Advertisement

Một số câu chuyện từ sách Trung quốc Phật giáo nghi thức nghiên cứu của tác giả Hầu Xung

1. Tuệ Viễn học ngoại điển

Cao tăng truyện chép rằng khi Tuệ Viễn 24 tuổi đã bắt đầu giảng thuyết. Có lần một vị khách đến nghe giảng, đã đưa ra những lời chất vấn về nghĩa Thực tướng. Hai bên qua lại hồi lâu nhưng vị khách càng lúc càng nghi hoặc, mờ mịt. Tuệ Viễn bèn dẫn nghĩa từ sách Trang Tử để so sánh tương đồng (liên loại), nhờ đó kẻ mê muội kia mới bừng tỉnh. Sau sự kiện đó, Đạo An đặc biệt cho phép Tuệ Viễn được nghiên cứu cả sách thế tục (không bắt bỏ).

2. Những câu chuyện "nhà ngài báo" trong nhà Thiền

2.1. Đạo An nằm mộng

Cao Tăng Truyện còn ghi lại:

Sư An thường chú giải các kinh, e rằng không hợp với đạo lý, bèn phát nguyện rằng: “Nếu những lời con thuyết không trái với lý xa xăm, nguyện được thấy thụy tướng”. Sau đó, sư mộng thấy một vị đạo sĩ người Hồ, đầu bạc lông mày dài, bảo với sư An rằng: “Những kinh mà ông chú giải rất hợp đạo lý. Ta chưa được nhập Niết-bàn, hiện ở Tây Vực, sẽ giúp ông hoằng thông giáo pháp, ông có thể thường xuyên thiết thực cúng dàng”. Sau này, khi luật Thập Tụng được truyền đến, Viễn Công (Tuệ Viễn) mới biết vị mà Hòa thượng (Đạo An) mộng thấy chính là Tân Đầu Lô. Từ đó mới lập tòa thiết thực cúng vị Thánh tăng này, khắp nơi đều lấy đó làm phép tắc (Thích Huệ Kiểu: Cao Tăng Truyện, trang 183).

2.2. Tào Thực nghe Phạm Âm

Khuy Cơ thời Đường trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Tán (quyển 4, Đại Chính Tạng tập 34, trang 727 trung) có văn chép:

“Trần Tư (Tào Thực) lên núi Ngư Sơn, nghe trong hang đá có tiếng tụng kinh, thanh tao uyển chuyển, vang xa đến tận thung lũng sâu, bèn phỏng theo thanh âm đó mà chế ra Phạm bối. Thế nên trong dân gian nay gọi là Ngư Phạm, khế hợp một cách huyền diệu với tam khế thất thanh của Tây Vực, khiến người nghe đều tâm phục, ấy là do các vị như Câu Phục Nhĩ làm ra vậy.”

2.3. Lương Vũ đế sáng tác Thủy Lục

Mục “Thủy Lục trai” trong quyển 33 của bộ Phật Tổ Thống Ký (Đại Chính tạng tập 49, trang 321 trung hạ. Thuyết này thấy sớm nhất trong Thủy Lục Đại Trai Linh Tích Ký của Dương Ngạc [Tục Tạng kinh tập 57, trang 113 hạ - 114 trung], sau đó trong Thích Môn Chính Thống cũng có thuyết tương tự [Tục Tạng kinh tập 75, trang 303 hạ - 304 thượng]) do Chí Bàn soạn chép rằng:

Lương Vũ Đế mộng thấy một vị thần tăng bảo rằng: “Sáu đường bốn loài chịu khổ vô lượng, sao không làm đại trai Thủy Lục để cứu vớt họ?”. Vua đem hỏi các Sa môn, không ai biết cả. Duy có Chí Công khuyên vua nên tìm rộng trong kinh luận, ắt có nhân duyên. Vua bèn sai người nghênh thỉnh Đại tạng kinh, trải qua nhiều ngày xem xét, sáng tạo ra nghi văn. Ba năm sau thì thành, bèn lập đạo tràng. Vào lúc nửa đêm, vua tự bưng nghi văn, truyền tắt hết đèn nến, rồi bạch Phật rằng: “Nếu nghi văn này lý lẽ phù hợp với thánh phàm, nguyện khi con lễ bái đứng dậy, đèn nến tự sáng; bằng như thể thức chưa tường minh, thì nến vẫn tối như cũ”. Nói xong lễ một lễ, đèn nến thảy đều sáng rực; lễ thứ hai, cung điện chấn động; lễ thứ ba, trời tuôn hoa báu.

Ngày rằm tháng Hai năm Thiên Giám thứ tư, vua đến chùa Kim Sơn y theo nghi thức mà tu thiết, tự thân vua ngự ở địa tịch, chiếu cho Hựu luật sư tuyên đọc văn bản. Những linh ứng đương thời không thể chép hết được. 

3. Tăng - Đạo cầu mưa

Trong cuốn Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký của Viên Nhân thời Đường cũng có ghi chép về việc thỉnh tăng cầu tạnh, cầu mưa. Văn bản chép rằng:

Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, mưa dầm mấy lượt, Tướng công gửi thiếp cho bảy ngôi chùa, mỗi chùa lệnh cho bảy vị tăng niệm kinh cầu tạnh, lấy bảy ngày làm kỳ hạn. Khi xong kỳ hạn, trời liền tạnh. Phong tục nước Đường, cầu tạnh thì đóng đường phía Bắc; cầu mưa thì đóng đường phía Nam. Tương truyền rằng: Cầu tạnh đóng phía Bắc là ngăn âm để dương thông, nên trời sẽ tạnh; cầu mưa đóng phía Nam là ngăn dương để âm thông, nên trời sẽ mưa (Bạch Hóa Văn và các học giả: Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký hiệu chú, trang 71).

Ngày mồng 4, theo lời gửi gắm của Kim Chính Nam, vì để sửa chữa chiếc thuyền đã bán, đã lệnh cho 36 người gồm đô thợ, thợ phiên, thợ thuyền, thợ rèn đi đến Sở Châu. Người tại bản tự thỉnh tăng cầu mưa, lấy bảy người làm một phiên để tụng kinh (Bạch Hóa Văn và các học giả: Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký hiệu chú, trang 105-106).

Từ đầu năm đến nay, mỗi khi mưa ít, Công đức sứ vâng sắc chỉ gửi thiếp đến các chùa quán, lệnh cho tụng kinh cầu mưa. Khi cảm ứng có mưa, các đạo sĩ riêng được ban thưởng, tăng ni thì lặng lẽ không được gì. Người trong thành cười rằng: “Cầu mưa thì làm phiền thầy tăng, ban thưởng thì lại riêng cho đạo sĩ” (Bạch Hóa Văn và các học giả: Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký hiệu chú, trang 442).

Núi Ngũ Đài thậm chí còn có viện chuyên biệt để cầu mưa. Viên Nhân ghi chép rằng:

(Tháng 5) Ngày 20, bắt đầu đi tuần các Đài. Từ chùa Hoa Nghiêm hướng về phía Tây lên dốc, lại tiếp tục hướng về phía Tây lên dốc, đi hơn mười dặm thì đến Trung Đài.

Phía Nam Đài có Cầu Vũ Viện (viện cầu mưa) (Bạch Hóa Văn và các học giả: Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký hiệu chú, trang 280).

4. Những điều tưởng Phật giáo học từ Trung Quốc nhưng ... không phải

4.1. Tắm Phật - Khai quang điểm nhãn

Ghi chép của Nghĩa Tịnh cho hay:

