Advertisement

LỤC THỜI SÁM HỐI KHOA NGHI (Nghi thức sám hối sáu căn)

LỤC THỜI SÁM HỐI KHOA NGHI

(Nghi thức sám hối sáu căn)

Hoàng đế Trần Thái Tông soạn thuật

HT. Thích Thanh Từ Việt dịch

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ HOÀNG ĐẾ TRẦN THÁI TÔNG (1218 - 1277)

Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, là con thứ của Trần Thừa, sinh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý. Lên ngôi Vua ngày mùng 10 tháng 12 năm Ất Dậu (1226), đổi niên hiệu là Kiến Trung. Vua có thiên tư khác thường, thánh học cao minh, lại thêm rất lưu tâm nơi Phật giáo. Lúc mới lên ngôi, Vua tiếp nối sửa sang mỗi ngôi thứ trong thiên hạ. Đến khi Thái hậu Thánh Từ lìa trần thì Vua ở trong thời kỳ chịu tang mẹ.

Qua niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ năm, ưu tư trước thế sự và nhân tình, đêm ngày mùng ba tháng tư năm Bính Thân (1236), Vua đã cải đổi y phục đi ra khỏi cửa cung, bảo với tả hữu rằng: “Trẫm muốn đi dạo để ngầm nghe lời dân, biết được chí dân, mới thấu hiểu nỗi khó khăn của trăm họ”. Đến nửa đêm, Vua cùng một số tùy tùng rời khỏi hoàng cung vượt qua sông Nhị Hà. Lên bờ, đoàn người tiếp tục thẳng hướng đông tiến bước. Lúc này Vua mới nói thực lòng cho tả hữu biết rõ ý định đi tu của Ngài và bảo họ hãy trở về. Mọi người đều vô cùng ngạc nhiên và khóc lóc thảm thiết. Vào khoảng sáu giờ sáng hôm sau, Vua đến bến đò Đại Than ở núi Phả Lại. Trời sáng sợ người nhận ra, Vua lấy vạt áo che mặt mà qua đò, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối, Vua vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi trời sáng lại đi. Trèo núi hiểm, lội suối sâu, ngựa đuối sức không thể đi tiếp được nữa, Vua phải bỏ ngựa vịn vào các tảng đá mà đi. Khoảng hai giờ trưa, Vua mới đến chân núi Yên Tử. Sáng hôm sau, Vua lên thẳng đỉnh núi và tìm vào tham kiến Thiền sư Trúc Lâm. Trong “Bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam”, Ngài viết:

“Thấy Trẫm, Quốc sư mừng rỡ, Người ung dung bảo Trẫm: Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng thân gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa núi rừng, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến phải không? Trẫm nghe lời Thầy hỏi, hai hàng nước mắt ứa ra, liền thưa với Thầy rằng: Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp Đế Vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác. Thầy đáp: Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm lặng mà biết đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”.

Hôm sau, Trần Thủ Độ đem các quân lên núi Yên Tử đón Vua về kinh. Thấy Trẫm, Thái sư thống thiết nói: “Tôi nhận lời ủy thác của tiên quân, tôn bệ hạ làm chủ thần dân. Lòng dân đang trông đợi bệ hạ như con đỏ mong đợi cha mẹ. Huống chi ngày nay các vị cố lão trong triều đều là bề tôi thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết bệ hạ là cha mẹ dân. Vả lại Thái tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng, thế mà bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình. Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về.”

Trẫm nghe Thái sư và các quần thần bộ lão đều không chịu bỏ Trẫm, cho nên mới đem lời Thái sư mà bạch lại với Quốc sư, Người cầm tay Trẫm mà nói: “Phàm làm đấng quân vương, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không trở về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu kinh điển xin bệ hạ đừng phút nào quên.”

Bởi vậy, Trẫm cùng mọi người trong triều mới trở về kinh, miễn cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của các hệ thống giáo lý chính, không kinh nào là Trẫm không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh KIM CƯƠNG, một hôm đọc đến câu “ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SANH KỲ TÂM”, buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng hoát nhiên đại NGỘ...”

Năm 1257, giặc Mông Cổ xâm lược nước ta, Ngài đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả, quân dân ta đã đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về Vân Nam vào đầu năm 1258.

