Advertisement

GIẢI ẢO CHO BÀI VIẾT GIẢI ẢO (CHUYỆN VUA ĐINH LÀ THẦN TRÙNG)

 


📌 MỘT BÀI HAI CHỦ ĐỀ: CHUYỆN “NHÀ NGÀI BÁO” - VÀ “GIẢI ẢO” CHUYỆN VUA ĐINH LÀ THẦN TRÙNG

Trong thời gian vừa qua thì page Đại Việt Thần Thoại có đăng tải bài viết về nội dung “vua Đinh là thần trùng” và nhận được khá nhiều ý kiến trái chiều. Thực ra hiện tượng này xảy ra chủ yếu là do khác biệt về tệp đối tượng. Nếu như bổn page đăng câu chuyện này, thì ắt hẳn đây lại là câu chuyện tương đối xuôi chiều, vì hầu như ông thầy cúng nào cũng biết thuyết ấy cả. Tuy nhiên với đối tượng độc giả trẻ của page Đại Việt Thần Thoại thì thông tin này có vẻ khá mới lạ. Lại thêm thông tin được đăng tải đúng dịp phim Hộ linh tráng sĩ ra đời nên các ý kiến lại càng sôi nổi.

Các ý kiến phản hồi về thông tin ấy, có thể tóm tắt trong mấy xu hướng/ luồng ý kiến như sau:

  • 1. Nhóm xem đây là sai lầm do người dịch: Việc dịch các tài liệu Hán tự không có chấm phẩy rồi tự thêm vào có thể dẫn đến việc hiểu sai lệch (ví dụ như đoạn "họ Đoạn tên Huyền Đinh, Tiên Hoàng ma vương" bị đời sau thấy ba chữ "Đinh - Tiên - Hoàng" rồi phản ứng gán ghép vào vua Đinh). Từ đó, người ta tự thêu dệt và tìm bằng chứng để giải nghĩa cho giả thuyết này.

  • 2. Nhóm phản đối, cho là sự thêu dệt, báng bổ và vô tri: Ngược lại, có ý kiến gay gắt lên án quan điểm này, cho rằng đây là hành vi báng bổ.

Có ý kiến cho rằng các tài liệu liên quan đến vấn đề này chỉ là sách dã sử, hay các sách của thầy bùa, không chính thống. Cái chết của vua Đinh và Đinh Liễn do Đỗ Thích sát hại vốn chỉ là chuyện bình thường vào thời kỳ lịch sử hỗn loạn đương thời.

Lại có ý kiến: Vua Đinh Tiên Đế là hoàng đế của nước Việt, là bậc tổ tông, vị anh hùng dân tộc được thờ phụng và tôn vinh, nhưng qua miệng lưỡi của những kẻ khác lại bị biến thành ma quỷ.

Cũng có thể xếp cùng loại với nhóm "báng bổ" thì có ý kiến cho rằng thuyết này là sản phẩm của Trung Quốc sáng chế ra, mang tính chất tấn công văn hoá nước khác (và so sánh với thuyết Hóa hồ). 
Hay có ý cho rằng: Truyền thuyết thần trùng đã có từ thời xa xưa hơn nữa rồi. Việc gán ghép vua Đinh Tiên Hoàng đầu thai làm thần trùng là gán ghép vô căn cứ.

Xin bàn luận vài ý như sau:

  • Thứ nhất: Về ý kiến cho rằng đây là "lỗi dịch" do ngày xưa không có chấm phẩy, ...: xin khẳng định ý kiến này không có căn cứ. Thứ nhất, ngày xưa các văn bản vẫn có chỗ dùng khoanh, phẩy để ngắt câu, ngắt đoạn (gọi là cú đậu). Thứ hai, như trong hình câu không thể ngắt nghĩa theo cách khác được, mà bắt buộc sẽ là: "Nhị địa xa thần sát, Thế Hưng Đại thần, Đinh Tiên/ Thiên Hoàng Đại Quỷ Vương".