Tuy nhiên tại Nam Hải mười châu, việc trai cúng lại càng thêm phần ân hậu. Ngày đầu đem một quả cau cùng dầu hương lát và một ít bột gạo, tất cả đựng trong khí cụ bằng lá, đặt vào khay lớn, lấy vải trắng phủ lên. Bình vàng chứa nước, tưới xuống đất ngay phía trước để thỉnh chúng tăng, mời đến trước giờ Ngọ ngày sau xoa thân tắm gội. Ngày thứ hai sau giờ Ngọ, bèn đánh trống nhạc, bày hương hoa, nghênh thỉnh tôn tượng. Xe sàn kiệu võng, phướn lọng rợp trời, tăng tục đông như mây kéo đến. Dẫn về nhà thí chủ, giăng màn che phủ. Tôn tượng bằng vàng đồng được lau chùi sáng loáng, xoa bằng bùn hương, đặt trong khay tịnh. Tất cả đều cầm nước hương, thành tâm mộc dục (tắm tượng). Lau bằng khăn hương, bưng vào trong sảnh, bày biện hương đăng, bấy giờ mới hành lễ tán thán. Sau đó Thượng tọa vì thí chủ nói Đà-na Già-tha, diễn thuật công đức, bấy giờ mới thỉnh tăng. Ra ngoài tẩy súc (rửa miệng), uống nước đường cát, ăn nhiều cau, sau đó mới giải tán. Đến ngày thứ ba vào lúc Ngung trung (khoảng 9-11 giờ sáng), thí chủ vào chùa kính cẩn thưa đã đến giờ. Tăng nhân tắm gội xong, được dẫn đến nhà thiết trai. Lại thiết lập tôn tượng như trước, sơ lược thực hiện việc tắm tượng. Hương hoa trống nhạc gấp bội so với sáng hôm trước. Tất cả đồ cúng dàng đều được bày biện khắp trước tôn tượng. Ở hai bên tượng, mỗi bên trang nghiêm sắp đặt năm hoặc mười đồng nữ, hoặc có thể là đồng tử, tùy theo thời điểm có hay không. Người thì bưng lư hương, cầm quán tẩy bằng vàng; người thì nâng đèn hương, hoa tươi, phất trần trắng. Tất cả các thứ như đài trang điểm, hộp gương đều được mang đến trước Phật để phụng hiến. Hỏi ý nghĩa là gì, họ đáp rằng đó là phúc điền, nay không phụng hiến thì sau này sao hy vọng có báo ứng? Xét về lý mà nói, đây cũng là việc thiện.

Tiếp theo mời một tăng nhân quỳ trường quỳ trước tòa, tán thán Phật đức. Sau đó lại mời riêng hai tăng nhân khác, mỗi người lên một tòa bên cạnh tượng Phật, tụng lược một đoạn kinh ngắn khoảng nửa tờ hoặc một tờ giấy. Hoặc là để chúc mừng hình tượng, cùng khai quang điểm nhãn cho tượng Phật, để cầu thắng phúc. (Vương Bang Duy: Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện Hiệu Chú, trang 62-64).

4.2. Sự xuất hiện của sự thờ phụng thiên thần trong pháp hội

Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp sư truyện quyển 5 ghi chép rằng:

Đến ngày mười chín (tháng giêng), [Huyền Trang] từ biệt vua [Giới Nhật] để trở về. Vua nói: “Đệ tử nối nghiệp tông miếu, làm chủ thiên hạ đã hơn ba mươi năm, thường lo phúc đức không tăng trưởng rộng rãi, nhân duyên Phật pháp không nối tiếp, vì thế tích tập tài bảo, tại bãi đất giữa hai dòng sông nước Bát-la-da-già lập đại hội trường, năm năm một lần thỉnh Sa môn, Bà-la-môn năm cõi Ấn Độ cùng những người nghèo khổ cô độc, làm cuộc Vô già đại thí trong bảy mươi lăm ngày. Đã thành tựu được năm hội, nay muốn làm hội thứ sáu, thầy sao không tạm xem để tùy hỷ.” Pháp sư báo rằng: “Bồ tát hành đạo, phúc tuệ song tu, người trí đắc quả không quên cái gốc của mình. Vua còn không tiếc trân tài, Huyền Trang há có thể từ chối việc dừng lại ít lâu, xin đi theo vua.” Vua rất mừng. Đến ngày hai mươi mốt, khởi hành hướng về nước Bát-la-da-già để đến bãi đại thí. ... Sáng sớm hôm đó, vua Giới Nhật cùng vua Câu-ma-la đi thuyền quân, vua Bạt-tra đi tượng quân, mỗi người chỉnh đốn nghi vệ, tập hợp tại địa điểm hội, chư vương mười tám nước thứ tự đi theo. Ngày thứ nhất, ở trong điện cỏ tại bãi thí an vị tượng Phật, bố thí vật báu thượng hạng, y phục thượng hạng và thức ăn ngon, trỗi nhạc rải hoa, đến tối mới về doanh trại. Ngày thứ hai, an vị tượng Nhật thiên, thí bảo vật và y phục bằng nửa ngày đầu. Ngày thứ ba, an vị tượng Tự Tại thiên, ...