Lãnh đạo toàn dân chiến thắng được đội quân hùng mạnh nhất thế giới này, Ngài thật sự xứng danh là một vị Vua anh hùng.

Sau cuộc chiến, đất nước thái bình, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con năm 1258, lên làm Thái Thượng Hoàng. Từ đây Ngài vừa làm Cố vấn cho con, vừa lo nghiên cứu tu thiền. Đến lúc vua Trần Thánh Tông đủ sức đảm đang việc nước, Ngài lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi Vũ Lâm, cố đô Hoa Lư để an dân lập ấp và tu hành.

Qua những tác phẩm mà Ngài để lại, chúng ta thấy Trần Thái Tông là một vị Vua rất chăm học, trong bài tựa kinh Kim Cương Tam Muội Ngài viết:

“Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ nên thì giờ nhàn rỗi không có được bao nhiêu. Chữ nghĩa thì chưa biết được là mấy, cho nên hạn đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; hết học sách Nho rồi còn học kinh Phật.”

Không chỉ là một vị Vua hiếu học mà Trần Thái Tông còn là một nhà văn xuất sắc. Những áng văn cực kỳ trác tuyệt với những ngôn từ được sử dụng đắt giá như châu ngọc thật sự là một di sản văn hóa vô cùng quý báu để lại cho chúng ta.

Về thiền học, Trần Thái Tông còn là một Thiền sư có tầm cỡ. Ngài đã đạt đến sự chứng ngộ cốt tủy của thiền, sức sống thiền của Ngài rất mãnh liệt. Ngay cả đến khi sắp lâm chung, Quốc sư Đại Đăng vào thăm và hỏi Ngài:

– Bệ hạ bệnh chăng?

Ngài ung dung đáp lời Quốc sư:

– Tứ đại là bệnh, CÁI NÀY xưa nay sinh tử còn không quan hệ, lại dính kẹt trong bệnh hoạn sao?

Tâm thái hết sức an nhiên tự tại lúc ra đi đã minh chứng hùng hồn việc thể nhập thiền đạo sâu sắc của Ngài. Năm đó là năm Kỷ Mão, nhằm niên hiệu Thiệu Bảo (1279), Ngài hưởng thọ 60 tuổi. Vua Trần Thái Tông quả thật là một vị Minh Quân và cũng là một người Phật tử thuần thành thâm chứng Phật đạo.

Bài sám hối sáu căn dưới đây (do Hòa thượng Thích Thanh Từ trích dịch) chính là bài “Lục thời sám hối khoa nghi” trong sách KHOA HƯ LỤC do tự tay nhà Vua soạn ra để hằng ngày tu tập. Đương thời, mặc dù quốc gia đại sự, bận trăm công ngàn việc, nhưng việc thực hành Phật Pháp của Ngài rất tinh chuyên, đáng làm gương mẫu cho hàng hậu học chúng ta noi theo.


 

NGHI THỨC TỤNG SÁM HỐI SÁU CĂN

NIÊM HƯƠNG

(Quỳ nguyện)

Trầm thủy rừng thiền hương sực nức, Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng. Đao giới vót thành hình non thẳm, Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.

“Nam mô Bồ Tát Hương Cúng Dàng” (3 lần, rồi đứng lên)

TÁN PHẬT

Đại từ, đại bi thương chúng sinh, Đại hỷ, đại xá, cứu hàm thức. Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm, Chúng con chí tâm thành đỉnh lễ.

Chí tâm đỉnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới.

Chí tâm đỉnh lễ: Tất cả Chánh Pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới.

Chí tâm đỉnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới.

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn, Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp. Nay con nghe thấy vâng gìn giữ, Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

“Quy kính Phật Bồ Tát trên hội Bát Nhã.” (3 lần)

TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN

Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba la mật đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.

Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp: không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thụ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí tuệ cũng không có chứng đắc.

Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát nhã Ba la mật đa tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cảnh Niết bàn.

Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát nhã Ba la mật đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nên biết Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối.

Vì vậy nói chú Bát nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng:

“Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” (3 lần)

ĐỈNH LỄ PHẬT VÀ TỔ SƯ

Chí tâm đỉnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.

Chí tâm đỉnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.

