Advertisement

Một số vấn đề mang tính chất lý luận trong nghiên cứu nghi lễ phật giáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH CHẤT LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU NGHI LỄ PHẬT GIÁO

1. Vấn đề nhị trùng siêu hình - thực tế trong nghi lễ

Trong nghiên cứu nghi lễ, một số người nghiên cứu có cách thức giải thích theo mô hình như sau: Ví dụ như có một hoạt động nghi lễ abc, theo quan điểm truyền thống thì thường được giải thích là do có câu chuyện xyz. Tuy nhiên, cách giải thích xyz đó lại mang tính chất có vẻ tâm linh kì bí, siêu hình. Và, người ta cho rằng câu chuyện đó vốn không phải như vậy, mà là bắt nguồn từ thực tế vtu nào đó ...

Ví dụ như:

Việc thí thực xuất sinh mỗi bữa ăn không phải vốn là bố thí cho đại bàng Kim xí điểu, La sát quỷ tử mẫu, khoáng dã quỷ thần chúng, mà chỉ đơn giản là hành động bố thí ngẫu nhiên của Tăng sĩ cho các sinh vật nhỏ như sâu kiến, chim chóc xung quanh Tăng già lam.

Việc cấm mặc quần ống rộng không phải là do tránh để hạ mao rơi ô nhiễm Thánh địa khiến Long thần trị tội, mà là do mặc quần ống rộng khi đi vào nhà vệ sinh dễ dây bẩn, dính nhớp từ nhà vệ sinh lên chính điện.

Việc vào nhà vệ sinh gẩy móng tay không phải là để đuổi quỷ đói ăn đồ phẩn uế, mà là để ra tín hiệu cho người ở bên trong.

Tức là người nghiên cứu chỉ công nhận nguồn gốc từ cuộc sống thực tế của nghi lễ. Còn câu chuyện mang tính chất tâm linh siêu hình thì là do đời sau thêu dệt nên để tạo nên tính linh thiêng.

Cách diễn đạt như thế có vẻ rất "hợp lý" và "khoa học", tuy nhiên theo tôi thì trong quá trình nghiên cứu Phật giáo không nên diễn đạt như vậy. Bởi vì nhãn quan tôn giáo vẫn bao hàm phần nào tính chất siêu hình, siêu thực. Vì vậy, khi làm bất cứ việc gì, người ta không chỉ nghĩ đến những thực thể hữu hình xung quanh mình, mà còn nghĩ đến những thế lực vô hình như thần linh, quỷ quái. Tức là trong một nghi lễ luôn xuất hiện nhị trùng giữa nguồn gốc từ thực tại hữu hình và nguồn gốc từ đời sống tâm linh siêu hình. Thay vì diễn đạt "nghi lễ này không phải nguồn gốc như thế này mà là như thế này", thì ta nên diễn đạt rằng: "Nghi lễ này bắt nguồn từ những hành động đơn giản trong cuộc sống như thế này, nhưng với nhãn quan rộng lớn của thế giới thần thoại thì nó còn là, còn mang ý nghĩa là..." Theo tôi, cách diễn đạt như thế mới khách quan và tránh được những tranh luận không đáng có.

2. Vấn đề diễn tiến lịch sử của nghi lễ

Bất kỳ sự vật nào cũng có sự vận động phát triển, không bao giờ đứng yên một chỗ. Đó là quy luật phổ quát của mọi sự vật hiện tượng. Nghi lễ cũng vậy. Chính vì vậy, trong nghiên cứu nghi lễ cần phát huy tinh thần lịch sử cụ thể, không nên nói chung chung phi lịch đại.

Đơn cử như tiên sinh Hầu Xung đã ví dụ: Các từ điển khi định nghĩa đặc điểm của trai đàn Thủy lục thường định nghĩa nó có nội đàn và ngoại đàn, thường diễn ra trong 7 ngày... Nhưng thực tế thì trong lịch sử không phải thời kỳ nào đàn Thủy lục cũng chia hai đàn và cũng diễn tiến đủ 7 ngày.

Hay trong quá trình nghiên cứu bố cục của trai văn, tiên sinh Hầu Xung cũng đã lập luận để chứng minh xem bố cục 4 phần hay 5 phần là đúng. Tuy nhiên, theo tôi thì cần nói rõ ý nghĩa đây là nghiên cứu bố cục trai văn của di thư Đôn Hoàng chứ không phải của trai văn hiện tại. Bởi vì trai văn thông dụng hiện nay tại Trung Quốc cũng như Việt Nam thì không tuân theo bố cục ấy.