  • Thứ hai: Thuyết vua Đinh là thần trùng có thực sự là báng bổ tiền nhân? Theo như tôi nhận thấy, do liên quan đến nhân vật lịch sử khai quốc nên đánh giá của mọi người có phần khá vội vã, phiến diện và cực đoan. Nhưng độc giả thử tự bình tâm suy xét lại: Là thần trùng có thực sự xấu? Không! Do quan niệm giản đơn, nhiều người cho rằng thần trùng là các tinh linh xấu, phẩm cấp thấp, chuyên làm chuyện tàn ác cho nên việc để vua Đinh trở thành thần trùng quả là một việc "báng bổ". Tuy nhiên, nhìn vào cấu trúc thần thực tế trong tín ngưỡng Việt Nam ta lại thấy vấn đề hoàn toàn khác. Một bộ thần bao giờ cũng phân ra làm thần "tướng" và thần "binh". Thần tướng là chỉ huy còn thần binh mới là tay chân đi làm (thần thiêng nhờ bộ hạ). Hiện tượng "phân cực bộ thần" này xuất hiện phổ biến điển hình như là các bộ: ôn thần, hỏa thần, trùng tang, âm binh, ... Nghe tên thì tưởng là thần hạ lưu, nhưng các thần "tướng" trong các bộ thần này đa số đều là các thần có xuất thân, thần tích "không phải dạng vừa đâu". Tứ Châu Tăng Già thống lĩnh ôn bộ, Hàn Tín, Chung Quỳ thống lĩnh Trùng tang, Sơn Tiêu Độc Cước, Tam Danh, Tề Thiên, Ngũ Lôi sứ tướng thống lĩnh âm binh ... Hơn nữa, theo quan niệm "ác giáng tai, thiện giáng phúc" các bộ hung thần này gieo rắc tai ương đến nhân gian không phải vì đó là sở thích của họ thích làm như vậy, mà đó là hành động thực thi nhân quả nghiệp báo, theo lệnh trời hành binh hành bệnh, bắt người trần gian.

  • Thứ ba: Về nhóm ý kiến cho là sự thêu dệt và vô tri Thực tế là xung quanh bất kì nhân vật lịch sử nào mà chẳng có những câu chuyện mang tính chất hoang đường, huyền hoặc rồi được lưu truyền trở thành dã sử? Có những câu chuyện hoang đường do dân gian hiếu kì thêu dệt. Có những câu chuyện do chính bản thân hoặc bộ hạ của nhân vật ấy cố tình tạo ra để nâng cao tính chính danh (như câu chuyện sấm truyền liên quan đến Lý Công Uẩn). Cũng có câu chuyện do phe cánh đối lập đặt ra để hạ bệ nhân vật đang nắm quyền (Như thuyết âm mưu về nhà Chu và nhà Thương, vấn đề có hay không sự tàn bạo ngang ngược của Lê Long Đĩnh, ...) Tôi vẫn luôn nhấn mạnh với mọi người, nghiên cứu học thuật nó khác với tuyên truyền chính trị. Thực vậy! Tuyên truyền chính trị muốn hiệu quả thì phải dựa trên sự thật, nhưng sự thật ấy là sự thật có chọn lọc để lợi cho sự tuyên truyền. Vì vậy, tuy nó là sự thật nhưng nhiều khi nó mang tính chất đơn giản, đơn tuyến, đơn điệu và nhiều khi còn đơn phương. Ngược lại, nghiên cứu học thuật cần góc nhìn đa chiều hơn. Người nghiên cứu cần tiếp thu mọi nguồn ý kiến. Vì những câu chuyện tưởng như vô tri đó lại cho ta biết được: dư luận đương thời về nhân vật, qua đó biết được quan niệm dân gian về thiện ác, báo ứng, giá trị quan, thẩm mỹ quan, ... đương thời. Ví dụ: Hàn Tín chết oan nên được tác giả dân gian Việt Nam "thực thi công lý" bằng cách phong ông thành thần thống lĩnh âm binh, thần trùng trả thù Lã Hậu. Hay: Lấy ví dụ ngay trên những câu chuyện được kể ra trong những cmt phản đối để làm ví dụ thử. Ví dụ có cmt bình luận: "Đạo giáo vốn có tiếng là viết ra nhiều thuyết để hạ thấp các tôn giáo khác, chẳng hạn như thuyết Lão Tử hóa hồ. Đến một nhân vật lịch sử có sức ảnh hưởng như Gautama Buddha còn bị Đạo giáo hạ thấp, thì cũng nên thận trọng với thông tin gọi vua Đinh là thần trùng.". Xin thưa với bạn, tuy là Phật giáo đồ và không công nhận thuyết Hóa Hồ, nhưng khi nghiên cứu lịch sử Đạo giáo hay lịch sử văn học Đạo giáo, tôi vẫn không thể bỏ qua việc nghiên cứu thuyết này. Việc sáng tác thuyết Hóa Hồ không thể hiện khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa Đại Hán trong tôn giáo. Vậy thì việc nhà Đường, nhà Nguyên xuống chiếu hủy bỏ kinh này có ý nghĩa như thế nào với dân tộc Hán và tính chính thống của triều đình? Việc xuất hiện các văn bản phái sinh từ hóa hồ kinh thể hiện điều gì trong lịch sử Phật - Đạo giáo Trung Quốc, ... vân vân, ... Nếu như đứng trên lập trường Phật tử, triệt để nói không với nghiên cứu thuyết Hóa Hồ sẽ khiến Phật giáo giới kém hiểu biết về một phần lịch sử của chính mình.