Chí tâm đỉnh lễ: Vị lai Phật Di Lặc Tôn.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Đại Ca Diếp.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư A Nan.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ Đề Đạt Ma.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Huệ Khả.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Huệ Năng.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.

Chí tâm đỉnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.

Chí tâm đỉnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam.

SÁM HỐI SÁU CĂN

(Quỳ tụng)

Chí tâm sám hối!

Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay, bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo. Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm. Không sám lỗi trước, khó tránh lỗi sau.

Nghiệp Căn Mắt Là:

Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh. Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật. Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành, chợt mắt dời sinh, mờ đường chính kiến. Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai, nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.

Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang, lòa mắt chưa sinh, bản lai diện mục. Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn, gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái. Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô, thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.

Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền, gần tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó. Phòng Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai, mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục. Không ngại Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần, trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, đều từ mắt sinh, phải sa địa ngục. Trải hằng sa kiếp, mới được làm người, dù được làm người, lại bị mù chột.

Nghiệp Căn Tai Là:

Ghét nghe Chánh pháp, thích lắng lời tà. Mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng. Sáo đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm, văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái. Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ, lời kinh câu kệ, không chút lắng tai. Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu, biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.

Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi, tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích. Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc. Hoặc nghe tiếng huyễn, bỗng nẩy lòng dâm, nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, đầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết. Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác, hết nghiệp thụ sinh, lại làm người điếc.

Nghiệp Căn Mũi Là:

Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào, chẳng thích chân hương, năm phần thanh tịnh. Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi, giới định hương huân, chưa từng để mũi. Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài, nghểnh cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói. Theo dõi hương trần, Long Thần chẳng nể, chỉ thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.

Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa, cây giác hoa tâm, xoay đi không đoái. Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau, thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt. Chẳng ngại tanh hôi, không kiêng hành tỏi, mê mãi không thôi, như lợn nằm ổ.

Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đờm vàng, bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch. Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng, hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng. Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm, không biết không hay, đều do nghiệp mũi.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ. Trải nghìn muôn kiếp, mới được làm người, dù được làm người, quả báo bệnh mũi.

Nghiệp Căn Lưỡi Là:

Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở, nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy. Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình, quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú. Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông, ăn rồi đòi nữa, nào thấy no đâu.

Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật, cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong. Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều, giống hệt người đau, gắng nuôi thuốc cháo. Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan, rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi. Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con, giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.

Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm, hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi. Chửi mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha, khinh khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người. Chê bai người khác, che dấu lỗi mình. Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ. Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo. Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ. Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn, tô vẽ điều sai, nói không thành có. Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông, tán dóc tăng phòng, ba hoa Phật điện.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, ví như cát bụi, đếm không thể cùng. Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt Thiệt, cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi. Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh, dù được làm người, lại bị câm bặt.

Nghiệp Căn Thân Là:

Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình, năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp. Chấp cho là thật, quên mất pháp thân, sinh dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp.

Nghiệp Sát Sinh Là:

Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ. Giết hại bốn loài, đâu biết một thể. Làm hại cố giết, tự làm dạy người, hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối. Hoặc làm thuốc độc để hại sinh linh, chí cốt hại người, không hề thương vật.

Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối, buông chài bủa lưới, xuýt chó thả chim. Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm, cử động vận hành, đều là tội lỗi.

Nghiệp Trộm Cắp Là:

Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà, phá khóa cạy then, sờ bao mò túi. Thấy của Thường Trụ, lòng dấy khởi tham, trộm của nhà chùa, không sợ thần giận. Không những vàng ngọc mới mắc tội to, ngọn cỏ cây kim đều thành nghiệp trộm.

Nghiệp Tà Dâm Là:

Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son, chẳng đoái liêm trinh, riêng sinh lòng dục. Hoặc nơi đất Phật, chính điện phòng Tăng, cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn. Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai, khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, đến lúc mạng chung, đều vào địa ngục. Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng, muôn kiếp tái sinh, lại chịu tội báo.

Nghiệp Căn Ý Là:

Nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng, mắc mớu tình trần, kẹt tâm chấp tướng. Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền, như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt. Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh. Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

Tội Keo Tham Là:

Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ, mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ. Của chứa tợ sông, lòng như hũ thủng. Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy. Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét, lụa là chất đống, nào có giúp ai.

Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều, mất mình một đồng, tưởng như hao lớn. Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai, kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí. Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo. Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp!

Dưới đây là phần cuối của văn bản đã được lọc sạch toàn bộ các lỗi quét khối (OCR), dính chữ, rác tự. Đồng thời, toàn bộ hệ thống từ vựng đã được chuẩn hóa nghiêm cẩn theo đúng các yêu cầu và quy ước đồng bộ của anh (chuyển thọ sinh thành thụ sinh, Bổn nguyện thành bản nguyện, phước thành phúc, bỏ các dấu gạch nối ở từ phiên âm và giữ nguyên mạch văn phong biền ngẫu gãy gọn miền Bắc).

Tội Nóng Giận Là:

Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu, quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí. Không riêng người tục, cả đến thầy tu, kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích. Chê cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha, cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy. Buông lời hại vật, cất tiếng hại người, không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.

Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu, dầu ở cửa Không, chưa thành vô ngã. Như rừng rình lửa, lửa cháy đốt cây, những tội trên đây, đều do nghiệp giận.

Tội Ngu Si Là:

Căn tánh đần độn, ý thức tối tăm, chẳng hiểu tôn ti, không phân thiện ác. Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay, mắng Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt. Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân, không tính không xét, đều do si nghiệp.

Những tội như thế, rất nặng rất sâu, đến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục. Trải ngàn muôn kiếp, mới được thụ sinh, dù được thụ sinh, lại mắc ngu báo. Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ, nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

Một nguyện: Nguồn linh thường trong lặng.

Hai nguyện: Tạng thức dứt lăng xăng.

Ba nguyện: Khối nghi đều tan nát.

Bốn nguyện: Bản nguyện trăng định mãi tròn đầy.

Năm nguyện: Pháp trần không khởi diệt.

Sáu nguyện: Lưới ái lìa buộc ràng.

Bảy nguyện: Suy nghĩ hành Thập thiện.

Tám nguyện: Nghe suốt khắp Tam Thiên.

Chín nguyện: Tâm vượn thôi nhảy nhót.

Mười nguyện: Ý ngựa dứt cương yên.

Mười một nguyện: Mở lòng nghe Phật dạy.

Mười hai nguyện: Mến thích Tổ sư Thiền.

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh Chúng, Ân cần đầu cúi lễ Từ Tôn. Thềm thang Thập Địa nguyện sớm lên, Chân tâm Bồ Đề không thôi chuyển.


 

PHỤC NGUYỆN

(Chủ lễ xướng)

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh, Toàn chúng mãi thuận hòa. Phật Tuệ chiếu sáng ngời, Mưa Pháp hằng nhuần gội.

Phật tử lòng tin sâu, Ruộng phúc càng tăng trưởng. Chúng sinh sống an lạc, Vui hưởng cảnh thái bình. Nơi nơi dứt đao binh, Mỗi mỗi đều thành Phật.

“Nam mô Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni.” (Đồng niệm rồi đứng lên lễ Tam Bảo)

Chí tâm quy mệnh lễ: Mười phương Vô Thượng Tam Bảo. (3 lễ)


 

KHÓA LỄ SÁM BA NGHIỆP

(Nghi thức Niêm hương, Tán Phật, Tán Pháp, Tụng Bát Nhã và Lễ chư Phật chư Tổ như của bài Sám hối sáu căn, rồi quỳ tụng)

Chúng con đồng đến trước Phật đài,

Tâm thành đỉnh lễ mười phương Phật,

Tất cả Bồ tát trong ba đời,

Thanh văn Bích chi chúng Hiền thánh,

Đồng đến chứng minh con phát lộ.

Bao nhiêu tội lỗi trong nhiều kiếp,

Ba nghiệp gây nên chẳng nghĩ lường,

Nổi chìm lăn lộn trong ba cõi,

Tội ác chiêu hoài không biết dừng.

Hôm nay tỉnh giác con sám hối,

Hổ thẹn ăn năn mọi lỗi lầm.

Cầu xin chư Phật đồng chứng giám,

Bồ tát Thanh văn thảy hộ trì,

Kiến con tội cũ như sương tuyết.

Hiện tại đời con đang sống đây,

Tuy có duyên lành gặp Phật pháp,

Mà đã gây nên lắm nghiệp khiên.