3. Vấn đề ngụy biện uy tín và quan điểm cá nhân

Trong quá trình lập luận, nhiều người đưa ra cách chứng minh quan điểm của mình bằng cách dẫn quan điểm của một số vị cao tăng thạc đức, các cư sĩ có uy tín trong cộng đồng Phật tử.

Cách làm đó cũng tương đối có hiệu quả vì tôn giáo lấy thân giáo làm chủ yếu, lấy thực chứng làm trọng tâm. Cuộc đời tu tập và hành đạo của các vị cao tăng, thiện tri thức là tấm gương sáng cho mọi Phật tử cũng như là sự thể nghiệm cao nhất đối với các nghi lễ Phật giáo.

Tuy nhiên, ý kiến của các ngài vẫn không tránh khỏi góc nhìn chủ quan, mang tính tông phái và ý định cá nhân.

Lấy ví dụ:

Tán Ninh Thiền sư trong Cao tăng truyện cho rằng chức năng chính của đô giảng là phát vấn.

Ngài Vân Thệ Châu Hoằng, Long Thư cư sĩ chủ trương bài trừ các kinh nghi ngụy.

Thượng tọa Tố Liên từng đi tiên phong trong việc bài trừ vàng mã trong nghi lễ Phật giáo.

Pháp sư Thái Hư từng cho rằng phật giáo Trung Quốc đã biến Phật giáo dành cho người sống thành Phật giáo dành cho người chết

Pháp sư Thánh Nghiêm cho rằng sớ văn là di tích của Bái hỏa giáo, là Phật giáo vay mượn của Bà la môn giáo và Đạo giáo.

Thực tế chứng minh rằng ý kiến của các ngài không phải không có cơ sở nhưng không phải đúng hoàn toàn.

Theo các văn bản lịch sử thì nhiệm vụ chính của đô giảng vẫn là xướng kinh văn, bên cạnh đó tùy nghi mà phát vấn chứ không bắt buộc phải phát vấn. Ngài đưa ra ý kiến như vậy chẳng qua là vì thời đại của ngài không còn có người biết phát vấn khiến cho việc giảng kinh kém phần hiệu quả, khiến cho tăng sĩ có cái nhìn đặc biệt về chức năng phát vấn mà thôi.

Đành rằng các kinh điển nghi ngụy có thể chính là phan duyên trong quá trình tu tập của hành giả Tịnh độ. Nhưng ở góc nhìn khác, các kinh điển như Thọ sinh kinh hay Thập vương kinh đã góp phần xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa tăng nhân và Phật tử trong quá trình trai cúng Trung Quốc chuyển mạnh từ trai tăng sang thí ngạ quỷ.

Cũng như vậy, trong phong trào chấn hưng Phật giáo cần chú trọng chấn hưng về mặt giáo lý, tạm thời gác bỏ một số nhiệm vụ về lễ nghi, ứng cúng dân gian. Tuy nhiên, sự bài trừ mà Thượng tọa phát động đã gây nên sự phản ứng dữ dội của các làng nghề làm mã miền Bắc. Như vậy, trên góc độ nào thì quan điểm như vậy có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tăng và tục, giữa đạo và đời?

Không phải Phật giáo Trung Quốc tự tiện có thể biến Phật giáo dành cho người sống thành Phật giáo dành cho người chết. Mà ngay từ trong bản thân của Phật giáo Ấn Độ đã có phần dành cho người chết rồi.

Quan điểm của Pháp sư Thánh Nghiêm sai về mặt lịch sử và bản chất nghi lễ. Đành rằng trong dân gian có những quan điểm chưa được đúng đắn về sớ văn như: Nếu không có sớ văn thì Phật Thánh không biết được sự kêu cầu của tín chủ, tốt lễ dễ kêu... Tuy nhiên, sớ văn lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với người hành lễ và tín chủ trong trai đàn Thủy lục. Nó cũng bắt nguồn từ chính việc chú nguyện của Phật Tổ dưới dạng vật chất hóa mà thôi.

Như vậy, trong quá trình nghiên cứu nghi lễ, vẫn cần tham khảo ý kiến của các vị cao tăng. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu rõ cả về động cơ cá nhân, tông phái, thời đại mà các ngài đưa ra ý kiến đó. Từ đó có sự lý giải đối với thái độ mà các ngài đưa ra. Tuyệt đối tránh hết sức việc sử dụng uy tín cá nhân để thay thế việc nghiên cứu học thuật.

Bên cạnh đó cũng cần chú ý việc nói việc không nói người. Tức là ý kiến của các ngài có thể sai nhưng không thể đồng nhất với việc hạ thấp sự tu hành cũng như thực chứng của các ngài.

