Về mặt nguyên tắc thì không được tụng giới, không được yết ma trước mặt người tại gia.
Thứ nhất: Do người tại gia không có kiến thức về giới luật, cho nên nếu họ nghe được giới kinh hay việc yết ma của Tăng thì dẫn đến nhiều sự rắc rối hoặc sinh tâm khinh mạn.
Thứ hai: Do cương giới của Tăng phải trừ thôn và thôn ngoại, như vậy thì người tại gia đứng ở đâu thì cương giới sẽ mất ở đấy.
Cho nên Tăng không được yết ma ở chỗ có sự hiện diện của người tại gia. Trong luật có ghi lại một số câu chuyện như sau:
I. CÁC TRƯỜNG HỢP TRONG LUẬT ĐỊNH
6. Bọn cướp
Khi Phật an trú tại núi Kỳ Xà Quật nơi thành Vương Xá, lúc ấy các Tỷ khiêu Bố tát tụng giới. Khi tụng đến phần cuối của Ba dạ đề, đọc: "Cắt bỏ rồi Ba dạ đề, phá bỏ rồi Ba dạ đề, lôi ra rồi Ba dạ đề", thì bọn cướp đến. Người tụng giới liền im lặng. Bọn cướp đứng một lát rồi bỏ đi. Người tụng giới lại tiếp tục; như vậy đến ba lần.
Bọn cướp suy nghĩ: "Đây là ác Sa môn, nên nói như
Các Tỷ khiêu sinh tâm nghi hoặc, hay là bọn cướp vừa rồi đã nghe tụng giới? Thế rồi, họ đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:
Nếu b
7. Vua
Khi Phật an trú tại vườn Kỳ xà Am bà la nơi thành Vương Xá, như trong kinh Sa môn đã nói rõ, cho đến tự nhủ:
Rồi h
II. CÁC TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ
1. Chuyện trong Căn hữu luật
a. Chuyện gặp cướp
Tình huống 1: Trong bối cảnh các Tỷ khiêu du hành trong nhân gian bị giặc bắt và đe dọa tính mạng, một vị Tỷ khiêu phạm tội nói dối cảm thấy lo sợ nếu phải chết khi thân mang tội sẽ sinh vào đường ác. Do bị bọn giặc ngăn cản không cho đi chỗ khuất, hai vị Tỷ khiêu đã phải tác pháp đối thủ sám hối ngay trước mặt bọn giặc, nhờ vào sự thành thật phát lồ tội lỗi mà bọn giặc đã tin tưởng và cho phép các vị ra đi. Đức Phật sau khi được bạch lại sự việc đã dạy rằng các loại giặc là chủ nhân chỗ nguy hiểm, nên việc các thầy đối thuyết sám hối tội trước họ trong hoàn cảnh đó là thiện thuyết.
Tình huống 2: Trong bối cảnh các Tỷ khiêu du hành trong nhân gian bị giặc bắt và dọa giết, bọn giặc yêu cầu các vị phải cam kết thuyết minh đầy đủ pháp tụng giới của đại chúng vào ngày mười lăm thì mới phóng thích. Một vị Tỷ khiêu thông thuộc giới bản đã vì họ thuyết minh Ba la đề mộc xoa, nhờ đó mà các vị được chúa bọn giặc thả cho đi kèm điều kiện không được tiết lộ sự việc. Đức Phật đã dạy rằng giặc là chủ nhân trong rừng vắng nên việc các thầy thuyết giới với họ là thiện thuyết.
b. Chuyện gặp vua
Tiết lộ tội tướng: Trong bối cảnh các Tỷ khiêu nước Bạt Ta bị giặc trói bằng cỏ tranh sống và bỏ mặc cho đói khát, vua Ô Đà Diên đi săn ngang qua đã thắc mắc lý do các vị không tự bứt dây trói để thoát thân. Khi nghe các vị giải thích rằng Thế Tôn đã chế học xứ cấm làm hư hại cây cỏ sống nên không dám vi phạm tội Ba dật đề ca, nhà vua vô cùng cảm phục, liền tự tay giải phóng và dâng cúng dàng ba y cho các vị. Đức Phật đã dạy rằng nếu thuyết minh tội tướng cho vị vua quán đỉnh dòng Sát đế lợi như vậy thì đó là thiện thuyết.
Thuyết giảng giới bản: Tại thành Vương Xá, vua Tần Tỳ Sa La đến thỉnh giáo tôn giả A Nan Đà vào ngày trưởng tịnh, tôn giả đã từ chối vì cho rằng đây là việc riêng của các Tỷ khiêu, không thích hợp để người thế tục nghe. Biết chuyện, đức Phật đã khiển trách tôn giả A Nan Đà làm việc sai lầm và dạy rằng nên hướng dẫn cho nhà vua nghe giới bản này để tăng trưởng tâm tin tưởng, cung kính. Thế nên, đức Phật cho phép các Tỷ khiêu thuyết giảng Ba la đề mộc xoa cho các vị vua, đại thần và những người có tâm kính tín, thậm chí cả người nghèo nếu họ có lòng muốn nghe; tuy nhiên, đối với những kẻ bần cùng mà không có tâm kính tín thì không nên thuyết giảng.
2. Chuyện trong Tăng kỳ luật
Tại vườn Cù Sư La ở Câu Diệm Di, khi các Tỷ khiêu Tăng vân tập bố tát và xử đoán công việc, cư sĩ Cù Sư La đã nhiều lần đi vào giới trường khiến Tăng chúng phải im lặng vì tôn trọng quy tắc nội bộ.
Khi các Tỷ khiêu đem sự việc bạch lên Thế Tôn, Phật đã dạy rằng:
Nếu đó là người có đức hạnh cao quý muốn nghe chúng Tăng giải quyết công việc thì nên để cho họ nghe, với điều kiện trong chúng có người tài giỏi, phân minh để thực hiện pháp sự.
Trái lại, nếu giải quyết trước kẻ phàm phu tầm thường thì phạm tội Việt tì ni. Đó gọi là Cù Sư La cư sĩ.
0 Nhận xét