Lòng còn chứa chấp tham kiêu mạn,

Sân si tật đố hạnh tà mê,

Miệng nói điêu ngoa thêm dối trá,

Gạt lường ác khẩu lời vu oan,

Sát sanh hại vật thân gây tạo,

Thương tổn sanh linh để lợi mình.

Tam Bảo chứng minh con sám hối,

Bứt tâm tương tục kể từ đây,

Không hề tái phạm dù lỗi nhỏ,

Nguyện gìn ba nghiệp như giá băng.

Nguyện đạt chân tông giáo viên đốn,

Kiến tánh viên minh tâm nhất như.

Vọng tình ngoại cảnh dường mây khói,

Nghiệp thức vốn không trí sáng ngời,

Liễu sanh thoát tử không ngăn ngại,

Tam giới ra vào độ chúng sanh.

Thuyền từ chèo mãi không dừng nghỉ,

Đưa hết sanh linh lên giác ngạn.

Công đức tu hành xin hồi hướng,

Tất cả chúng sinh đều Niết bàn,

Vào nhà chư Phật ngồi tòa báu,

Mặc áo Như Lai chứng Pháp thân,

Đồng phát Bồ đề tâm bất thối,

Đồng ngộ Vô sanh pháp giới chân,

Đồng lên Phật quả vào Diệu giác,

Đồng nhập Chân như thể sáng tròn.

Chủ lễ xướng:

Tánh tội vốn không, do tâm tạo,

Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong.

Tội trong tâm diệt, cả đều không,

Thế ấy mới là chân sám hối.

“Nam mô Bồ tát Cầu Sám Hối” (Đồng niệm 3 lần câu này, sau đó tụng 12 lời nguyện, hồi hướng như của bài Sám hối sáu căn, rồi lễ Tam tự quy y dưới đây)

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đại đạo phát tâm vô thượng.

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập tam tạng trí tuệ như biển.

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng tất cả không ngại.

VĂN PHÁT NGUYỆN

Đệ tử chúng con một lòng thành, Nguyện cho đất nước mãi thanh bình, Tai nạn đao binh đều đứt sạch, Huynh đệ nhìn nhau con một nhà. Xót thương cứu giúp tiêu thù hận, Cả trên thế giới thảy an lành, Cùng chung nhân loại lòng yêu mến, Sớt cơm chia áo một tâm thành.

Kết tình đồng loại như ruột thịt, Nguyện cả chúng sinh ở cả côn trùng, Cùng khởi lòng thương che chở thảy, Ai đành sát hại làm lợi mình. Mong sao toàn thể cùng vui sống, Nguyện mưa Chánh pháp khắp quần sinh, Mọi người đều được ơn nhuần gội, Nhiệt não tiêu tan lòng thanh lương.

Tam thừa thánh quả đều an trụ, Nguyện con dứt sạch mọi não phiền, Gắng tu chẳng chút sanh lười mỏi, Lập chí vững chắc như kim cương. Dù bao sóng gió không lay động, Thẳng bước tiến lên quả Vô sanh, Yêu ma quỷ mị không ngăn nổi, Chiếc gươm trí tuệ tay chẳng rời.

Đơn đao đột nhập Vô thượng giác, Tam độc bát phong không chướng ngăn, Chỉ một Chân như Tam muội ấn, Tiến thẳng vào trong nhà Pháp thân. Trên ngọn Diệu phong rong tự tại, Xem xét mười phương chúng khổ đau, Khởi từ phương tiện tùy ứng hóa, Đưa chúng đồng lên bờ Niết bàn.

Dù bao gian khổ lòng không nản, Công đức tu hành xin hướng về, Tất cả chúng sanh cùng mình được, Đồng nương Chánh pháp Tối thượng thừa, Lên ngôi Chánh Giác chứng Phật đạo.


 

TỤNG TAM QUY NGŨ GIỚI

Phật tử thụ Tam quy và Ngũ giới, thì hàng tháng vào hai ngày 15 và 30 (hoặc 29, 28 nếu tháng thiếu) nên tụng lại Tam quy và Ngũ giới để kiểm điểm và sám hối các lỗi lầm. Tự mình soi sáng lại chính mình, làm cho giới thể được thanh tịnh, đạo tâm thêm lớn mạnh, ngõ hầu hướng tới một tương lai tốt đẹp. Sau khi tụng sám hối xong thì tụng phần Tam quy Ngũ giới này.