  • Thứ tư: Và cuối cùng, kết hợp góc nhìn ở ý kiến 2 và 3, xin nói thêm một điều như sau: Một vị vua, mà có trở thành cô hồn, dã quỷ hay yêu ma thì đó cũng là chuyện bình thường, không có việc gì cần phải phản ứng một cách dữ dội hay coi đó là "báng bổ". Theo quan niệm Phật giáo, trong kinh A Hàm có nói đến 4 điều mà phàm nhân không nên bàn, trong đó có bàn về quả dị thục (tức là bàn về việc đời này làm gì, đời sau nhận quả báo gì). Vì vậy, người trần chỉ biết ông ấy có công, chứ ai biết khi "một hậu", âm ty xử phán ra sao, thăng trầm 3 cõi thế nào, 33 cửa trời hay 18 cửa ngục??? Người ta thường nói, nhất tướng công thành vạn cốt khô, nhìn trên bình diện lợi ích đất nước dân tộc, thì có thể vị vua đó có công lao, và cả công đức, nhưng trên quan niệm chúng sinh bình đẳng thì không tránh khỏi nghiệp báo. Chính vì thế trong triệu thỉnh cô hồn vẫn có đường: "lịch triều đế chúa", "tiền vương hậu bá", "anh hùng tướng soái", "công thần tể phụ", ... Và cũng xin mượn đó giới thiệu thêm một câu chuyện nữa vào trong series "nhà ngài báo" của page - đó là câu chuyện Tần Trang Tương Vương hóa làm cô hồn báo cho Anh Công thiền sư làm đàn Thủy Lục. Trong Phật Tổ Thống Ký của Chí Bàn, Thích Môn Chính Thống của Tông Giám, Thủy Lục Đại Trai Linh Tích Ký của Dương Ngạc, Tống Cao Tăng Truyện của Tán Ninh,  Lưỡng Kinh Tân Ký của Vi Thuật, ... đều có ghi lại câu chuyện này:

“Chùa Pháp Hải ở phía nam cửa Tây Kinh Triệu vốn là phủ đệ của Thanh Thủy Công Hạ Bạt Hoa, Tổng quản Giang Lăng thời Tùy. Năm Khai Hoàng thứ bảy (587), Sa môn Pháp Hải xả bỏ phủ đệ để lập chùa, vì vậy chùa được đặt tên là Pháp Hải. Đời Đường, chùa có Thiền sư Anh, một vị tăng có giới đức cao, lại có khả năng nhìn thấy quỷ vật. Tự chủ Huệ Giản từng nhiều lần nhìn thấy hai người đi đứng không chạm đất, vào viện của sư Anh nên lấy làm lạ. Sư Anh giải thích rằng đó là sứ giả của Tần Trang Tương Vương, người đã chết từ lâu. Tần vương vì biết sư Anh có lòng từ bi nên sai người đến xin một bữa cúng dàng cho mình và khoảng ba trăm tùy tùng. Huệ Giản cũng giúp chuẩn bị rượu thịt. Đến ngày hẹn, Tần Trang Tương Vương quả nhiên dẫn đông đảo tùy tùng đến dùng bữa. Họ ăn uống rất vội vàng, rồi nói rằng đã tám mươi năm không được ăn. Tần vương giải thích rằng khi còn sống, ông đã mắc nhiều lỗi lầm, trong đó có việc diệt nhà Đông Chu và làm đứt dòng tế tự họ Cơ. Vì lúc sinh thời chưa gặp Phật pháp để sám hối, ông chỉ dựa vào việc ban ân xá và khoan dung với dân chúng để mong bù đắp, nhưng công đức không đủ, tội báo vẫn chưa hết. Nhờ được một bữa cúng dàng này, ông mới có thể phải chờ thêm bốn mươi năm nữa mới được ăn. Tần vương còn chỉ cho sư Anh những người đi theo mình, trong đó có Bạch Khởi và Vương Tiễn, vì giết hại quá nhiều người nên tội báo chưa dứt; Trần Chẩn thì vì gian trá, đa nghi nên cũng đang chịu báo ứng. Sư Anh hỏi tại sao họ không tự tìm người xin ăn mà lại cam chịu đói khổ. Tần vương đáp rằng người có lòng từ bi rất ít, hơn nữa người sống không thể nhìn thấy họ; ông là người thuộc hàng tôn quý nên cũng không thể tùy tiện gây họa cho người khác. Khi nhìn thấy rượu thịt do Huệ Giản chuẩn bị, ông còn tỏ vẻ hổ thẹn và cảm tạ. Trước khi rời đi, Tần vương cho biết ngôi mộ lớn ở phía đông kinh thành, ngoài cửa Thông Hóa, vốn là mộ của mình nhưng người đời lầm tưởng là mộ Lã Bất Vi. Ông nói trong mộ vẫn còn những vật quý chưa bị quân Xích Mi lấy mất và muốn đem chúng đến đền đáp sư Anh. Sư Anh từ chối, nói mình là người xuất gia, không có nhu cầu sử dụng những vật chất ấy và cũng không phải người đào mộ để lấy của. Tần vương bèn chắp tay tạ từ rồi rời đi.”

Câu chuyện qua đó thể hiện quan niệm nhân quả báo ứng của Phật giáo: người chết vẫn chịu nghiệp báo do những hành vi khi còn sống gây ra, trong đó những bữa cúng dàng của người sống có thể giúp họ tạm thời giải thoát khỏi cảnh đói khổ. Đồng thời, câu chuyện cũng dùng hình ảnh các nhân vật lịch sử như Tần Trang Tương Vương, Bạch Khởi, Vương Tiễn và Trần Chẩn để cụ thể hóa cảnh giới của “hạ thú”, nhấn mạnh rằng quyền quý, công danh hay địa vị khi còn sống không thể thoát khỏi sự phán xét của nghiệp báo sau khi chết.

1 BÀI HAI CHỦ ĐỀ: CHUYỆN “NHÀ NGÀI BÁO” - VÀ “GIẢI ẢO” CHUYỆN VUA ĐINH LÀ THẦN TRÙNG

Trong thờI gian vừa qua thì page ĐạI Việt Thần ThoạI có đăng tảI bàI viết về nộI dung “vua Đinh là thần trùng” và nhận được khá nhiều ý kiến tráI chiều. Thực ra hiện tượng này xảy ra chủ yếu là do khác biệt về tệp đốI tượng. Nếu như bổn page đăng câu chuyện này, thì ắt hẳn đây lạI là câu chuyện tương đốI xuôi chiều, vì hầu như ông thầy cúng nào cũng biết thuyết ấy cả. Tuy nhiên vớI đốI tượng độc giả trẻ của page ĐạI Việt Thần ThoạI thì thông tin này có vẻ khá mớI lạ. Lại thêm thông tin được đăng tải đúng dịp phim Hộ linh tráng sĩ ra đời nên các ý kiến lại càng sôi nổi. 

các ý kiến phản hồI về thông tin ấy, có thể tóm tắt trong mấy xu hướng/ luồng ý kiến như sau:

1. Nhóm xem đây là sai lầm do người dịch: Việc dịch các tài liệu Hán tự không có chấm phẩy rồi tự thêm vào có thể dẫn đến việc hiểu sai lệch (ví dụ như đoạn "họ Đoạn tên Huyền Đinh, Tiên Hoàng ma vương" bị đời sau thấy ba chữ "Đinh - Tiên - Hoàng" rồi phản ứng gán ghép vào vua Đinh). Từ đó, người ta tự thêu dệt và tìm bằng chứng để giải nghĩa cho giả thuyết này.

2. Nhóm phản đối, cho là sự thêu dệt, báng bổ và vô tri: Ngược lại, có ý kiến gay gắt lên án quan điểm này, cho rằng đây là hành vi báng bổ. 