4. Cần xóa bỏ quan điểm cho rằng Phật giáo Thượng tọa bộ, nghi lễ Phật giáo Thượng tọa bộ... là Phật giáo nguyên thủy

Hệ phái hiện nay đang tự nhận là Phật giáo nguyên thủy thực chất chỉ là một nhánh nhỏ của Phật giáo Thượng tọa bộ. Phật giáo Thượng tọa bộ nguyên thủy chỉ phản ánh một khía cạnh của Phật giáo nguyên thủy. Sau đó, Phật giáo Thượng tọa bộ tiếp tục truyền đến các nước khác nhau, trải qua thời gian lịch sử lâu dài, tiếp tục phân chia thành những bộ phái nhỏ. Ngày nay, một số bộ phái nhỏ trong hệ Thượng tọa bộ đã không còn tồn tại. Phái Xích Đồng Diệp bộ tồn tại ở Tích Lan tự nhận mình là Phân Biệt Thuyết bộ hoặc Thượng tọa bộ. Bản thân vấn đề chính danh của chữ Thượng tọa bộ này đã có vấn đề, chưa nói đến tự nhận là Phật giáo nguyên thủy.

Bản thân văn hệ của phái Xích Đồng Diệp bộ đã có rất nhiều sự thủ xả, khiến cho những ghi chép về lễ nghi trong Luật tạng của Xích Đồng Diệp bộ khác biệt so với tất cả các bộ phái còn lại hiện đang có kinh điển được lưu truyền.

Hơn nữa, trong quá trình thực dân hóa, các học giả phương Tây đã tích cực chỉnh lý lại Phật giáo Theravada. Bộ mặt của Phật giáo Theravada ngày nay không còn như thời thế kỷ 15, 16. Phật giáo Theravada ngày nay nghiêng hẳn về Giáo tông và Luật tông. Rất nhiều nghi lễ Mật tông Phật giáo Nam truyền đã biến mất và chỉ còn xuất hiện ở một số vùng quê hẻo lánh của Thái Lan, Campuchia, Lào.

Vì vậy, quan điểm sách vở, thực tế hành trì của Phật giáo Nam truyền hiện nay cũng chỉ có thể được coi như là một đối chứng đối với nghiên cứu nghi lễ Phật giáo mà thôi. Để truy nguyên nguồn gốc thì cần phải tiếp tục nghiên cứu tất cả mọi nguồn tài liệu, trong đó có cả tài liệu Hán truyền.

5. Tránh quan điểm cho rằng những gì Phật giáo giống với Đạo giáo có nghĩa là Phật giáo học từ Đạo giáo

Trong nghiên cứu văn hóa, có hai thuyết rất hay được vận dụng. Một là thuyết trung tâm văn hóa, tức là văn hóa hình thành từ một trung tâm lớn sau đó lan truyền đi các vùng khác nhau. Thứ hai là thuyết hình thái kinh tế - xã hội, tức là những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giống nhau thì sẽ xuất hiện những yếu tố văn hóa tương đồng. Cần phải sử dụng hai thuyết này một cách hài hòa, bổ sung lẫn nhau để khắc phục những hạn chế của các thuyết cũng như tránh rơi vào ngụy biện ảo tưởng.

Trong nghiên cứu nguồn gốc của nghi lễ cũng vậy. Không phải bất cứ điều gì Phật giáo giống với Đạo giáo đều có nghĩa là Phật giáo học từ Đạo giáo. Có thể những nghi lễ đó đã xuất hiện từ bản thân trong xã hội Ấn Độ rồi.

Bên cạnh đó, theo tôi cần phân biệt giữa việc Phật giáo học tập Đạo giáo và Phật giáo học tập văn hóa Trung Quốc. Ví dụ như sớ văn trong Phật giáo là sự kết hợp giữa trai ý văn của Phật giáo và văn bản công văn, văn bản văn học trong xã hội Trung Quốc thì đúng hơn là học tập từ trai văn, sớ điệp của Đạo giáo.

6. Văn hóa nghi vấn và giả định

Người ta thường nói học hải vô nhai. Hiểu biết của con người vô cùng nhỏ bé và hữu hạn. Vì vậy, cần có văn hóa đặt nghi vấn và giả định khi chưa có bằng chứng cụ thể, xác đáng. Hoặc cũng cần là để ngỏ câu trả lời với một số vấn đề. Vì có thể trong tương lai sẽ xuất hiện những bằng chứng khảo cổ hoặc các văn bản khác có thể trả lời được các câu hỏi hiện tại một cách rõ ràng hơn.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét