vẹn về giới, các uy nghi, học pháp

Trong Căn hữu luật Xuất gia sự có ca ngợi ngài Xá lợi Phất: 

"Thế tôn bảo hai người (Xá lợi phất và Mục kiền liên) rằng:

- Thiện lai Bí-sô! Tu hành phạm hạnh.

Phật vừa nói xong, râu tóc hai người này tự rụng, thân mặc ca sa như đã từng cạo tóc. Chỉ bảy ngày sau, họ đầy đủ uy nghi như Bật sô một trăm tuổi hạ"

Nhiều tài liệu cũng cho rằng, khi đắc A la hán là tự có giới, tự thanh tịnh. Tuy nhiên trong Tăng kỳ luật có ghi lại một số câu chuyện về tính bất toàn về giới, uy nghi, ... của một La hán. Có thể những câu chuyện này liên hệ đến quan điểm về tính bất toàn của La hán so với Phật, Bồ tát của Đại chúng bộ

1. Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nhóm sáu Tỷ khiêu ni đi khuyến hóa một người phụ nữ cúng dàng thực phẩm cho các Tỷ khiêu, nhưng khi thụ trai, các Tỷ khiêu ni này lại tự tay sắp xếp và thiên vị, dành cơm trắng canh ngon cho nhóm sáu Tỷ khiêu, còn các bậc trưởng lão và Tỷ khiêu La Vân thì phải ăn cơm gạo đỏ, canh rau tạp thô sơ. Trở về tinh xá, sau khi Phật hỏi thăm và biết được La Vân sắc diện kém vì ăn uống thiếu thốn, Ngài đã khiển trách người ngồi ngôi Thượng tọa trong bữa trai tăng đó là tôn giả Xá Lợi Phất vì thái độ thản nhiên trước sự nhiễu loạn và bất công trong việc thụ nhận thực phẩm của Tăng chúng. Đức Thế Tôn xác định đây là bữa ăn phi pháp, khiến tôn giả Xá Lợi Phất phải dùng lông chim ngoáy vào yết hầu để mửa thức ăn ra nhằm giữ gìn sự thanh tịnh cho giới thể và không làm tổn hại đến phúc báo của thí chủ.
(Nguyên văn: "Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỷ khiêu ni đi du hành khuyến hóa, nói với người phụ nữ rằng: "Bà hãy cúng dàng các thực phẩm để tôi sắm thức ăn cho các Tỷ khiêu". Người phụ nữ bèn đưa thực phẩm, rồi dặn: "Đến ngày cúng dàng, cô tin cho tôi biết để tôi đến nấu nướng". Thế rồi, họ mời tôn giả Xá Lợi Phất, Đại Mục Liên, Li Bà Đa, Kiếp Tân Na, tôn giả La Hầu La; đồng thời mời nhóm sáu Tỷ khiêu, rồi sắp hai dãy ghế, một dãy dành cho Tỷ khiêu trưởng lão, một dãy dành cho nhóm sáu Tỷ khiêu.

Khi đến giờ, các trưởng lão Tỷ khiêu bèn khoác y cầm bát đi đến nhà thí chủ, ngồi theo thứ tự. Thế rồi, họ dọn cho tôn giả Xá Lợi Phất cơm gạo trắng, canh mông cự và các loại sữa. Cứ thế chuyển dần đến thức ăn thô. Họ dọn cho tôn giả Mục Liên cơm gạo thô, canh ma sa, dầu, sữa. Còn các Tỷ khiêu khác thì dọn cơm gạo đỏ, canh ma sa, hoặc có chỗ thì có cơm mà không có canh, hoặc có canh mà không có cơm. Cuối cùng, đến tôn giả La Vân, họ dọn cơm gạo đỏ, canh rau tạp.

Khi những phụ nữ bưng các thức ăn ngon lên hỏi nhóm sáu Tỷ khiêu ni rằng: "Dọn những thứ này cho ai?", thì các Tỷ khiêu ni ấy bèn dùng thân mình che các trưởng lão Tỷ khiêu mà chỉ nhóm sáu Tỷ khiêu, bảo dọn cơm trắng canh ngon, các món sữa; đồng thời tự tay mình bưng dọn phủ phê.

Khi các Tỷ khiêu thọ trai xong trở về, Phật biết nhưng vẫn hỏi Xá Lợi Phất:

— Này Xá Lợi Phất, được ăn các thức ngon đầy đủ không?

— Đã ăn rồi, bạch Thế Tôn!

Phật hỏi ba lần như vậy thì thầy cũng đều đáp giống nhau. Phật lại hỏi từng trưởng lão Tỷ khiêu như vậy, họ cũng đều đáp giống y như thế. Cuối cùng, Phật hỏi La Vân:

— Vì sao mà trông sắc diện, sức lực của ông có vẻ không đầy đủ? Có được ăn những thức ngon no nê không?

— Bạch Thế Tôn! Ăn dầu thì có sức lực, ăn sữa thì có sắc diện, còn ăn canh rau thì không có sắc diện, sức lực.

Đoạn, Phật hỏi nhóm sáu Tỷ khiêu:

— Các ông có được ăn ngon không?

— Bạch Thế Tôn! Chúng con được cơm gạo trắng, canh ngon, các món sữa và những thức ăn ngon lành đều do các chị em có niềm tin ân cần dâng cúng.

— Người ngồi trên hết (Thượng tọa) là ai vậy?

— Là tôn giả Xá Lợi Phất.

Phật liền hỏi Xá Lợi Phất:

— Ông có việc đó thật không?

— Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

— Đây là cách ăn phi pháp. Vì sao ông ngồi nhìn Tỷ khiêu Tăng bị nhiễu loạn mà vẫn giữ thái độ thản nhiên?

— Nếu Thế Tôn dạy rằng đó là bữa ăn phi pháp thì dù trải qua một kiếp hay hơn một kiếp cũng không tiêu hóa được.

Thế là tôn giả bèn dùng chiếc lông chim ngoáy vào yết hầu cho mửa thức ăn ra.")

2. Dưới đây là nội dung đã được hiệu đính chính tả và trình bày lại theo đúng các quy tắc của ông: Khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, được chư thiên và người đời cúng dàng rất nhiều phẩm vật. Bấy giờ, trong thành Xá Vệ có hai chị em người kia, (một người) đang mang thai mà chưa sinh, vì có lòng tin nên xuất gia tu hành. Các Tỷ khiêu ni trông thấy tướng bụng của cô như thế, liền đuổi đi, rồi đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy rằng mang thai ở nhà thì không có tội. Thế rồi, Tỷ khiêu ni này sau đó sinh một bé trai, bèn đặt tên là Đồng Tử Ca Diếp. Đến năm tám tuổi, cậu bé ấy xuất gia tu hành, thành A la hán. Rồi ông cùng với nhóm mười sáu Tỷ khiêu mỗi người đều mang thau tắm ra sông A kì la xuống nước tắm. Họ nằm sấp, nằm ngửa, bơi qua, bơi lại đùa giỡn, tát nước mà tắm. Khi ấy, vua Ba Tư Nặc đang đứng trên lầu nhìn xem bốn phương, thấy sự việc như thế càng sinh bất tín, vì lúc này vua chưa tin Phật pháp, liền nói với phu nhân Mạt Lợi: "Hãy xem phúc điền mà ái khanh phụng sự kia kìa".

3. Khi Đức Phật du hành tại nước Bạt Kỳ, Ngài đã giáo hóa năm trăm ngư phủ đang đánh bắt cá bên sông, khiến họ thức tỉnh trước ác nghiệp và xin xuất gia, đắc quả A La Hán. Những vị Tỷ khiêu mới này sau khi thọ trai bằng thần lực đã rời đi mà để lại giường ghế, nệm gối ở chỗ đất trống khiến vật dụng bị gió bụi làm dơ bẩn. Nhân sự việc thiếu trách nhiệm trong việc bảo quản đồ đạc chung của Tăng đoàn này, Đức Thế Tôn đã triệu tập đại chúng và chế định giới luật: Tỷ khiêu khi sử dụng đồ nằm, đồ ngồi của Tăng tại chỗ đất trống mà lúc đi không tự dọn cất hoặc không sai người dọn cất thì phạm tội Ba dật đề.