Có ý kiến cho rằng các tài liệu liên quan đến vấn đề này chỉ là sách dã sử, hay các sách của thầy bùa, không chính thống. cái chết của vua Đinh và Đinh Liễn do Đỗ Thích sát hại vốn chỉ là chuyện bình thường vào thời kỳ lịch sử hỗn loạn đương thời. 

Lại có ý kiến: Vua Đinh Tiên Đế là hoàng đế của nước Việt, là bậc tổ tông, vị anh hùng dân tộc được thờ phụng và tôn vinh, nhưng qua miệng lưỡi của những kẻ khác lại bị biến thành ma quỷ. 

Cũng có thể xếp cùng loại với nhóm "báng bổ" thì có ý kiến cho rằng thuyết này là sản phẩm của Trung Quốc sáng chế ra, mang tính chất tấn công văn hoá nước khác (và so sánh với thuyết Hoá hồ).  

Hay có ý cho rằng: Truyền thuyết thần trùng đã có từ thời xa xưa hơn nữa rồi. Việc gán ghép vua Đinh Tiên hoàng đầu thai làm thần trùng là gán ghép vô căn cứ. 

Xin bàn luận vài ý như sau:

Thứ nhất về ý kiến cho rằng đây là "lỗi dịch" do ngày xưa không có chấm phẩy, ...: xin khẳng định ý kiến này không có căn cứ. Thứ nhất, ngày xưa các văn bản vẫn cỗ chỗ dùng khoanh, phẩy để ngắt câu, ngắt đoạn (gọi là cú đậu). Thứ 2, như trong hình câu không thể ngắt nghĩa theo cách khác được, mà bắt buộc sẽ là: "Nhị địa xa thần sát, Thế Hưng Đại thần, Đinh Tiên/ Thiên Hoàng Đại Quỷ Vương". 


Thứ hai: thuyết vua đinh là thần trùng có thực sự là báng bổ tiền nhân

Theo như tôi nhận thấy, do liên quan đến nhân vật lịch sử khai quốc nên đánh giá của mọi người có phần khá vội vã, phiến diện và cực đoan. Nhưng đọc giả thử tự bình tâm suy xét lại: Là thần trùng có thực sự xấu? Không! Do quan niệm giản đơn, nhiều người cho rằng thần trùng là các tinh linh xấu, phẩm cấp thấp, chuyên làm chuyện tàn ác cho nên việc để vua đinh trở thành thần trùng quả là một việc "báng bổ". tuy nhiên, nhìn vào cấu trúc thần thực tế trong tín ngưỡng việt nam ta lại thấy vấn đề hoàn toàn khác. một bộ thần bao giờ cũng phân ra làm thần "tướng" và thần "binh". thần tướng là chỉ huy còn thần binh mới là tay chân đi làm (thần thiêng nhờ bộ hạ). hiện tượng "phân cực bộ thần" này xuất hiện phổ biến điển hình như là các bộ: ôn thần, hoả thần, trùng tang, âm binh, ... nghe tên thì tưởng là thần hạ lưu, nhưng các thần "tướng" trong các bộ thần này đa số đều là các thần có xuất thân, thần tích "không phải dạng vừa đâu". Tứ Châu tăng già thống lĩnh ôn bộ, Hàn Tín, Chung Quỳ thống lĩnh Trùng tang, Sơn Tiêu Độc Cước, Tam Danh, Tề Thiên, Ngũ Lôi sứ tướng thống lĩnh âm binh ... Hơn nữa, theo quan niệm "ác giáng tai, thiện giáng phúc" các bộ hung thần này reo rắc tai ương đến nhân gian không phải vì đó là sở thích của họ thích làm như vậy, mà đó là hành động thực thi nhân quả nghiệp báo, theo lệnh trời hành binh hành bệnh, bắt người trần gian. 

Thư ba: về nhóm ý kiến cho là sự thêu dệt và vô tri

Thực tế là xung quanh bất kì nhân vật lịch sử nào mà chẳng có những câu chuyện mang tính chất hoang đường, huyền hoặc rồi được lưu truyền trở thành dã sử?  Có những câu chuyện hoang đường do dân gian hiếu kì thêu dệt. có những câu chuyện do chính bản thân hoặc bộ hạ của nhân vật ấy cố tình tạo ra để nâng cao tính chính danh (như câu chuyện sấm truyền liên quan đến Lý Công Uẩn). Cũng có câu chuyện do phe cánh đối lập đặt ra để hạ bệ nhân vật đang nắm quyền (Như thuyết âm mưu về Nhà CHu và nhà Thương, Vấn đề có hay không sự tàn bạo ngang ngược của Lê Long ĐĨnh, ...)

Tôi vẫn luôn nhấn mạnh với mọi người, nghiên cứu học thuật nó khác với tuyên truyền chính trị. Thực vậy! tuyên truyền chính trị muốn hiệu quả thì phải dựa trên sự thật, nhưng sự thật ấy là sự thật có chọn lọc để lợi cho sự tuyên truyền. Vì vậy, tuy nó là sự thực nhưng nhiều khi nó mang tính chất đơn giản, đơn tuyến, đơn điệu và nhiều khi còn đơn phương. Ngược lại, nghiên cứu học thuật cần góc nhìn đa chiều hơn. Người nghiên cứu cần tiếp thu mọi nguồn ý kiến. Vì những câu chuyện tưởng như vô tri đó lại cho ta biết được: dư luận đương thời về nhân vật qua đó biết được quan niệm dân gian về thiện ác, báo ứng, giá trị quan, thẩm mỹ quan, ... đương thời. Lấy ví dụ ngay trên những câu chuyện được kể ra trong những cmt phản đối để làm ví dụ thử. Ví dụ có cmt bình luận: "Đạo giáo vốn có tiếng là viết ra nhiều thuyết để hạ thấp các tôn giáo khác, chẳng hạn như thuyết Lão Tử hoá hồ. Đến một nhân vật lịch sử có sức ảnh hưởng như Gautama Buddha còn bị Đạo giáo hạ thấp, thì cũng nên thận trọng với thông tin gọi vua Đinh là thần trùng.". Xin thưa với bạn, tuy là Phật giáo đồ và không công nhận thuyết Hoá Hồ, nhưng khi nghiên cứu lịch sử đạo giáo hay lịch sử văn học đạo giáo, tôi vẫn không thể bỏ qua việc nghiên cứu thuyết này. Việc sáng tác thuyết hoá Hồ không thể hiện khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa Đại Hán trong tôn giáo. Vậy thì việc nhà Đường, nhà Nguyên xuống chiếu huỷ bỏ kinh này có ý nghĩa như thế nào với dân tộc Hán và tính chính thống của triều đình? Việc xuất hiện các văn bản phái sinh từ hoá hồ kinh thể hiện điều gì trong lịch sử Phật - Đạo giáo Trung Quốc, ... vân vân, ... Nếu như đứng trên lập trường Phật tử, triệt để nói không với nghiên cứu thuyết hoá Hồ sẽ khiến Phật giáo giới kém hiểu biết về một phần lịch sử của chính mình

Và cuối cùng, kết hợp góc nhìn ở ý kiến 2 và 3, xin nói thêm một điều như sau: Một vị vua, mà có trở thành cô hồn, dã quỷ hay yêu ma thì đó cũng là chuyện bình thường, không có việc gì cần phải phản ứng một cách dữ dội hay coi đó là "báng bổ". Theo quan niệm Phật giáo, trong kinh A hàm có nói đến 4 điều mà phàm nhân không nên bàn trong đó có bàn về quả dị thục (tức là bàn về việc đời này làm gì, đời sau nhận quả báo gì). Vì vậy, người trần chỉ biết ông ấy có công, chứ ai biết khi "một hậu", âm ty xử phán ra sao, thăng trầm 3 cõi thế nào, 33 cửa trời hay 18 cửa ngục??? Người ta thường nói, nhất tướng công thành vạn cốt khô, nhìn trên bình diện lợi ích đất nước dân tộc, thì có thể vị vua đó có công lao, và cả công đức, nhưng trên quan niệm chúng sinh bình đẳng thì không tránh khỏi nghiệp báo. Chính vì thể trong triệu thỉnh cô hồn vẫn có đường: "lịch triều đế chúa", "tiền vương hậu bá", "anh hùng tướng soái", "công thần tể phụ", ... Và cũng xin mượn đó giới thiệu thêm một câu chuyện nữa vào trong series "nhà ngài báo" của page - đó là câu chuyện Tần Trang Tương Vương hoá làm cô hồn báo cho Anh Công thiền sư làm đàn Thuỷ Lục. Trong Phật Tổ Thống Ký của Chí Bàn, Thích Môn chính thống của Tông Giám , Thủy Lục đại trai linh tích ký của Dương Ngạc, Tống cao tăng truyện, Đường thư, Lưỡng kinh tân ký, ... đều có ghi lại câu chuyện này: 

Chùa Pháp Hải ở phía nam cửa Tây Kinh Triệu vốn là phủ đệ của Thanh Thủy Công Hạ Bạt Hoa, Tổng quản Giang Lăng thời Tùy. Năm Khai Hoàng thứ bảy (587), Sa môn Pháp Hải xả bỏ phủ đệ để lập chùa, vì vậy chùa được đặt tên là Pháp Hải. Đời Đường, chùa có Thiền sư Anh, một vị tăng có giới đức cao, lại có khả năng nhìn thấy quỷ vật. Tự chủ Huệ Giản từng nhiều lần nhìn thấy hai người đi đứng không chạm đất, vào viện của sư Anh nên lấy làm lạ. Sư Anh giải thích rằng đó là sứ giả của Tần Trang Tương Vương, người đã chết từ lâu. Tần vương vì biết sư Anh có lòng từ bi nên sai người đến xin một bữa cúng dàng cho mình và khoảng ba trăm tùy tùng. Huệ Giản cũng giúp chuẩn bị rượu thịt. Đến ngày hẹn, Tần Trang Tương Vương quả nhiên dẫn đông đảo tùy tùng đến dùng bữa. Họ ăn uống rất vội vàng, rồi nói rằng đã tám mươi năm không được ăn. Tần vương giải thích rằng khi còn sống, ông đã mắc nhiều lỗi lầm, trong đó có việc diệt nhà Đông Chu và làm đứt dòng tế tự họ Cơ. Vì lúc sinh thời chưa gặp Phật pháp để sám hối, ông chỉ dựa vào việc ban ân xá và khoan dung với dân chúng để mong bù đắp, nhưng công đức không đủ, tội báo vẫn chưa hết. Nhờ được một bữa cúng dàng này, ông mới có thể phải chờ thêm bốn mươi năm nữa mới được ăn. Tần vương còn chỉ cho sư Anh những người đi theo mình, trong đó có Bạch Khởi và Vương Tiễn, vì giết hại quá nhiều người nên tội báo chưa dứt; Trần Chẩn thì vì gian trá, đa nghi nên cũng đang chịu báo ứng. Sư Anh hỏi tại sao họ không tự tìm người xin ăn mà lại cam chịu đói khổ. Tần vương đáp rằng người có lòng từ bi rất ít, hơn nữa người sống không thể nhìn thấy họ; ông là người thuộc hàng tôn quý nên cũng không thể tùy tiện gây họa cho người khác. Khi nhìn thấy rượu thịt do Huệ Giản chuẩn bị, ông còn tỏ vẻ hổ thẹn và cảm tạ. Trước khi rời đi, Tần vương cho biết ngôi mộ lớn ở phía đông kinh thành, ngoài cửa Thông Hóa, vốn là mộ của mình nhưng người đời lầm tưởng là mộ Lã Bất Vi. Ông nói trong mộ vẫn còn những vật quý chưa bị quân Xích Mi lấy mất và muốn đem chúng đến đền đáp sư Anh. Sư Anh từ chối, nói mình là người xuất gia, không có nhu cầu sử dụng những vật chất ấy và cũng không phải người đào mộ để lấy của. Tần vương bèn chắp tay tạ từ rồi rời đi.

Câu chuyện qua đó thể hiện quan niệm nhân quả báo ứng của Phật giáo: người chết vẫn chịu nghiệp báo do những hành vi khi còn sống gây ra, trong đó những bữa cúng dàng của người sống có thể giúp họ tạm thời giải thoát khỏi cảnh đói khổ. Đồng thời, câu chuyện cũng dùng hình ảnh các nhân vật lịch sử như Tần Trang Tương Vương, Bạch Khởi, Vương Tiễn và Trần Chẩn để cụ thể hóa cảnh giới của “hạ thú”, nhấn mạnh rằng quyền quý, công danh hay địa vị khi còn sống không thể thoát khỏi sự phán xét của nghiệp báo sau khi chết.









Đăng nhận xét

0 Nhận xét