NGHI THỨC TỤNG TAM QUY

Chúng con nguyện suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. (Đánh một tiếng chuông lạy một lạy)

Quy y Phật là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy giác ngộ sáng suốt của chúng con.

Quy y Pháp là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo Chánh pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra.

Quy y Tăng là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo những Tăng sĩ tu hành đúng Chánh pháp của Như Lai.

Quy y Phật rồi, chúng con không kính trọng tu theo Trời, Thần, Quỷ vật.

Quy y Pháp rồi, chúng con không kính trọng tu theo ngoại đạo tà giáo.

Quy y Tăng rồi, chúng con không kính trọng làm thân với bạn dữ, nhóm ác.

(Đánh 1 tiếng chuông lạy 1 lạy)

NGŨ GIỚI

1. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không sát sinh. Nghĩa là chúng con không tự mình giết người bằng mọi cách, không sai bảo kẻ khác giết người, không vui thích thấy nghe kẻ khác giết người. Cho đến những con vật lớn chúng con cũng không nhẫn tâm giết hại, mà hằng bảo vệ sinh mạng chúng sinh.

2. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không trộm cướp. Nghĩa là chúng con thấy tài sản, vật dụng của người không khởi lòng tham lén lấy hay giựt lấy, mà luôn luôn bảo vệ tài sản của người như tài sản của mình.

3. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không tà dâm. Nghĩa là chúng con chỉ một vợ một chồng, chứ không có lòng mê hoa đắm sắc làm điều tà vạy, gây đau khổ cho gia đình mình và gia đình người, mà hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh bạch.

4. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không nói dối. Nghĩa là chúng con không do lòng tham nói lời dối trá lừa bịp người, không do lòng nóng giận nói lời hung dữ khiến người buồn giận, không do lòng hiểm ác nói lời vu oan vu cáo khiến người bị khó khăn tù tội, mà hằng nói lời chân thật ngay thẳng.

5. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không uống rượu. Nghĩa là chúng con không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ khiến tâm trí rối loạn mờ tối, thân thể sinh nhiều bệnh hoạn, chuốc lỗi lầm với thân nhân quyến thuộc, cho đến các thứ á phiện, xì ke, ma túy thảy đều tránh xa.

Cúi xin Tam Bảo hộ trì, khiến chúng con đầy đủ nghị lực gìn giữ năm giới trong sạch, để được làm người tốt trong đời này và đời sau.

(Đứng dậy đỉnh lễ Tam Bảo)

Chí tâm quy mệnh lễ: Mười phương Vô Thượng Tam Bảo. (3 lạy)

Sau khi tụng Sám hối hoặc tụng Giới xong, quý Phật tử có thể hồi hướng công đức này để cầu an, cầu siêu cho thân nhân... theo như văn Phục Nguyện dưới đây.

CẦU AN

Nam mô Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni

PHỤC NGUYỆN

Tất cả chúng con thành tâm sám hối, nguyện đem công đức này hồi hướng cho Phật tử... Pháp danh... được tai ách tiêu trừ, oan khiên dứt sạch, bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang. Lòng tin Tam Bảo ngày càng sâu, tâm từ đối với chúng sinh tăng trưởng. Khắp nguyện, phúc ban tất cả, đức độ quần sinh, Phật Pháp thịnh hưng, tam đồ dứt sạch.

Nam mô Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni (Đồng niệm)

CẦU SIÊU

Nam mô Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni

PHỤC NGUYỆN

Tất cả chúng con thành tâm sám hối, nguyện đem công đức này hồi hướng cho Phật tử... Pháp danh... được phát tâm tỉnh giác, lìa khổ u minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ. Tin sâu Tam Bảo sinh cõi Phật an vui. Khắp nguyện, người mất siêu thăng, kẻ còn phúc lạc; chúng sinh được thâm nhuần mưa Pháp, mọi người đều chứng ngộ Phật thừa.

Nam mô Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni (Đồng niệm)


Đăng nhận xét

0 Nhận xét