Nguyên văn: "Khi Phật trú tại nước Bạt Kỳ, Ngài đi du hành trong nhân gian, đến bên một con sông kia, thấy các ngư ông đang bủa lưới bắt cá. Các Tỷ khiêu thấy thế liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Các ngư ông này làm một việc lẽ ra không nên làm". Nhân các Tỷ khiêu nói nên Thế Tôn liền đọc kệ:

"Đã được thân khó được

Vì sao làm việc ác

Thân cưu mang ái nhiễm

Chết rồi vào ác đạo".

Khi ấy, các ngư phủ bủa một mảng lưới lớn, ở bên dưới buộc đá, ở bên trên cột những cái bầu nổi, thuận theo dòng nước kéo lên, mỗi đầu hai trăm năm mươi người, kêu la kéo lên bờ ầm ĩ. Các Tỷ khiêu thấy thế, liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Những người này nếu ở trong Phật pháp mà tinh tấn như vậy, thì sẽ được lợi ích lớn". Bấy giờ nhân sự việc ấy, Thế Tôn liền đọc kệ:

"Cái gọi là tinh tấn

Không phải là các dục

Mà là lìa việc ác

Nuôi mạng sống đúng pháp".

Như Kinh Bản Nguyện Ca Tỳ La đã nói rõ.

Lúc ấy, trong các con cá bị mắt lưới, có con cá lớn có hàng trăm cái đầu, mỗi đầu đều khác nhau. Thế Tôn thấy vậy liền gọi tên nó. Nó liền đáp Thế Tôn. Thế Tôn liền hỏi: "Mẹ ngươi ở đâu?".

Nó đáp: "Đang làm thân giòi trong một cầu tiêu nọ".

Phật liền nói với các Tỷ khiêu: "Con cá lớn này vào thời đức Phật Ca Diếp, làm một Tỷ khiêu thông tam tạng, vì ác khẩu mà chịu quả báo đủ kiểu đầu. Còn người mẹ vì thọ lợi dưỡng của y cho nên làm giòi trong cầu tiêu".

Khi Phật kể nhân duyên ấy, năm trăm ngư phủ liền bỏ việc kéo lưới, xin xuất gia tu hành, và đều đắc quả A La Hán, rồi cư trú bên dòng sông Bạt Kỳ. Thế rồi Phật bảo A Nan: "Hãy sửa soạn chỗ ngồi cho các Tỷ khiêu khách ấy". A Nan liền bạch Phật: "Xin Phật an ủi các khách Tỷ khiêu". Phật lại nói với A Nan: "Ông không biết đó thôi, Ta đã nhập vào Tứ Thiền an ủi khách Tỷ khiêu rồi".

Trong khi các giường gối bày ra tại chỗ đất trống (không ai dọn dẹp), thì tới giờ khất thực, các Tỷ khiêu khách liền dùng thần lực, người thì đến Uất Đơn Việt phương bắc, kẻ thì đến cõi trời ba mươi ba, người khác lại xuống cung Long Vương khất thực. Do thế các giường gối bày ra chỗ trống kia bị nắng táp, gió thổi nên bụi bặm bám rất dơ bẩn. Phật biết mà vẫn hỏi. Rồi các Tỷ khiêu đem nhân duyên trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói: "Đợi các Tỷ khiêu ấy trở lại đã".

Khi họ về rồi Phật liền hỏi: "Các ông có thật như thế chăng?".

Họ đáp: "Có thật như vậy".

Phật nói: "Từ hôm nay nhân việc của các ông, Ta chế giới cho các Tỷ khiêu". Thế rồi Phật truyền lệnh cho các Tỷ khiêu đang sống bên sông Bạt Kỳ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỷ khiêu, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: "Nếu Tỷ khiêu, ở tại trú xứ của Tăng, mà tự mình hoặc sai người khác đem giường nằm, giường ngồi, nệm gối ra chỗ đất trống, rồi lúc đi không dọn cất, cũng không sai người dọn cất, thì phạm Ba dật đề".)

4. Khi Tỷ khiêu ni Tăng tại thành Vương Xá tập họp để làm yết ma Bố tát, La hán ni Thọ Đề đã từ chối tham dự với lý do bản thân đã thanh tịnh nên không cần thiết phải đến. Sau khi Đại Ái Đạo trình sự việc lên Đức Thế Tôn, Ngài đã khiển trách thái độ thiếu tôn kính đối với phép Bố tát của Thọ Đề. Nhân duyên này, Phật chế định giới luật: Tỷ khiêu ni nếu không tôn kính lễ Bố tát thanh tịnh mỗi nửa tháng thì phạm tội Ba dật đề. (Tương tự trường hợp A Na Luật). Cô còn liên quan đến các giới như: cách đêm mới cho thụ cụ túc, bảo nam tử phá ung nhọt, ... 

Nguyên văn:  "Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy Tỷ khiêu ni Tăng tập họp định làm yết ma Bố tát thì Tỷ khiêu ni Thọ Đề không đến, Tăng bèn sai sứ giả đi gọi:

— Thưa thánh giả, Tỷ khiêu ni Tăng tập họp định làm yết ma Bố tát, mời cô hãy đến.

— Đức Thế Tôn chế giới nói rằng trong đời này hễ ai thanh tịnh thì được Bố tát, ta thanh tịnh nên không cần phải đi đâu nữa.

Đại Ái Đạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật hỏi và cô đáp:

— Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

— Đó là việc xấu.

Thế rồi, Phật nói: "Ngươi không kính trọng Bố tát thì ai kính trọng?" Cho đến, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

— Nếu Tỷ khiêu ni không tôn kính lễ Bố tát thanh tịnh của mỗi nửa tháng thì phạm tội Ba dật đề."

3. Thời Phật đã có tháp thờ Phật hay chưa?

Trong cuốn "Phật giáo Nguyên thủy Thánh điển chi tập thành" của Hòa thượng Thích Ấn Thuận có nêu lại quan điểm của Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa, gồm 18 quyển, được Sa môn ngoại quốc Tăng Già Bạt Đà La (Sanghabhadra) dịch tại Quảng Châu vào năm Vĩnh Minh thứ bảy (489) đời Tiêu Tề. Các bậc cổ đức Trung Quốc cho rằng bản này là luận của Tứ Phần Luật, như trong luận này đã đề cập:

“Hai mươi giới nghỉ ngơi và cất đồ đạc trong tháp Phật, bản tiếng Phạn không có. Sở dĩ không có vì khi Đức Như Lai còn tại thế chưa có tháp của Phật... cho nên 20 điều giới trên đây không có trong bản Phạn, vì khi Như Lai còn tại thế, trong tháp không có Phật.”

Nhưng thực ra cách lý giải này không chặt chẽ. Sở dĩ như vậy là vì: trong Tăng Kỳ Luật của Đại Chúng bộ ghi chép lại khi còn tại thế, Phật Thích ca đã xây tháp thờ Phật Ca Diếp. Như vậy, việc đưa các học pháp này vào quảng luật này chỉ là do Pháp Tạng bộ rất chú trọng công đức lễ tháp mà thôi.

Nguyên văn trong Tăng Kỳ Luật:

"Khi Phật du hành đến nước Câu Tát La, có người Bà La Môn đang cày đất, trông thấy Thế Tôn đi qua, ông ta bèn dừng cày đến lễ Phật. Thế Tôn thấy vậy liền mỉm cười. Các Tỷ khiêu liền bạch với Phật: 

— Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Thế Tôn cười? Chúng con muốn được biết. 

— Hôm nay ông Bà La Môn này đảnh lễ hai đức Phật. 

— Thế nào là hai đức Phật, bạch Thế Tôn! 

Đó là đảnh lễ Ta và đảnh lễ tháp Phật Ca Diếp dưới chỗ bắp cày kia. 

— Chúng con muốn được thấy tháp Phật Ca Diếp, bạch Thế Tôn! 

— Các ông hãy đến xin ông Bà La Môn này một nắm đất tại chỗ ấy.

Thế rồi, các Tỷ khiêu bèn đến hỏi xin, ông Bà La Môn liền cho nắm đất. Khi ấy, Thế Tôn bèn làm ngôi tháp thất bảo của Phật Ca Diếp xuất hiện, cao một do diên, bề mặt rộng nửa do diên."

Sau đó kế tiếp nói đến phép làm tháp, các loại trang sức, cúng phẩm, cách thờ cúng, lễ bái, nhiễu tháp, ...

Đăng nhận xét

0 Nhận xét