5. Phật giáo và Bà la môn giáo tại Trung Quốc

Sách Cao tăng truyện (quyển 6) chép rằng:

Bấy giờ ở nước Sư Tử có một vị Bà-la-môn, tài biện bác thông thái, mọi điển tịch thế tục ở phương Tây không gì là không thông thuộc, vốn là bậc tông chủ ngoại đạo của nước ấy. Nghe danh Ngài La-thập đang hoằng dương Phật pháp mạnh mẽ tại Quan Trung, vị ấy bảo đồ đệ rằng: “Lẽ nào lại để tông phong của họ Thích độc chiếm phương Đông, mà chính hóa của chúng ta lại không truyền tới đó?” Bèn cưỡi lạc đà, chở theo kinh sách vào thành Trường An. Vua Diêu Hưng thấy người này ngôn từ, diện mạo linh hoạt, cũng có phần kiêng nể.

Vị Bà-la-môn tâu với vua rằng: “Chí đạo không có khuôn mẫu cố định, ai nấy đều tôn thờ sở học của mình. Nay xin cùng các tăng nhân nước Tần tỷ thí tài biện bác, ai ưu tú hơn thì cho phép truyền giáo hóa của người đó.” Vua Diêu Hưng chuẩn tấu. Bấy giờ tăng chúng Quan Trung nhìn nhau lo lắng, không ai dám đứng ra đối đầu. Ngài La-thập bảo với Đạo Dung rằng: “Tên ngoại đạo này thông minh khác thường, mang theo lời lẽ tất thắng, nếu để Vô thượng Đại đạo của chúng ta chịu khuất phục thì thật là đáng bi ai. Nếu ngoại đạo đắc thế, bánh xe pháp (Pháp luân) sẽ gãy trục, sao có thể để chuyện đó xảy ra? Theo ta thấy, người có thể đương đầu chỉ có một mình ông.”

Đạo Dung tự xét tài lực không thua kém, nhưng kinh sách ngoại đạo thì chưa đọc hết, bèn ngầm sai người chép lại danh mục kinh sách mà vị Bà-la-môn kia thường đọc, chỉ xem qua một lượt là thuộc lòng. Đến ngày luận nghị, vua Diêu Hưng đích thân giá lâm, công khanh đều tụ hội dưới điện, tăng chúng Quan Trung khắp bốn phương đều tập trung đông đủ. Đạo Dung cùng vị Bà-la-môn đối kháng quyết liệt, tài biện bác sắc bén huyền vi, đối phương không theo kịp. Vị Bà-la-môn tự biết từ lý đã khuất phục, nhưng vẫn cậy mình đọc rộng để khoe khoang, Đạo Dung bèn liệt kê lại những sách vị ấy đã đọc, đồng thời kể thêm các danh mục kinh sử tại đất Tần, số lượng nhiều gấp ba lần. Ngài La-thập nhân đó cười nhạo rằng: “Ông há chẳng nghe nước Đại Tần học thuật rộng lớn, sao lại dám coi thường mà lặn lội đến đây?” Vị Bà-la-môn trong lòng hổ thẹn, cúi đầu kính lễ dưới chân Đạo Dung, vài ngày sau lặng lẽ rời đi. Tượng vận (vận mệnh của Phật giáo) hưng thịnh trở lại, công lao của Đạo Dung rất lớn vậy.

Phật giáo Quan Trung bấy giờ là dòng chảy chủ lưu của Phật giáo Trung Hoa. Kết quả của cuộc biện luận này liên quan trực tiếp đến đại sự: Phật giáo hay Bà-la-môn giáo mới có tư cách truyền bá tại Quan Trung. Chiến thắng trong cuộc luận nghị này đã đặt nền móng danh chính ngôn thuận cho Phật giáo phát triển tại Trung Hoa

Đăng nhận xét

0 Nhận xét